Thứ Hai, 31 tháng 10, 2011

Ghé thăm các Blogs: 31/10/2011


Bạn đọc hẳn đã quen với bút danh Lê Trung Thành trong loạt bài về Vinashin có tính chất khai mào cho những phát hiện đầu tiên và rất chi tiết trên BVN về thực chất tình trạng hư hỏng của Tập đoàn mang danh “quả đấm thép” đã khiến Nhà nước bị thua lỗ một vố quá đậm mà không lường trước. Lần này Lê Trung Thành lại đưa ra một vài ý kiến của người trong ngành đối với những việc làm “gây sốc” của Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng. Rất mong đây là những ý kiến “trong chăn” để chúng ta cùng nghiền ngẫm suy xét. - Bauxite Việt Nam

Mới nhận chức vài ba tháng nhưng ông tân Bộ trưởng Giao thông vận tải (GTVT) Đinh La Thăng đã làm tốn khá nhiều thời lượng của báo viết, báo hình. Các trang mạng có tới dăm chục bài dài ngắn phân tích câu nói, việc làm của ông Thăng. Chê cũng nhiều, khen cũng lắm. Nghĩ cho cùng, ông đang hút dư luận xã hội về mình như một đề tài khá hiếm hoi có sức hấp dẫn giữa lúc xã hội bộn bề gian khó, kinh tế suy thoái. Nhiều tờ báo khai thác triệt để chuyện ông Thăng để khỏa lấp sự thiếu thốn thông tin “giật gân” mong có thêm độc giả…


Vừa được Quốc hội phê chuẩn với hơn 70% số phiếu, ông Đinh La Thăng đã đòi ngay quyền tự quyết, quyết ngay lập tức giống như người ta đi buôn vàng trên sàn kẻo lỗ lã ập tới nếu không kịp thời phát giá. Rồi ông bảo ông là tư lệnh ngành ông, phải “máu lửa”, phải “sục sôi” lao vào công việc, đưa ra nhiều ý tưởng kèm theo thời hạn như là “đến cuối năm 2012 giảm ùn tắc”, “phải tiêu hủy xe máy tham gia đua xe trái phép”… ông hăm hở đi kinh lý từ Bắc vào Nam, lên tới đất Lâm Đồng rồi trở ra miền Trung sờ gáy dự án cải tạo nâng cấp sân bay Đà Nẵng. Ông chỉ dùng một “đặc phái viên” từ Tổng công ty Cảng hàng không miền Nam bay ra ngay Đà Nẵng nhưng người ta đồn ầm lên là ông “trảm tướng” ngay tại trận địa. Oan cho ông quá mặc dù chính ông đã giải thích chuyện này.

Chưa xong chuyện cả Hà Nội ồn ào việc ông hai lần lên xe buýt “thử xem” người dân vất vả, chờ chực, chen lấn nhau vào giờ cao điểm như thế nào thì mấy triệu dân thủ đô lại nhốn nháo với dự định đổi giờ làm việc, giờ học. Mấy chị em có con lo lắng chẳng biết xoay xở ra sao nếu ý kiến của ông được Thủ tướng chấp nhận??? Thiên hạ vừa nguôi ngoai một chút sau khi ông Bí thư Thành ủy Hà Nội cho rằng cần phải nghiên cứu thận trọng rồi mới đổi giờ… thì bùng lên cái chỉ thị 6630 của ông ban hành ngày 17.10.2011 cấm các cán bộ diện Bộ GTVT quản lý “chơi gôn”. Ông Vụ trưởng Tổ chức cán bộ tát nước theo mưa, hăng hái trả lời báo chí rằng ông sẽ “bí mật” theo dõi xem ai chống lệnh để xử lý kỷ luật thích đáng làm nhiều người liên tưởng đến cái bộ của ông sẽ tuyển thêm nhân viên đứng trước cửa nhà mấy ông cấp vụ ngày thứ Bảy, Chủ nhật và sẵn sàng bám theo để báo ngay cho Vụ tổ chức rằng họ có đến sân gôn hay không?

Trong vài tuần lễ, ông Bộ trưởng đưa ra nhiều “món ăn” quá nên có thể hợp khẩu vị người này mà không hợp khẩu vị người khác. Chơi gôn chẳng có tội tình gì bỗng nhiên thành vấn đề đạo đức, thành “phân biệt giai cấp”. Tôi có hai người con, chiều tối ăn uống xong là chúng vác túi gậy ra sân tập… 
thứ Bảy, Chủ nhật nào rảnh rỗi (không phải cứ ngày cuối tuần là không bận bịu gì), mấy anh em chúng rủ bạn bè đi chơi từ mờ sáng đến chiều tối, tôi thấy chúng khi trở về thoải mái đầu óc lắm, công việc trong tuần cứ chạy vèo vèo (mà giá trả cho việc mỗi lần vào sân dẫm lên cỏ thì rẻ thôi, có nhiều như người ta tưởng tượng đâu)! Nhưng thôi, con tôi chỉ là nhân viên làng nhàng, chẳng liên quan gì đến hàng ngũ Vụ, Viện mà ông Thăng cấm nên nó cứ chơi theo ý thích thôi.

Có lẽ khi về cơ quan Bộ GTVT ở số 80  phố Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, ông Thăng được tấu trình về đám cán bộ có máu mặt dưới quyền ông bỏ việc, bỏ nhiệm sở đi chơi gôn, ngày nghỉ lại càng “máu” đi. Cũng có thể ông lại nghe kể chúng dám lấy xe công vọt lên Đồng Mô, Tam Đảo du hý cùng mấy em chân dài, chân ngắn… nên ông ra chỉ thị “nội bộ” này… Nhân cái đà chỉ “cấm” trong ngành GTVT, những ông bà nông dân bị xua khỏi ruộng vườn và dăm ba vị không thích trò chơi quý tộc đã nêu ý kiến đề nghị cấm công chức các ngành khác chơi gôn vì dễ tham nhũng, tốn tiền đạp lên cỏ, tốn tiền mua gậy, tốn tiền xăng xe … Đủ các loại phí tổn cộng với việc mất thời gian lẽ ra phải dành xuống “cơ sở”, xuống “địa phương” chỉ đạo sản xuất, kinh doanh!

Hỡi ôi, nếu như ông Thăng có trong tay bản danh sách các gôn thủ của Bộ GTVT thì hay biết mấy! Bao nhiêu năm gắn bó với ngành, biết bao nhiêu thế hệ đến rồi đi, có mấy người cấp Vụ, Cục, cấp Viện biết chơi gôn? Giá mà ông cấm chơi tenis thì còn có người buồn chứ cấm chơi gôn ở Bộ thì hình như chẳng đụng đến hết năm ngón tay? Ở các doanh nghiệp cỡ 90, 91 cũng chẳng hơn gì. Hoa lá cành nhất, phải tiếp xúc, phải ngoại giao như Tổng công ty Hàng không Việt Nam thi thoảng tổ chức giải gôn thu hút bạn bè quốc tế cũng chỉ có vài ba vị “biết” cầm gậy cho phải phép. Người chơi khá, chơi được thì còn trẻ, chức tước thấp thua mấy ông lãnh đạo.

Người ta đồn đoán ông là cựu kế toán kiêm cán bộ Đoàn, thích vai thủ lĩnh hơn vai chính khách (hoặc chưa quen) nên ông thích gây sự chú ý của dư luận. Tôi không nghĩ vậy. Ông không chuyên ngành GTVT nhưng ông vốn là chủ một tập đoàn kinh tế hùng mạnh, lắm tiền nhiều của bậc nhất quốc gia. Vì thế ông cũng có kinh nghiệm xử lý các vấn đề hệ trọng, ông cũng có tài ăn nói, tài chỉ huy nên hy vọng rằng, ông sẽ tự điều chỉnh để “tái cơ cấu” hoạt động của ngành GTVT quá mới mẻ đối với ông.

Cũng giống như nhiều ngành khác, ngành GTVT đang phơi bày thực trạng trì trệ, quan liêu, yếu kém mọi phương diện do đó ông nhìn ra ngay, nhìn với tâm trạng bức xúc thậm chí có thể tức giận, muốn đập đi thật nhanh. Những người tiền nhiệm xa xa như cố Bộ trưởng Bùi Danh Lưu, cựu Bộ trưởng Lê Ngọc Hoàn, Đào Đình Bình và mới đây là ông Hồ Nghĩa Dũng đều thấy cả. Chỉ có điều, người thì sửa dần, người không sửa, người chịu “sống chung với lũ” nhưng ai cũng thừa nhận cái ghế Bộ trưởng GTVT là cái ghế nóng. Nóng do cơ chế, nóng do con người thổi lửa vào. Biết bao chuyện động trời đều xảy ra ở ngành giao thông. Đất 80 Trần Hưng Đạo là đất dữ nên hình như ông muốn chuyển “nó” xuống tận Mỹ Đình để nhường lại cho dầu khí. Nếu thành sự thật thì hay lắm đấy! Bộ GTVT tiên phong dẫn đầu làm gương cho thiên hạ biết là cần phải giảm ngay lượng người và xe ra vào các khu phố trung tâm giờ cao điểm! Hơn nữa, Bộ GTVT cũng sẽ được ca tụng vì đã tự nguyện trả lại “khu đất kim cương” để đổi lấy khu đất “màu đồng”, tiết kiệm cho công quỹ hàng chục, hàng trăm ngàn cây vàng. Và biết đâu, ở nơi mới, rộng thoáng, cao ráo, phong thủy điều hòa sẽ tăng sức bật cho ông trong vài năm tới?

Quay trở lại đề tài cấm chơi gôn “nội bộ”, tôi tin là chẳng có ai phản ứng với chỉ thị ông đã ký. Cán bộ lãnh đạo cấp Bộ quản lý đều là đảng viên “gộc” rồi. Mười mấy điều cấm trong đó cấm mát xa, cấm hát karaoke là những thú vui của đàn ông họ còn không bàn cãi thì thêm việc ông cấm chơi gôn cũng không làm họ buồn phiền. Ngày nghỉ, ngày làm, họ đều có lịch kín đặc, tập thể dục buổi sáng còn chẳng có thời gian huống gì ra sân đánh cầu lông, quần vợt, đánh gôn!

Ông mới về, chưa thuộc hết tên, chưa quen hết mặt nhưng tôi dám khẳng định với ông là ông có một dàn cán bộ rất chi là mẫn cán đấy!

Có không ít ông Tổng giám đốc quản lý dự án sâu sát đến “từng chi tiết” của gói thầu. Ông ta cũng dành nhiều thời gian đàm đạo với các nhà thầu muốn ghé chân vào. Ông ấy còn bài binh, bố trận chu đáo, hợp lý và sắp xếp để rồi ai cũng có phần vui vẻ cả. Tiền trao cháo múc. Họ lợi, ông ta cũng lợi, chuyện kín như bưng… Đố cơ quan thanh tra, kiểm tra nào moi ra được!

Lại có ông nhiệt tình hơn, có chế độ “hậu mãi” cho các nhà thầu không thể chê vào đâu được. Này nhé, ông ta “chỉ” chỗ ký hợp đồng thí nghiệm vật liệu, thí nghiệm đất, đá, chỉ chỗ mua chất phụ gia, chỉ chỗ mua vải địa kỹ thuật. Chu toàn mạng lưới dịch vụ đến thế là cùng và mấy ông phó giúp việc không còn cháo mà húp. Ông Bộ trưởng tìm đâu ra loại cán bộ tuyệt vời đến thế!

Nhân chuyện ông muốn hạn chế ô tô “cá nhân”, tôi thấy ông cần có văn bản tuyên dương các vị lãnh đạo cấp Cục, Vụ, Viện mới phải đạo. Họ thừa mứa tiền đồng, tiền đô, tiền “oi”, mua chiếc xe bốn bánh vài ba tỷ là chuyện nhỏ nhưng họ không mua, e rằng chạy ra đường làm tắc thêm đường phố. Bởi thế họ dùng xe công  cho nó “lành”. Ông đừng khắt khe quá kẻo họ giận dỗi, vác tiền mua xe riêng thì đường Hà Nội càng thêm tắc!

Bên ngành dầu khí, ông được ngợi ca là người biết “truyền lửa”, biết khích lệ tinh thần, thế ở ngành GTVT, ông có tiếp tục “truyền lửa” không? Mong sao, nhiệt huyết sục sôi từ ông sẽ ít nhất làm tan chút băng giá của sự vô cảm đã nhiều năm đóng chặt trong lòng nhiều cán bộ đang ở dưới trướng ông. Biết bao nhiêu dự án đội giá vài lần so với mức tổng đầu tư được duyệt, biết bao nhiêu dự án chậm tiến độ gây tổn thất tiền của, công sức, nguyên nhân của nhiều tai nạn thương tâm nhưng hầu như, chẳng có ai bị xử lý kỷ luật …

Ông đang “sờ” vào những cố tật xấu xa của nhiều quan chức nên ông có nhiều ý kiến dư luận xã hội đồng tình nhưng ở nơi ông đang lãnh đạo, ông còn đơn độc lắm. Kẻ xu nịnh không thiếu, kẻ xu thời nhan nhản, khi vui họ vỗ tay vào… và chờ phút ông thất thế.

Vẫn biết sức người có hạn, vẫn biết châu chấu đá voi nhưng dù có câu được, câu không, ông Đinh La Thăng ơi, ông cần công phá mạnh mẽ vào sự quan liêu, trì trệ, ì ạch của các cơ quan giúp việc Bộ trưởng, ông phải có những người giỏi công tác tổ chức, trung thực, biết tìm và sử dụng người hiền tài, phải có những cán bộ biết xấu hổ khi tệ nạn vòi vĩnh cơ sở khi tới làm việc ở văn phòng đã diễn ra nhiều năm rồi. Nếu ở các bệnh viện, người ta đang chống chuyện bệnh nhân đưa phong bì cho nhân viên y tế thì tại sao ông chưa đưa ra chỉ thị cấm nhận phong bì nhỉ?

Nhiệm kỳ của ông còn dài. Con đường rải nhiều hoa hồng nhưng cũng có nhiều tên “đinh tặc” sẵn sàng không chỉ rải đinh sắt mà rải cả bàn chông để chọc thủng lốp xe của ông.

Lúc ấy, ông có tiếp tục đi bộ để thực hiện vai trò tư lệnh không???

Ghi chú:
Một người đồng nghiệp đang thắc mắc, ông Đinh La Thăng nhận thêm chức mới là Tổ trưởng tái cơ cấu Vinashin do ông Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh phụ trách.
Chức lớn lắm, quan trọng lắm mà sao chưa thấy ông Thăng có ý kiến gì để vực “nó” lên?
Trong nhiệm kỳ này, ông Thăng làm cho Vinashin hồi sinh và làm ăn có lãi như ông Nguyễn Sinh Hùng tuyên bố năm 2010 thì cả nước sẽ tung hô ông Đinh La Thăng như thánh sống đấy!
L.T.T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN


BLOG QUÊ CHOA
Sáng tác niềm tin
 
Chuyện xưa như trái đất, niềm tin chỉ được gây dựng bởi hành động và hiệu quả thiết thực, những ai thường sáng tác niềm tin kẻ đó mắc bệnh tự sướng, một triệu chứng của bệnh hoang tưởng. Ấy vậy mà ở ta không thiếu nơi vẫn thường sáng tác ra niềm tin, gây ra nhiều tấn bi hài cười ra nước mắt.
 
          Nhìn rõ nhất là bên ngành giáo dục, sau hai, ba năm “ nói không với tiêu cực” thì giáo dục càng sút kém nghiêm trọng hơn. Xưa chưa “ nói không với tiêu cực” tỉ lệ tốt nghiệp còn được 60-70%, giờ “nói không” tỉ lệ tốt nghiệp tụt xuống chỉ còn 30-40%, có trường đạt tỉ lệ 0%. Đáng lẽ phải lấy đó làm mừng khi thấy thầy trò trong toàn ngành “nói không” thật, chả phải “ nói không” giả đò. Từ cái căn bản nói thật làm thật này mà ngành giáo dục dấn bước đi lên, cuộc đi lên chắc chắn sẽ gian lao nhưng tất yếu sẽ thành công nếu kiên trì đi đúng hướng và bài bản.
 
           Tiếc thay ngành giáo dục đã không biết kiên trì, không dám kiên trì đã vội vàng trở về sáng tác niềm tin theo kiểu “nói dzậy mà không phải dzậy”. Kết quả là tỉ lệ tốt nghiệp lên đến trên 90%, nhiều trường đạt 100%, nhiều trường trước đó chỉ 20-30% đều nhất loạt trên 80- 90 %. Tưởng rằng niềm tin khi đó sẽ chói lòa, ai ngờ chính điều đó đã làm cho dân chúng thất vọng nhất. Trăm sự chỉ vì Bộ GD&ĐT thấy gây dựng niềm tin vất vả quá, lâu dài quá nên đã vội vàng sáng tác niềm tin.
 
          Chả riêng gì ngành giáo dục, ở đâu cũng vậy cả. Rõ nhất là công cuộc chống tham nhũng của chúng ta. Xác định tham nhũng là quốc nạn, mọi ngành mọi nghề đều giương cao ngọn cờ chống tham nhũng. Không một bản báo cáo nào không nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chống tham nhũng và thể hiện quyết tâm cao quét sạch tệ nạn này. Những hỡi ôi, càng chống thì tham nhũng càng lây lan, càng bệnh trướng, quốc nạn vẫn hoàn quốc nạn,  khiến nhiều người cho rằng tham nhũng là tứ chứng nan y rất khó chống, nói thẳng là không thể chống nếu vẫn để nguyên “cơ chế chống” như cũ. Chính Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh đã lên tiếng, rằng “không thể để chủ tịch tỉnh làm trưởng ban chống tham nhũng” là một trong những yếu điểm của cái “ cơ chế chống” lạc hậu này.
 
          Đang khi việc chống tham nhũng như “ một câu hỏi lớn không lời đáp” thì Chính phủ vừa báo cáo trước Quốc hội “số người đứng đầu bị xử lý do thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng trong phạm vi quản lý ít hơn năm trước 17 trường hợp (năm trước có 84 trường hợp)…. “ số vụ việc, vụ án tham nhũng bị phát hiện và xử lý cũng… giảm dần, năm sau ít hơn năm trước. Thêm nữa là số bị cáo bị kết tội tham nhũng với mức độ nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng cũng… giảm.” ( Theo nhà báo Phan Lợi)
 
          Rứa là vui hay buồn? Bảo rằng vui thì rất vui, tình hình này chắc chỉ một hai năm nữa tham nhũng sẽ tiêu tan, “từ ngày hôm nay chỉ còn lại tiếng ca”, Đất nước trọn niềm vui, sướng quá sướng quá. Nhưng nếu biết “đa số các báo cáo của bộ, ngành địa phương với Chính phủ đều thể hiện không có trường hợp nào tự phát hiện tham nhũng trong nội bộ” thì người ta lo lắm, sợ lắm. Lo rằng các bộ, ngành, địa phương đang đua nhau “sáng tác niềm tin” gửi về Chính phủ. Sợ rằng Chính phủ, Quốc hội tin vào những sáng tác kia.  Lo toát mồ hôi, sợ dựng tóc gáy!

 
BLOG TRẦN MINH QUÂN
Khi xe buýt cũng biết “hành là chính”

Tác giả: Vệ Đình (*)

Xe buýt là một phương tiện văn minh, hiện đại, được áp dụng và nhận được sự ủng hộ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nhưng tại Việt Nam, ngay cả vị lãnh đạo của một đơn vị vận tải xe buýt như ông Nguyễn Trọng Thông cũng phải thừa nhận là: “Chưa thấy ai khen xe buýt, nhưng la ó thì nhiều”. Đây quả là một thực tế đáng buồn và nhất định phải thay đổi.

Cứ ngỡ nạn chèn ép, hành hung hành khách như đã từng xảy ra trước đây trên những chuyến xe khách đường dài đã là quá vãng thì nay nó lại xuất hiện, ngay tại nơi phố thị, trên những chuyến xe được quảng bá với rất nhiều mỹ từ như: An toàn, văn minh, lịch sự….

“Hung thần” nội thị?

Vào ngày 22.10 vừa qua, trên chuyến xe buýt BKS 30K-1550, chạy tuyến 34, lái xe Đỗ Hữu Long và nhân viên bán vé Nguyễn Chí Thanh đã có hành vi đạp, đánh và bắt hành khách, là anh Nguyễn Ngọc Phúc, phải quỳ xin thì mới cho xuống xe. Sự việc này ngay lập tức đã khiến cho nhiều người bất bình và căm phẫn.

Đáng nói là cách hành xử theo lối côn đồ và vô văn hóa này của nhân viên xe buýt không phải là cá biệt.

Vào ngày 11.3.2011, khi đón xe buýt để đến trường dạy học, thấy 2 cửa xe buýt đều mở, ông Nguyễn Hoài Giang bước lên cửa sau thì bị tài xế xe mang BKS 53N-4160 của Công ty Citranco, tên Võ Hồng Chiên truy cản với lời lẽ xúc phạm. Khi ông giải thích do không biết và đề nghị tài xế không được xúc phạm, ông bị tài xế đấm vào bụng 2 cái. Khi hành khách trên xe phản ứng thì tài xế trên mới chịu thôi.
Cũng tại TP.HCM, vào ngày 21.05.2009, trên chuyến xe buýt mang BKS 53N- 4382 đi từ Bến Thành về Q.12, khi hành khách là anh Thân Minh Ngọc yêu cầu phụ xe mở máy lạnh vì quá nóng, phụ xe đã từ chối vì lý do vận hành máy lạnh sẽ tiêu tốn nhiên liệu nhiều hơn. Thế là đôi bên lời qua tiếng lại và phụ xe Trần Văn Long đã dùng khối gỗ đánh vào đầu anh Ngọc, máu chảy đầm đìa.

Và còn rất nhiều sự việc khác tương tự đã xảy ra với cách thức và mức độ khác nhau. Chuyện lời qua tiếng lại, quát nạt, chửi bới, nhồi nhét … hành khách đã là “chuyện thường ngày ở huyện” mà rất nhiều người đã phản ánh.

Không chỉ phục vụ khách theo kiểu…hành, xe buýt luôn là nỗi ám ảnh thường trực cho người đi đường. Có rất nhiều vụ ùn tắc giao thông hay tai nạn gây chết người do xe buýt phóng nhanh, vượt ẩu, lấn tuyến, tranh giành hành khách… đã xảy ra. Nếu gọi những chiếc xe ben là hung thần trên xa lộ thì xe buýt xứng đáng được gọi là hung thần trong nội thị. Đến nỗi có người còn ví xe buýt bằng một hình ảnh rất ấn tượng, đó là những chiếc quan tài bay.

Xe buýt từ lâu đã nhận được sự ưu ái đặc biệt của ngành GTVT nói riêng và của xã hội nói chung. Trên nhiều tuyến đường, mặc dù cấm xe ô tô nhưng xe buýt vẫn được lưu hành. Thường thì tài xế xe buýt chẳng xem CSGT ra gì khi hàng ngày vẫn ngang nhiên phạm luật. Đồng thời, xe buýt đang nhận được sự trợ cấp rất lớn từ ngân sách Nhà nước.


Sau khi bị đánh và bắt quỳ, anh Phúc được tài xế cho xuống bằng cửa trước.
Ảnh: Tiến Dũng – VNE
Văn hóa xe buýt… báo động đỏ?  

Phải chăng xe buýt đang tự xem mình là đứa con cưng, do được quá nuông chiều nên mới ra cơ sự như ngày hôm nay?

Mặc dù đã được phản ánh rất nhiều nhưng đến khi xảy ra sự việc tài xế, phụ xe buýt bắt hành khách phải quỳ lạy, van xin mới mở cửa cho xuống thì đã đến lúc nạn hành xử thô bạo, vô văn hóa của nhân viên xe buýt nói chung đã thực sự cần báo động đỏ.

Không ai cho phép một người phụ xe, tài xế xe buýt có quyền hạch sách, dọa nạt, hạ nhục, thậm chí đánh đập… hành khách, nhưng phải chăng vì thiếu văn hóa hay tiêm nhiễm thói cửa quyền, hách dịch từ cấp trên của mình mà ra?  Hay do được quá ưu ái quá nhiều nên họ đã lầm tưởng rằng mình có quyền ban phát dịch vụ vận tải cho người khác? Lý nào xe buýt cũng được quyền “hành là chính” như vốn thấy ở các cơ quan công quyền?

Trong quá trình tìm kiếm giải pháp cho nạn ùn tắc giao thông đang là nỗi nhức nhối của xã hội hiện nay, xe buýt dường như là lối thoát duy nhất trong ngắn hạn, thì sự việc trên, tiếc thay chẳng khác nào như một cái tát, tát thẳng vào mặt những nhà quản lý, điều hành ngành GTVT, mà cụ thể là lời kêu gọi đúng đắn của Bộ trưởng Đinh La Thăng, hạn chế xe cá nhân để sử dụng xe buýt.

Theo các số liệu thống kê thì hiện nay, tại TP.HCM xe buýt chỉ đáp ứng khoảng 7.5% nhu cầu đi lại của người dân. Còn đối với Hà Nội con số đó là khoảng 10%. Đối tượng chính sử dụng xe buýt làm phương tiện di chuyển thường là học sinh, sinh viên, công nhân và người thu nhập thấp.

Điều  này cho thấy khả năng đáp ứng của xe buýt còn rất hạn chế so với nhu cầu đi lại và chưa nhận được sự ủng hộ của mọi thành phần trong xã hội. Có nghĩa là khả năng phát triển của xe buýt là rất lớn. Xe buýt hoàn toàn có thể thay thế các phương tiện di chuyển khác nếu cải thiện được chất lượng và hình ảnh của mình.

Theo ông Nguyễn Trọng Thông, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty vận tải Hà Nội (Transerco) thì: “Chất lượng dịch vụ xe buýt được cấu thành bởi 5 yếu tố: Chất lượng mạng lưới tuyến xe buýt; chất lượng hạ tầng xe buýt; chất lượng đoàn phương tiện; chất lượng đội ngũ công nhân lái xe-nhân viên bán vé và chất lượng kiểm soát- điều hành”. Trong 5 yếu tố trên thì chất lượng đội ngũ lái xe, nhân viên phục vụ là tương đối độc lập, không phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài như cơ sở hạ tầng hay tài chính và có thể điều chỉnh ngay nếu được quan tâm đúng mức.

Lời giải cho thực trạng này không ở đâu xa mà ở ngay trong chính các đơn vị vận tải xe buýt nói riêng và ngành GTVT nói chung. Quan trọng là những người có trách nhiệm đủ can đảm đối diện với sự thật và xắn tay áo lên giải quyết. Chỉ khi nào bài toán chất lượng xe buýt được giải quyết thì mọi cố gắng cứu vãn nạn ùn tắc giao thông và “văn hóa xe buýt” mới đi vào cuộc sống.

Hiện nay, công tác tuyển dụng, đào tạo nhân viên xe buýt tương đối đơn giản. Với mỗi nhân viên, sau khi được tuyển dụng thì chỉ được làm quen với công việc thực tế vài ngày là có thể chính thức nhận việc. Yêu cầu chính là phải đảm bảo đúng tuyến, đúng giờ còn công tác đào tạo, bồi dưỡng về văn hóa giao tiếp nơi công cộng hầu như không có, mà đây mới chính là yếu tố chính tạo nên chất lượng phục vụ của đội ngũ nhân viên xe buýt.

Trong khi đó, hình thức xử phạt nặng nhất mỗi khi nhân viên xe buýt xô xát, thậm chí đánh đập hành khách vẫn chỉ dừng lại ở mức buộc thôi việc. Với công tác đào tạo và mức xử phạt như thế này thì tình trạng đối xử thô bạo, vô văn hóa với hành khách vẫn sẽ còn kéo dài chưa có hồi kết.

Xe buýt là một phương tiện văn minh, hiện đại, được áp dụng và nhận được sự ủng hộ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nhưng tại Việt Nam, ngay cả vị lãnh đạo của một đơn vị vận tải xe buýt như ông Nguyễn Trọng Thông cũng phải thừa nhận là: “Chưa thấy ai khen xe buýt, nhưng la ó thì nhiều”. Đây quả là một thực tế đáng buồn và nhất định cần thay đổi.

Lời giải cho thực trạng này không ở đâu xa mà ở ngay trong chính các đơn vị vận tải xe buýt nói riêng và ngành GTVT nói chung. Quan trọng là những người có trách nhiệm đủ can đảm đối diện với sự thật và xắn tay áo lên giải quyết. Chỉ khi nào bài toán chất lượng xe buýt được giải quyết thì mọi cố gắng cứu vãn nạn ùn tắc giao thông và “văn hóa xe buýt” mới đi vào cuộc sống.

(*) Vệ Đình: Bút danh khác của tôi


BLOG DR.NIKONIAN

Khihình ảnh là tin



Khá nhiều tờ báo đưa tin về em bé hai đầu đã mất. Rất dễ hiểu khi thấy công chúng bày tỏ lòng thương cảm với số phận hẩm hiu của hai sinh linh tội nghiệp này. Rất nhiều người gởi lời chia buồn với gia đình trên các báo mạng.

Về mặt báo chí, tôi nghĩ đây là một tin (news) đúng nghĩa vì tính chất hiếm hoi và thương tâm của nó. Như mọi khi, những trường hợp bệnh lý hiếm hoi, khó khăn, ngoạn mục… luôn luôn thu hút sự hiếu kỳ đặc biệt của công chúng. Các dị tật bẩm sinh, nhất là các dị tật thấy được (visible), không nằm sâu trong các cơ quan nội tạng là những ví dụ điển hình. Do đó, cũng không ngạc nhiên khi thấy nhiều báo mạng đăng tin này.

Điều đáng nói là nhiều tờ báo, không biết vô tình hay hữu ý, thản nhiên đăng hình ảnh tội nghiệp của hai trẻ sơ sinh có hai đầu đang thoi thóp trên giường bệnh. Với đủ thứ máy móc, dây nhợ… chung quanh, tấm ảnh này quả đầy tính thời sự, và gây được rất nhiều tiếng thở dài thương xót (lẫn tò mò) của độc giả.

Tuy nhiên, bệnh tật là một bí mật cá nhân và tuyệt đối riêng tư. Từ góc độ quyền riêng tư của người bệnh, những thông tin cá nhân của họ như nhân thân, chi tiết bệnh án… phải được bảo vệ và chỉ được phép công bố khi có sự cho phép của người bệnh hay gia đình. Theo công ước Helsinki về các quyền của người bệnh, các hình ảnh sử dụng cho mục đích giảng dạy y khoa, đều yêu cầu phải có sự cho phép của chính đương sự. Đồng thời, phải che mắt và bộ phận sinh dục, nếu như sự phô bày các bộ phận này không cần thiết cho mục đích giảng dạy hay minh hoạ cho case bệnh đó.

Mặt khác, tôi tin chắc cha mẹ của hai bé trên sẽ rất đau lòng khi thấy hình ảnh đứa con bất hạnh của mình “được” đăng tải nhan nhản trên truyền thông như thế.

Hoặc nếu may mắn hơn, hai em bé vẫn sống sót và vượt qua được dị tật hiếm hoi này, không ai lường được tác động của những tấm ảnh ngày hôm nay đối với tương lai về sau của bé.

Do đó, tôi phản đối việc đưa hình ảnh cụ thể về những dị tật, những căn bệnh hiếm hoi, nạn nhân của các tai nạn thảm khốc… lên truyền thông. Không có hình ảnh minh hoạ, chắc chắc tin sẽ bớt nóng, bớt sức hấp dẫn với công chúng. Tyrage báo in, hay pageview báo mạng sẽ giảm đi một chút, thậm chí khá nhiều.

Nhưng một nền báo chí nhân bản, hướng về con người thì có sự lựa chọn nào khác?
  
BLOG PHẠM VIẾT ĐÀO

AINHẦM LẦN KHÁI NIỆM “NHÂN DÂN” TRONG HIẾN PHÁP?


Nguyễn Huy Canh.

-Quả thực, một quan niệm, một lí thuyết về nhân dân như kiểu Ts Nguyễn Văn Quang là một quan niệm nguy hiểm đối với chế độ. Đối với lịch sử của một dân tộc, chuyện xảy ra lần đầu là một bi kịch, thì việc tái diễn nó lần hai sẽ là một tấn trò. Liệu việc kéo dài một lí thuyết về nhân dân giáo điều, cũ kĩ, sáo mòn, trống rỗng và vô hồn như Ts Quang đang làm, sẽ làm cho bi kịch của lịch sử này tái diễn một lần nữa? Kết quả của kiểu tư duy ấy dễ dẫn đến cái nguy cơ hàng triệu con người của đất nước này, của dân tộc này bị xô đẩy vào tình thế của những kẻ xa lạ, ngoại kiều trên quê hương mình, xếp họ vào “cái ổ” đối lập lại với lãnh đạo, với nhà nước; họ bị coi là những lực lượng thù địch…

- Trong thực tế hiện nay, mô hình tư bản nhà nước hay khái niệm “cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là những thao tác quản lý đã và đang xóa mờ dần khái niệm nhân dân, khái niệm giai cấp được phân chia theo tuyến tính, theo học thuyết Marx sơ khai...

Nhân dân với tư cách là một phạm trù chính trị học, xem ra việc đạt tới nó không phải là cái gì dễ ràng, đã xong đối với lịch sử, với dân tộc chúng ta. Bài viết “Đừng nhầm lẫn từ  “nhân dân” trong hiến pháp” ( * ) của Ts, đại tá Nguyễn Văn Quang, cùng với rất nhiều phản hồi liên tiếp sau đó cho chúng ta hiểu được khung cảnh ngổn ngang và ít nhiều bi kịch của quá trình tìm kiếm ấy.

Nhân dân là gì? Lực lượng này đã có những thay đổi  nào trong quá trình lịch sử? Đâu là bản chất cần được nhận thức? Giá trị, ý nghĩa của nó đối với các lãnh tụ, các nhà hoạch định chính sách đến mức nào… Đó là những gì đặt ra và tôi cho rằng yêu cầu làm rõ trong nhận thức hiện nay cũng không kém phần nóng bỏng.

Trong khi phản biện lại Ts (Nguyễn Văn Quang) về nội hàm của khái niệm, bên cạnh những ý kiến đúng đắn về quyền của nhân dân, của QH đối với Hiến pháp còn rất hạn chế (ít ỏi, hình thức), Kami đã sai lầm khi trích dẫn từ điển làm cơ sở cho những phê phán của mình đối với quan điểm giai cấp, cái nhìn giai cấp trong quan niệm của Ts về nhân dân.

Từ điển chỉ nhằm giải nghĩa, giải thích cho từ. Nó không phải là một tri thức đạt đến khái niệm, phạm trù… Có lẽ cũng vì chưa hiểu được cách thức, phương thức và nội dung đạt đến của phạm trù, nên Nguyễn Quang Lập, Hà Hiền và một số người khác đã dung tục, tầm thường hóa tri thức lí luận bằng việc lo cho nhân dân ta chỉ còn toàn là những ông bà già móm mém… trong lí thuyết về nhân dân của Ts Quang.

TS đã có ý thức và trách nhiệm trong việc xây dựng, hình thành khái niệm, phạm trù nhân dân trong toàn bộ bài viết của mình. Nhưng tiếc rằng, như một tâm lí, một quán tính chính trị đè nặng đã làm cho Ts có một cái nhìn cũ kĩ, cổ lỗ và giáo điều về nhân dân. Chiếm hữu, sở hữu khái niệm phải hiểu đó là một hành vi sáng tạo lịch sử, còn nếu không, chỉ trở thành phản động.

Trong bài viết của mình, Ts Quang khẳng định “…nhân dân còn với nghĩa là một tầng lớp, một giai cấp đại diện cho một quốc gia, một dân tộc trong một nhà nước nhất định”. Đây là một khái niệm đã hình thành và xuyên suốt những thế kỉ trước: đó là thời đại phân chia tương đối cực đoan thế giới, lịch sử thành 2 khối đối lập nhau. Những giai cấp đối lập nhau đóng vai trò chi phối toàn bộ lịch sử đương thời, trong đó nhân dân được hiểu là những giai cấp lao động làm thuê bị bóc lột, áp bức và nô dịch. Đối diện, đối lập, khác biệt với nhân dân là lãnh tụ, là vĩ nhân, là các nhà lãnh đạo, là giai cấp thống trị (chiếm thiểu số trong xã hội). Cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa các dân tộc, nhân dân bị áp bức với mọi kiểu chủ nghĩa thực dân đưa tới sự ra đời của các xã hội mới, quốc gia mới: độc lập tự chủ.

Nước VNDCCH ra đời cũng trong sự vận động lịch sử đó, trong kết quả của cuộc đấu tranh đó. Nhân dân là người đã giành được chính quyền và xây dựng chính quyền mới của mình. Đây là nội dung chủ yếu của khái niệm nhân dân đã hình thành trong lịch sử nước nhà. Đó cũng là ý nghĩa giai cấp, tính giai cấp trong khái niệm của Ts Quang. Từ “một” được dùng trong mệnh đề trên không phải là khác với hai, ba, với cái nhiều như Kami và một số người đã phản biện. Trong tư duy của Ts Quang nó được hiểu là cái duy nhất trong thế giới quan nhất nguyên luận cũ kĩ, lạc hậu. Lịch sử hiện đại của thế kỉ 21 đã bỏ qua, để lại đằng sau nó tất cả những lí thuyết triết học này.

Ngay ở thế kỉ trước, tuy thế giới, lịch sử diễn ra trong sự phân đôi, nhưng chỉ là rất tương đối. Còn rất nhiều giai tầng trung gian, phần tử trung gian giữa các giai cấp đối địch đó. Việc tuyệt đối hóa nó thông qua phương pháp tư duy trừu tượng đã dẫn tới những sai lầm của chủ nghĩa nhất nguyên luận lịch sử. Đó cũng là sai lầm của việc đem gộp chỉ các giai cấp bị áp bức vào khái niệm nhân dân; đem gộp chỉ những lực lượng yêu nước, lực lượng  theo Đảng và theo cách mạng vào trong khái niệm nhân dân. Sai lầm trong Cải cách ruộng đất, trong vụ án Nhân văn giai phẩm và hậu nhân văn giai phẩm có nhiều nguyên nhân, nhưng có thể cũng phải kể đến tác động tiêu cực của khái niệm này trong chủ trương, chính sách của các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách lúc bấy giờ. Với quan niệm nhân dân như vậy, chính quyền đã đẩy Trần Dần, Lê Đạt, Hữu Loan, Hoàng Cầm… có thể đã không được coi là bộ phận của nhân dân, thuộc về nhân dân vì những sản phẩm, những hoạt động của họ đã không nằm trong nhận thức về nhân dân theo quan niệm của một số cá nhân trong Đảng cầm quyền.
Thế giới đã có nhiều thay đổi, thực tiễn VN ngày hôm nay cũng đã có quá nhiều thay đổi. Cấu trúc tuyến tính phân đôi lịch sử, xã hội hiện đại như một nét chủ đạo đã không còn nữa. Sự đối kháng về lợi ích giữa các giai cấp, các tầng lớp đã được thay bằng sự hài hòa, sự đồng thuận, sự chia sẻ. Trong đó đặc biệt là mối quan hệ cùng có lợi giữa những người lao động làm thuê và chủ các doanh nghiệp tư bản, tư nhân. Mô hình tư bản nhà nước hay khái niệm “thị trường xã hội chủ nghĩa” là những thao tác quản lý đã xóa mờ dần khái niệm nhân dân, khái niệm giai cấp được phân chia theo tuyến tính, theo học thuyết Marx sơ khởi...

Sự giàu có của các doanh nghiệp, doanh nhân dĩ nhiên phải dựa trên một phần sự bóc lột giá trị thặng dư, nhưng điều đó không hoàn toàn, không bao giờ đẩy họ ra khỏi phạm trù đối lập với nhân dân trong một cái nhìn mới, một thế giới quan mới của tư duy chính trị.  Đây là điều mà Ts Quang không bao giờ quan niệm được, hiểu được trong tư duy phát triển của mình về nhân dân .

Nhân dân, xét trong đời sống hiện nay của lịch sử, của thực tại nước nhà, đó phải là đông đảo quần chúng. Quần chúng ở đây tuyệt nhiên không được hiểu là một khối những con người, thành phần, tầng lớp xã hội khác nhau cùng dưới sự lãnh đạo,dẫn dắt  của một cá nhân, vĩ nhân hay một tổ chức nào đó. Đó phải là những con người, tập hợp những con người trong sự tồn tại cụ thể, cá nhân của mình với nghĩa là thực tại người  trong quan hệ  bình đẳng với lãnh đạo, và với tất cả mọi người; và nó độc lập với toàn bộ thế giới còn lại- cái thế giới đang được tư duy và cải biến bởi sự sinh tồn, phát triển và những nhu cầu, khát vọng sống của riêng nó. Cái riêng ở đây được hiểu theo nghĩa sự giống nhau của tôi và anh không thể qui về nhau được bởi quan hệ sở hữu và chiếm hữu tư nhân đã hình thành như những giá trị phổ quát, tự nhiên của thời đại chúng ta. Và do đó nó phải là trung tâm, là điểm xuất phát của những chủ trương, chính sách trong tư duy của các nhà lãnh đạo mỗi khi nghĩ về nhân dân.

Không thể đem cái nhìn cũ, giáo điều khuôn vào, áp đặt vào thực tiễn hiện đại; không thể coi mình là chân lí của tồn tại, của dân tộc này, nhân dân này để rồi nhân danh đó mà gạt ra ngoài phạm trù nhân dân số phận của hàng trăm, hàng triệu thực tại người đang cần mẫn làm việc với tất cả nhu cầu bình dị, chính đáng, thường trực về tự do, về dân chủ và nhân quyền. Kết quả của tư duy ấy dễ dẫn đến cái nguy cơ hàng triệu con người của đất nước này, của dân tộc này bị xô đẩy vào tình thế của những kẻ xa lạ, đối lập lại với lãnh đạo, với nhà nước; họ bị coi là những lực lượng thù địch…

Quả thực, một quan niệm, một lí thuyết về nhân dân như kiểu Ts Quang là một quan niệm nguy hiểm đối với chế độ.  Nếu lịch sử của dân tộc lần đầu là một bi kịch, thì việc tái diễn nó lần hai sẽ là một tấn trò. Liệu việc kéo dài một lí thuyết về nhân dân cũ kĩ, sáo mòn, trống rỗng và vô hồn như Ts Quang đang làm, sẽ làm cho bi kịch của lịch sử này tái diễn một lần nữa? Đó là điều băn khoăn, là câu hỏi của người viết bài này trong tâm thức hướng về một lí thuyết mới về nhân dân mở ra cho dân tộc chúng ta trong những dự cảm về tương lai…

N.H.C.

* Bài  “Đừng nhầm lẫn từ “nhân dân” trong hiến pháp” của ông đăng trên Báo Quân Đội Nhân Dân chủ nhật, ngày 23/10/2011.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét