Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2011

Sự kiện văn học: Văn học chiến tranh đang ở đâu?

Thế Quân



Trong đời sống hiện nay, hàng ngày chúng ta sống trong tình trạng ngập lụt thông tin, kể cả các thông tin về chiến tranh, từ Internet, từ truyền hình, truyền thanh và từ báo chí đủ loại. Chúng ta nghe ý kiến, bình luận, phát biểu của phe bênh cũng như phe chống chiến tranh cùng với bao nhiều thứ suy đoán này nọ về nguyên nhân, hậu quả của nó. Chúng ta nhìn, nghe những buổi họp báo tại tòa Bạch Ốc, chứng kiến những cuộc biểu tình trên đường phố chống hoặc ủng hộ chiến tranh; chúng ta nghe các ứng cử viên, các cựu viên chức chính phủ tố cáo này nọ chính sách của Tòa Bạch Ốc, vân vân và vân vân. Tóm lại, không thiếu những thông tin nóng sốt về chiến tranh.

 
        Nhưng văn chương chiến tranh thì ở đâu? Nói khác đi, đâu là những tác phẩm bước ra ngoài những tranh cãi có tính thời sự để đi sâu vào ý nghĩa sâu xa của những cuộc giết người xảy ra hàng ngày tại nhiều nơi trên trái đất hiện nay và diễn tả cảm thức cá nhân về chúng?

        Ðó là câu hỏi mà Leo Braudy - nhà báo và là tác giả của một tác phẩm viết về chiến tranh “From Chivalry to Terrorism” (Knopf, 2003) - trong một bài viết có tựa đề “Literature of War Missing in Action” đăng trên “LA Times” ngày 8/3/2004. Những ý kiến sau đây được triển khai từ bài viết nói trên của Braudy.

        Có thể văn chương khu vực Ấn-Âu (Indo-European) là thứ văn chương bắt đầu với những tác phẩm viết về chiến tranh. Từ “Eliad” cho đến “Aeneid”, “Mahabharata” rồi những thiên anh hùng ca vùng băng đảo (Iceland), người chiến binh (warrior) là khuôn mặt hàng đầu được đưa vào như là nhân vật chính. Họ được ngưỡng mộ khi chiến đấu, được thương tiếc khi ngã xuống và được vinh danh hết thế hệ này đến thế hệ khác. Ðiều đáng nói là tất cả, nếu không hầu hết, những chiến binh trong các tác phẩm đó đều xuất thân từ giai cấp lớp trên. Phần nhiều trong số đó là những vị thần hay ít nhất cũng là nửa thần nửa người (demi-gods). Tác giả - tức là các nhà thơ - đã trở thành bất tử vì đã sáng tác những bài thơ ca ngợi năng lực phi thường của họ.         
                     
                                      
Mọi chuyện thay đổi hẳn khi người ta phát minh ra thuốc súng vào thế kỷ 15 và 16. Súng ống ra đời thay cho gươm giáo và những bộ áo giáp mà bất cứ ai cũng có thể sử dụng. Sức khỏe, tài nghệ cá nhân trở thành vô ích. Dù người chiến binh to, khỏe đến đâu - kể cả những thần hay bán-thần - cũng đều có thể bị giết một cách dễ dàng bởi một kẻ thù tầm thường nhất. Kể từ đó, người chiến binh - vẫn xuất hiện trong các tác phẩm văn chương - nhưng sự tôn kính mà ngày xưa người ta dành cho họ càng ngày càng giảm bớt. Họ, trong các truyện của Shakespeare chẳng hạn, gồm đủ loại người, từ quan đến dân, kể cả những phần tử cùng khổ và tội phạm. Ðiều đáng lưu ý là cho đến lúc đó, văn chương chiến tranh đều được viết bởi những người không hề tham gia chiến đấu.
 
        Ðến thế kỷ 17, mọi chuyện lại một lần nữa thay đổi. Theo Braudy thì “Simplicissimus” của Johann J. Grimmelshausen (Ðức) có lẽ là tác phẩm viết về chiến tranh đầu tiên, trong đó, tác giả viết về những kinh nghiệm chiến đấu cá nhân của mình trong cuộc chiến tranh 30 năm (1618-1648) mà ông tham gia. Tác phẩm cho thấy một người lính bình thường có thể xoay sở để sống sót thế nào trong cuộc chiến đấu: có mưu mẹo, biết can đảm đúng lúc và nếu cần, phải biết hèn nhát. Một nhân vật gồm nhiều yếu tố phức tạp như thế, theo Braudy, đã báo trước cho sự hình thành những nhân vật phản diện (anti-hero) trong các tiểu thuyết hư cấu tương lai.

        Dần dần, khi những người không chuyên nghiệp tham gia càng lúc càng nhiều vào những cuộc chiến tranh cách mạng ở Hoa Kỳ và Pháp, ta thấy số lượng những hồi ký chiến tranh và các hình thái khác nhau của chiến tranh trong văn chương và kịch nghệ đã gia tăng. Nhưng phải đến Ðệ Nhất Thế Chiến rồi tiếp đó là Ðệ Nhị Thế Chiến, ta mới chứng kiến sự nở rộ của văn chương chiến tranh bởi vì đây là lần đầu tiên, rất nhiều người có học đã trực tiếp cầm súng. Họ chiến đấu và viết. Viết về họ, viết về đồng đội, viết về kẻ thù. Viết để tán trợ, viết để lên án hay viết để than thở, để triết lý, để vân vân. Ngoài hồi ký, phóng sự, ta còn thấy vô số truyện ngắn, truyện dài và thơ viết về chiến tranh. Từ đó ra đời những tác phẩm văn chương lớn, chẳng hạn như “Goodbye to All That” của Robert Graves, “All Quiet on the Western Front” của Erich Maria Remarques hay “A Farewell to Arms” của Ernest Hemingway, vân vân. Hình ảnh chiến tranh cũ với các chiến binh giác đấu anh hùng đã được thay thế bằng hình ảnh những người lính gian khổ thân hình dính đầy bùn đất dưới các giao thông hào. Và số lượng độc giả đọc các tác phẩm về chiến tranh cũng gia tăng. Văn chương chiến tranh bây giờ không còn chỉ diễn tả về những cuộc chiến đấu không thôi mà chứa đựng vô vàn mối quan tâm sâu xa hơn về văn hóa, về con người, về thân phận. Người ta mong được đọc những tác phẩm văn chương chiến tranh lớn đề cập đến con người trong cuộc chém giết với những đau thương, mất mát, đổ vỡ... hơn chỉ là những thông tin đơn giản về chiến tranh.

        Sau Ðệ Nhị Thế Chiến, nhiều tác phẩm như thế ra đời, chẳng hạn như “The Naked and the Dead” của Norman Mailer hay “From Here to Eternity” của James Jones và bao nhiêu nhà văn khác. Rồi đến cuộc chiến tranh Việt Nam, người ta chứng kiến văn chương chiến tranh phát triển với nhiều tác phẩm đa dạng và đầy ý nghĩa. Chúng trực tiếp góp phần vào sự thắng bại của cuộc chiến. Nhưng có lẽ đó là giai đoạn cuối cùng của thể loại văn chương chiến tranh (ở Hoa Kỳ). Thực ra, bây giờ ta vẫn còn thấy có những phim, truyện về chiến tranh, nhưng không phải là những cuộc chiến tranh đang diễn ra (như ở Irak hay Afghanistan hay ở Phi Luật Tân) mà là về những cuộc chiến tranh xưa cũ. Những nhà văn và nhà làm phim có vẻ như đang áp dụng một hình thức diễn tả cổ điển, dùng chúng như những ẩn dụ cho thời hiện tại: “Master and Commander”, “The Last Samurai”, “Cold Mountain”... Các nỗ lực muốn làm cho văn chương đương đại trở thành một cái gì thúc giục chúng ta ủng hộ hay chống chiến tranh không còn được mấy ai chú ý. Và dường như không phải tình cờ mà hiện nay quân đội và vai trò của nó càng lúc càng ít lôi kéo sự quan tâm của công chúng Hoa Kỳ.

        Có hy vọng gì không sẽ có một tác phẩm văn chương về cuộc chiến tranh Irak? Không ai tin là có. Từ những thiên sử thi ngày xưa cho đến những tác phẩm chiến tranh Ðệ Nhị Thế Chiến, văn chương chiến tranh đã phản ảnh nỗ lực của một xã hội muốn hiểu rõ sự bạo động nhân danh một ý tưởng, một chính nghĩa tôn giáo hay một quan điểm chính trị. Nhưng những cuộc chiến tranh nho nhỏ bây giờ mà chúng ta can dự vào chẳng có mấy tiếng vang, bất kể thực chất của nó như thế nào. Thay vào đó, với lượng thông tin tràn ngập, chúng ta trở thành những tay đoán mò (spin doctors) chuyên ngồi phân tích những mưu mánh chính trị đàng sau hậu trường, các tổn phí trang thiết bị chiến tranh và chiếm đóng, nhu cầu kiểm soát kinh tế và tài nguyên, các kỹ thuật mới, vân vân và vân vân. Những tác phẩm viết chiến tranh hay nhất trong thời gian qua là “Black Hawk Down” của Mark Bowden, và “Jarhead” của Anthony Swofford lại không phải là tác phẩm văn chương. Cuốn đầu mô tả số phận không may của sứ mạng của binh lính Mỹ ở Somalia, và cuốn sau là hồi ký của một thanh niên tham gia chiến tranh vùng vịnh. Cả hai đều hay nhưng chẳng có gì dính dáng đến loại văn chương chiến tranh như chúng ta từng thưởng thức, của Mailer hay Hemingway chẳng hạn. Tác phẩm mới đây về chiến tranh Irak là Jessica Lynch, cũng thế, chẳng hề mang chút dấu ấn văn chương, mà chỉ là một loại “Left No Man (Woman) Behind”, một loại chuyện thần tiên kể về người phụ nữ cô thế.

        Có lẽ vì những cuộc chiến tranh bây giờ là những cuộc chiến nhỏ bé, ngắn ngủi, tự động (automated). Ðiều đó khiến bản chất của chiến tranh và bản chất của người lính đã thay đổi. Chiến tranh bây giờ hình như mất những những gắn bó mật thiết với xã hội như một toàn thể và trở thành một thứ công việc thường lệ của những người chuyên nghiệp, Braudy kết luận.

Thế Quân
(Nguồn: Bản thảo “Những sự kiện văn học”)

Tham khảo:
- Leo Braudy, Literature of War Missing in Action, Los Angeles Times 8/3/2004


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét