Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2011

Dân Khí hoặc Tinh thần Công dân

Tinh thần công dân quan trọng hơn kinh tế

Ngô Nhân Dụng

Đầu thế kỷ 20, Phan Châu Trinh ở nước ta đề ra các khẩu hiệu “Khai Dân Trí, Chấn Dân Khí, Hậu Dân sinh”. Cùng lúc đó, Phan Bội Châu, trong cuốn Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư (Lá thư mới viết bằng máu và nước mắt, về quần đảo Lưu Cầu, Ryukyu, một nước đã bị Nhật Bản chiếm), năm 1903, đã nói tới ba nhu cầu thay đổi ở nước ta: Học thuật, Nhân Tài, và Dân Khí. Đổi Học thuật, giống như ngày nay chúng ta nói phải học hỏi khoa học kỹ thuật tiến bộ của nhân loại. Dưỡng Nhân tài, cũng giống như nhu cầu cải thiện giáo dục và đào tạo thanh niên. Phan Bội Châu viết: “Trong ba điều nói trên thì chấn dân khí là (việc cần làm) trước hết.” (Phan Bội Châu Toàn Tập, xuất bản 1990, cuốn 1, trang 145).


Phan Bội Châu nhận thấy: “Dân khí nước ta bị suy giảm quá tệ.” Cụ nêu lên các triệu chứng: Quen thói sợ hãi; thiếu hiểu biết; người dưới làm điều đê tiện mà không biết hổ, chịu sự ô nhục mà không biết thẹn; người trên lo trang sức cho đẹp mắt, giữ hủ lậu cho yên thân.” 

Trong hoàn cảnh lịch sử hồi đầu thế kỷ 20, hai cụ Phan chỉ nêu lên được những mục tiêu tổng quát, còn nội dung của những khẩu hiệu này trong một thế kỷ qua chắc chắn đã thay đổi. Các khái niệm Dân trí và Dân khí ngày nay có thể diễn tả qua danh từ Trình độ Công dân. 

Chúng ta biết chỉ khi một nước thành dân chủ thì người dân mới được coi là công dân. Dưới thể chế quân chủ, mọi người chỉ là những thần dân của ông vua. Ở Việt Nam trước đây vẫn có môn “Công dân Giáo dục”, từ cấp tiểu học lên đến trung học, để dậy trẻ em trở thành những công dân tốt. Nhưng các bài học công dân đó thường chú trọng đến các đức tính cần thiết cho mỗi cá nhân để sống trong xã hội; còn làm sao cho cả xã hội gồm các công dân được cải thiện thì chưa đầy đủ. Một phần vì vào thời đó các khoa học về xã hội và chính trị trên thế giới vẫn còn chưa phát triển đến mức sâu, rộng và tinh tường như ngày nay. Chúng ta có thể hiểu rõ hơn về khái niệm này qua công trình nghiên cứu thực nghiệm của Robert D Putnam, khi tìm hiểu những yếu tố ngoài phạm vi kinh tế đã ảnh hưởng trên thành quả dân chủ hóa ở các vùng ở nước Ý trong 20 năm kể từ năm 1970.

Cuộc nghiên cứu của Putnam đã tiến qua một giai đoạn mới khi khám phá ra là các yếu tố kinh tế, xã hội trong quá trình hiện đại hóa không thể giải thích đầy đủ sự thành công cao hay thấp của kế hoạch dân chủ hóa từ hạ tầng và tản quyền ở Ý; bởi vì có những vùng cùng một trình độ phát triển kinh tế, hoặc cùng cao hay cùng thấp, nhưng kết quả rất khác nhau. Vì thế, các nhà nghiên cứu đã tìm đến những yếu tố thuộc vào trình độ công dân hy vọng giúp giải thích rõ hơn sự khác biệt trong thành quả giữa các vùng cùng một trình độ hiện đại hóa.

Putnam đã tìm cách dùng phương pháp Thống kê học để trắc nghiệm mối liên hệ giữa Thành Quả và Trình Độ Công Dân. Nhưng khái niệm Tinh Thần Công Dân rất trừu tượng; làm sao có thể đo lường được? May mắn là trong môn chính trị học, khái niệm đó đã được cụ thể hóa nhờ nhiều cuộc nghiên cứu từ giữa thế kỷ 20. 

Năm 1963 hai tác giả Gabriel A. Almond và Sidney Verba ấn hành cuốn sách Tinh Thần Công Dân: Thái độ chính trị và Nền Dân chủ ở năm quốc gia (Civic Culture: Political Attitudes and Democracy in Five Nations). Cuốn sách là bản báo cáo một cuộc nghiên cứu khi họ khảo sát thực địa (tại chỗ) ở năm nước, Mỹ, Anh, Mễ Tây Cơ, Đức, và Ý. Họ đã định nghĩa khái niệm Tinh Thần Công Dân (Civic Culture) bằng các yếu tố cụ thể. Cuốn sách đó ảnh hưởng lớn đến các cuộc nghiên cứu thực nghiệm sau này về thành quả của chế độ dân chủ, qua các môi trường văn hóa, xã hội và kinh tế khác nhau. (Cuốn sách cũng ảnh hưởng cả đến chính sách viện trợ của chính phủ Mỹ sau khi sách xuất bản. Người Mỹ từ đó đã tìm cách trợ giúp trực tiếp các tổ chức tư nhân ở các nước nghèo; thay vì chỉ giúp các chính phủ, khi muốn thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa và phát triển kinh tế. Một điều mà chính phủ Mỹ lúc đó chưa hiểu là các “định chế ngoại nhập,” dù là tư nhân và với tầm vóc nhỏ, nhưng nếu thiếu yếu tố tự phát và tự trị, tự nguyện tham gia của người địa phương, thì vẫn khó thành công. Năm 1984, Milton J. Esman và Norman T. Uphoff ấn hành cuốn khảo sát về Các tổ chức địa phương Trung gian trong việc Phát triển nông thôn, Local Organizations: Intermediaries in Rural Development. Cuốn sách in năm 1988, trong chương cuối đã nhấn mạnh thêm một khía cạnh khác, là các tổ chức tư nhân nói trên phải có tính cách tự nguyện và do người dân tạo ra, chứ không phải là do từ trên thúc xuống mà thành.

Vậy Tinh Thần Công Dân là gì?

Một xã hội có Tinh Thần Công Dân cao khi người dân tự nguyện tham gia vào việc chung, ngay cả khi họ vẫn theo đuổi tư lợi trong đời sống kinh tế. Một xã hội thiếu tinh thần công dân khi mọi người có khuynh hướng ích kỷ, trong cuộc sống họ tự nhiên chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng của mình, gia đình, băng đảng, bộ tộc của mình. Edward Banfield gọi đó là “óc duy gia tộc phi luân lý” –  amoral familism- khi khảo sát ở một làng ở miền Nam nước Ý, năm 1958. Ông thấy làng Montegrano là một xã hội trong đó là mỗi người chỉ lo làm giầu trong ngắn hạn chứ không nghĩ xa, chỉ lo cho gia đình mình không cần biết đến người chung quanh, và họ tin rằng ai cũng nghĩ như vậy. Banfield thấy tinh thần đó là một nguồn gốc lớn gây ra tình trạng nghèo nàn và chậm tiến. “Tình trạng nghèo khó và chậm tiến cùng cực chỉ có thể giải thích do tình trạng dân làng không thể cộng tác với nhau lo các việc chung” (The Moral Basis of a Backward Society). Banfield cũng áp dụng qui tắc đó khi nghiên cứu các khu ổ chuột trong thành thị ở Mỹ và thấy cơ bản tinh thần tương tự là một nguyên nhân của cảnh nghèo nàn. 

Nửa thế kỷ trước, Phan Bội Châu cũng mô tả tình trạng “chậm tiến, backward” của dân Việt Nam với những đặc tính không khác mấy. Trong cuốn “Việt Nam Quốc Sử Khảo” viết năm 1908, cụ Phan nêu lên năm “cái ngu” của đồng bào Việt Nam:
“Hay nghi kị lẫn nhau, không làm nên việc gì cả;
“Tôn sùng những điều xa hoa vô ích;
“Chỉ biết lợi mình mà không biết hợp quần;
“Thương tiếc của riêng, không tưởng đến việc ích chung;
“Biết có thân mình, nhà mình mà không biết có nước.”
(theo Đỗ Thông Minh, trong cuốn Kỷ niệm 100 năm Phong trào Đông Du, trang 99)

Đó là những đặc tính về tâm lý của những người thiếu tinh thần công dân, sống trong những xã hội chậm tiến, tâm lý cá nhân đó một phần đã gây ra cảnh nghèo nàn. Khi nhìn toàn thể xã hội, tinh thần công dân cũng thể hiện trong những mối liên hệ giữa người này với người khác, những tương quan không thể tránh được. Trong một xã hội có tinh thần công dân cao, người dân tạo ra nhiều liên hệ hàng ngang, với quy luật hỗ tương cộng tác, chứ không phải chỉ do bị bắt buộc. Mối ràng buộc giữa mọi người có tính bình đẳng và tự nguyện như thế có sức mạnh hơn những liên hệ hàng dọc, chính thức hoặc không chính thức. Liên hệ hàng dọc là di sản truyền lại từ thời phong kiến, khi mọi người liên đới theo lối từ trên xuống dưới; như “vua và tôi, quan với dân;” trong lãnh vực tư thì nói đến tình thân thiết giữa “đại ca và đàn em, thầy và tớ,” hay “lãnh tụ – quần chúng” (chữ Quần vốn có nghĩa là một đàn cừu). Tinh thần công dân biểu lộ qua đầu óc tôn trọng sự bình đẳng, mọi người tôn trọng tính khoan hòa (tolerance), có lòng tín nhiệm lẫn nhau, thành thật, đoàn kết với nhau hơn. Thiếu tinh thần công dân thì thiếu các các đức tính xã hội đó.

Một biểu hiện của tinh thần công dân là trong xã hội có nhiều hội tư, những nhóm tham gia tự nguyện, như Alexis de Tocqueville nhận xét về Nền Dân Chủ ở Mỹ Châu. Nhờ sinh hoạt trong các hội, các nhóm phi chính trị (không có tính cách chính trị đảng phái), người Mỹ tạo thói quen cộng tác, tinh thần công ích. Nhờ sự có mặt của nhiều nhóm, nhiều hội tư nhân, sự thực hiện thể chế dân chủ cũng có hiệu quả hơn. 
Tocqueville viết: “Người Bắc Mỹ ở mọi lớp tuổi, đủ các tình trạng, đủ mọi lối sống, đều rất thích lập hội. Họ không phải chỉ lập ra những hội kinh doanh thương mại hay công nghiệp để mọi người đều tham dự, mà còn hàng ngàn thứ hội khác – cho mục tiêu tôn giáo, đạo đức, có mục tiêu nghiêm cẩn, có mục đích tầm thường, hoặc tổng quát, hoặc chuyên biệt, có hội lớn vô cùng, có hội thì nhỏ xíu…”

Tocqueville thấy đó là một yếu tố không thể thiếu trong xã hội dân chủ, khi “mọi người cùng mưu cầu những mục đích chung, theo sở những thích chung, áp dụng cho rất nhiều mục tiêu khác nhau.”

Để đo lường Trình Độ Công Dân trong cuộc nghiên cứu tại các vùng ở nước Ý, Putnam đã dùng bốn chỉ số đếm được. 

Thứ nhất là con số các hội tư, từ các hội đá bóng, ca đoàn, hội những người leo núi, các nhóm văn nghệ, thể thao, âm nhạc, khoa học, tổ chức thương mại, y tế, v.v... Có những vùng ở Ý số hội tư phát triển rầm rộ, và có những vùng khác dân chúng thích sống lẻ loi, chỉ quan tâm đến gia đình mình. Có vùng chỉ có ít hội tư ngoài các hội thể thao (chia theo đầu người, trung bình cứ 13,100 người dân thì có một hội) giống như tình trạng làng Montegrano mà Edward Banfield đã thấy, nơi đa số chỉ biết đến mình và gia đình mình. Nhưng lại có những vùng khác rất nhiều hội tư (cứ 1050 dân lại có một hội) đông đảo không khác gì cảnh tượng nước Mỹ mà Alexis de Tocqueville mô tả.

Chỉ số thứ hai là số báo chí ở địa phương và số người đọc báo. Tocqueville cũng từng đề cao vai trò của báo chí trong việc tạo nên tinh thần công dân ở nước Mỹ vào thế kỷ 19. Ông cho là nhờ báo chí ở Mỹ nhiều hơn ở nước Pháp của ông thời đó, mà người dân Mỹ châu chia sẻ cùng một số tin tức và suy nghĩ, có óc cộng tác cao hơn để cùng theo đuổi những mục đích chung mà nhờ thế mà quyền lợi riêng của mỗi người cũng đạt được. Tại nước Ý vào các thập niên 1970 – 80, số người đọc báo khá đông, nhưng có vùng như Liguria 80% các gia đình có ít nhất một người đọc báo hàng ngày, có nơi như vùng Molise chỉ có 35% các gia đình có người đọc báo.

Chỉ số thứ ba là tỷ lệ người đi bỏ phiếu, cho thấy người dân có tham gia vào việc chính trị chung hay không. Nói chung, dân Ý đi bầu rất đông, tỷ lệ thường trên 90%; một phần vì luật lệ bắt dân làm bổn phận này, phần khác vì các đảng chính trị hoạt động rất hăng hái lôi kéo dân đi bầu. Nhưng Putnam chú ý đến những cuộc bỏ phiếu trưng cầu dân ý toàn quốc, mà không dùng đến tỷ lệ đầu phiếu trong các cuộc tổng tuyển cử. Lý do vì nhiều khi người dân đi bỏ phiếu chỉ vì muốn làm theo lời yêu cầu của những “ông trùm” trong làng xã; đổi lại họ hy vọng sẽ được người đắc cử nâng đỡ sau đó như tìm việc làm, ký giấy phép, vân vân. Tỷ lệ người đi bầu như vậy không biểu hiện đúng “tinh thần công dân.” Tỷ lệ dân đi bỏ phiếu là một thứ số liệu bị “ô nhiễm,” không biểu hiện thật sự cho tinh thần tham gia.

Trái lại, những cuộc bỏ phiếu trưng cầu ý kiến dân chúng là cơ hội cho người dân quyết định về các vấn đề quan trọng như hợp pháp hóa việc ly dị (năm 1974), về hợp đồng lương bổng của giới lao động (1985), về luật chống khủng bố (1981), về lập nhà máy điện ngyên tử (1991). Đó là những đề tài đụng tới đời sống công cộng; không chia chác ghế cho ai cả, người dân có thể chọn đi bỏ phiếu hay không hoàn toàn do ý thức tham dự bầy tỏ ý kiến vào việc thảo luận và quyết định chung cho xã hội. Vì vậy, số thống kê những người đi bỏ phiếu trong 5 cuộc trưng cầu dân ý có giá trị tiêu biểu hơn khi muốn biết tinh thần công dân ở mỗi vùng.

Chỉ số thứ tư là tỷ lệ số phiếu bầu đích danh trong cuộc bầu cử.  Chỉ số này đặc biệt cần giải thích, vì chỉ có ý nghĩa trong đời sống chính trị ở Italy.

Trong các cuộc bầu cử toàn quốc ở Ý, cử tri có thể chọn một đảng chứ không cần chọn đích danh ứng cử viên. Mỗi đảng được một số ghế dân biểu theo tỷ lệ số phiếu được bầu, sau đó trong đảng chọn số người đắc cử trong danh sách ứng cử viên mà đảng đưa ra, theo thứ tự trên dưới mà giới lãnh đạo đảng đã quyết định. Nhưng các cử tri ở Ý cũng có quyền “chọn đích danh” một ứng cử viên trong danh sách. Khi chọn một đảng tức cử tri là chọn những đường lối, chủ trương, hoặc chương trình đã được các phe phái tranh luận; còn chọn đích danh tức là chọn cá nhân một người ứng cử, hơn là chọn đường lối chính trị. 

Các nghiên cứu chính trị ở Italy từ nhiều năm trước vẫn thấy rằng số phiếu cao chọn bầu theo lối đích danh này là dấu hiệu của tình trạng thiếu tinh thần công dân. Nên chính trị nước Ý lâu nay vẫn có những triệu chứng thối nát vì các lãnh tụ một vùng có thể mua chuộc cử tri bằng cách ban những ân huệ cho cán bộ để họ đi vận động đích danh cho mình. Người đi bầu được hứa hẹn sẽ được chia sẻ những quyền lợi nếu lãnh tụ đắc cử! Cử tri chọn bầu đích danh tức là không chọn người theo chương trình tranh cử, hay đường lối, chủ trương chính trị, mà chọn vì tình cảm cá nhân, vì phe phái đã bảo phải chọn, hoặc vì mang nợ qua liên hệ “thầy – tớ,” một con đường gây ra tham nhũng. Ở nhiều nơi đảng phái chỉ là hình thức, dân chúng bầu cử những cá nhân ứng cử viên theo “chỉ thị,” hay những lời “nhắn nhe” của các ông trùm địa phương. 

Khi mối liên hệ hàng dọc “thầy - tớ” (patron - client) là động cơ thúc đẩy người ta đi bỏ phiếu thì đó là dấu hiệu tinh thần dân chủ còn rất thấp. Liên hệ thầy - tớ có thể phát sinh vì sự mua chuộc, vì đe dọa, hay vì bị lệ thuộc truyền từ lâu đời dưới ảnh hưởng của tôn giáo (vị tu sĩ trong làng bảo bầu cho ai thì tín đồ cứ thế mà bỏ phiếu), có khi dưới ảnh hưởng của băng đảng mafia khống chế một làng. Số phiếu bầu đích danh ở một vùng mà cao thì chứng tỏ Tinh Thần Công Dân của người dân ở đó còn thấp. Những người đi bỏ phiếu để “đền ơn” các ứng cử viên đã hoặc sẽ nâng đỡ mình thì khác hẳn người dân đi bỏ phiếu vì muốn tham gia việc chọn lựa các chương trình chung cho quốc gia. 

Hai chỉ số sau cùng này khác hẳn nhau, chỉ số thứ ba dùng tỷ lệ số dân đi bầu trong các cuộc trưng cầu dân ý thì biểu hiện tinh thần công dân cao; chỉ số thứ tư thì ngược lại, số càng lớn càng chứng tỏ tinh thần công dân thấp. Khi so sánh giữa các vùng, Putnam thấy những nơi có tinh thần công dân cao thì hơn một nửa dân chúng không bao giờ bỏ phiếu chọn đích danh. Còn ở những vùng tinh thần công dân thấp thì hơn một nửa luôn luôn bỏ phiếu bầu đích danh. Nhóm Putnam đã trắc nghiệm bằng phương pháp thống kê học, và thấy chỉ số thứ tư thay đổi theo tỷ lệ nghịch với chỉ số thứ ba; vùng nào cái này cao thì quả nhiên cái kia thấp (diễn tả bằng số đo thống kê r là số âm, r = -91%).

Khi tìm mối liên hệ giữa các Chỉ Số Tinh Thần Công Dân và Chỉ số Thành quả, Putnam thấy hai bên có mối liên hệ rất cao, cao hơn mối tương quan giữa kinh tế và thành quả. Mối liên hệ diễn tả bằng số thống kê r, biểu lộ liên hệ mật thiết giữa hai biến số được trắc nghiệm. Putna thấy số r = 77% khi trắc nghiệm hiệu quả của mức phát triển kinh tế, và r = 92% khi xét đến hiệu quả của trình độ công dân. Tức là Tinh thần Công dân ảnh hưởng tới hiệu quả của guồng máy cai trị dân chủ hơn trình độ phát triển kinh tế!

Khi thấy chỉ số Thành Quả khác biệt giữa các vùng mà không thể giải thích bằng yếu tố kinh tế, như trình bầy ở trên, thì vẫn có thể giải thích do sự khác biệt về Chỉ số Tinh Thần Công Dân. Một thể chế dân chủ mà tinh thần công dân chưa được phát triển thì dân chủ chỉ là hình thức, người dân chưa thực sự tham gia vào các quyết định chung ảnh hưởng đến họ.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét