Thứ Bảy, 24 tháng 9, 2011

Cây Thông

Phan Lạc Tiếp


Nhà văn Võ Phiến, 2010 (ảnh Dân Huỳnh)


Tôi xa đất Bắc gần nửa thế kỷ. Nhớ quê hương khôn tả. Càng lâu, càng xa, nỗi nhớ càng thêm mạnh mẽ. Do đó khi có thể về lại quê nhà được, tôi đã về ngay. Giữa sự lo âu và nỗi bất an, còn đầy những rung động vì những điều nhớ lại. Nhớ vô cùng, nhớ từ những cái chẳng đáng nhớ nhớ đi. Trước khi đi mấy hôm tôi có gọi cho nhà văn Võ Phiến. Ông ngỡ ngàng thấy tôi về Việt Nam thăm quê cũ. Ông nói rất thong thả như vừa nói vừa nghĩ, sợ có điều gì vội vã chăng. Ông bảo: “Ờ anh về... về thật à...”. Dừng lại khá lâu ông mới tiếp: “Ờ, anh chị còn trẻ, anh chị... Tôi, chà! chắc tôi không có cơ hội về thăm lại quê nhà quá...”. Câu chuyện đưa đẩy nói về một vài điều khác, bỗng chốc ông trở lại chuyện quê nhà: “Tụi nhỏ mới qua được đây. Trước khi đi chúng có về lại nơi quê nhà tôi Bình Ðịnh, thăm lại làng xóm cũ. Chà, thay đổi hết trơn. Cái nền nhà cũ nay có một gia đình nào đó cất một túp lều tranh... Chả nhận ra được anh à...”

Nỗi nhớ thương quê cũ của nhà văn Võ Phiến đã lưu lại một góc kín trong lòng tôi. Tôi nhớ từng lời nói, từng đoạn ngập ngừng nơi ông. Trong cái không nói còn “nói” lên bao nhiêu điều xốn xang nhớ tiếc. Vì thế cũng thật tình cờ, ở Hà Nội, tôi có tiếp xúc được với một vài người bạn, những người am tường sinh hoạt văn học nghệ thuật trong mấy thập niên qua. Tôi hỏi: “Liệu ông Võ Phiến về thăm quê nhà lúc này được chưa?” Người ấy cười, thật từ tốn, cúi đầu nói: “Chưa. Chưa được đâu.” Không đợi tôi hỏi thêm, người đó tiếp: “Ở đây người ta đánh giá Võ Phiến rất ‘nặng’. Họ coi ông ta như một vài tay lãnh đạo văn học Miền Nam trước đây và cả ngay bây giờ nơi hải ngoại”. Tôi lặng đi rất lâu, vì không ngờ một người viết văn như ông Võ Phiến lại được “nhìn” kỹ như thế và “nhìn” lâu như thế. Ðịnh hỏi thêm, nhưng thôi, thế cũng là quá đủ. Suốt mấy tuần lễ lưu lại Việt Nam, tôi cứ bị mấy lời nhận định trên đeo đuổi.

Tôi từ lâu vẫn đọc Võ Phiến. Hầu như tôi đã đọc hết các tác phẩm của ông từ trong nước cũng như tại hải ngoại. Ðiều trước hết là tôi gặp được ở ông một tâm hồn rất đỗi yêu mến quê nhà, nơi ông được sinh ra và lớn lên. Tôi theo vết chân chị Lê từ miền quê hương miền Trung loạn lạc. Chị lấy chồng, bỏ chồng, vào Nam... Tôi thấy ông tú Từ Lâm, một người từ thế hệ xưa cũ, đại diện cho cửa Khổng, sân Trình, coi lời của Khổng Tử như khuôn vàng, thước ngọc. Ông tú rồi cũng lưu lạc vào Sài Gòn, rồi gặp lại chị Lê... Câu chuyện của hai người xa quê gặp lại nhau, rồi là câu chuyện của đàn ông và đàn bà... Câu chuyện như thế tưởng như rời rạc, nhưng theo tôi, là những câu chuyện thực, những nhân vật thực ở xung quanh tác giả Võ Phiến. Ông đã liên tục kể lại suốt mấy chục năm như thế, gắn liền với vận mệnh nổi trôi của đất nước. Ông đã phả vào đó, qua những dòng chữ, nỗi xót xa của chính ông về số phận của quê nhà. Nay các người ấy là những ai, như chúng ta đã tan tác, đã tan tác tại quê nhà, tan tác tại khắp các nơi trên mặt địa cầu. Họ, như Võ Phiến, đã bồi hồi xúc động mỗi khi nhớ lại những ngày tháng cũ.

Võ Phiến, qua ngòi bút, ông đâu có dừng lại đơn sơ như thế. Ông thấy cái sai trái, cái bất nhân, tàn bạo của những người làm nên nỗi bất hạnh, chia lià. Ông còn thấy cả, thấy trước cái dụng ý thâm sâu và ác độc của những người chủ trương cuộc chiến. Ý tình ấy bao phủ qua bao nhiêu tác phẩm của ông. Nhưng cụ thể nhất, rõ ràng nhất lại là một bài viết ngắn lấy tên là Bắt Trẻ Ðồng Xanh. Bài viết đâu như được phổ biến vào năm 1968, nói về các cán bộ Việt Cộng, trước đó nhiều năm đã tìm mọi cách bắt đi các trẻ nhỏ tại miền quê Miền Nam, đưa ra Bắc. Các đứa trẻ ấy được tôi luyện, được hướng dẫn để trở thành những cán bộ trở về xâm nghập Miền Nam, tham gia cuộc chiến. Bài viết ấy của ông Võ Phiến in thành sách, được thi sỹ Hà Thượng Nhân dịch ra Pháp ngữ, phổ biến rộng rãi tại hội đàm Paris, sau đó được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác, gây sự chấn động sâu rộng trước diễn đàn quốc tế về sự hiện diện đầy gian trá của Cộng Sản Bắc Việt tại Miền Nam. Ông Võ Phiến, bằng tất cả lòng xót xa, nhân hậu, nhưng đã làm cho Hà Nội căm tức. Ông quả là quá xá tinh tế. Họ sợ cái tinh tế ấy của ông. Và sợ là phải chứ.

*

Sau hai tuần lưu lại Hà Nội và về thăm lại quê cũ Sơn Tây, tôi đã trở lại Sài Gòn để nhìn lại nơi mà tôi đã có hơn 20 năm sinh sống. Tôi không đi bằng máy bay, tôi đã đi bằng xe hỏa, để có thể nhìn tận mắt quê hương dọc theo con đường số 1 từ Hà Nội vào Sài Gòn. Rời Hà Nội với bao nỗi xót xa. Anh tôi, các em tôi, các cháu tôi đưa tiễn. Tôi cầm tay từng người mà lòng phải tự trấn an “cố, đừng khóc nhé”. Xe hỏa chuyển bánh. Ðây là con đường Thống Nhất, con đường chạy qua làng Hà Hồi, nơi trận đánh khởi đầu của quân Nam tiến ra, đại phá quân Thanh năm 1789. Con đường mà có lúc tôi đã vẽ ra trong đầu là mình sẽ từ Nam ra Bắc bằng con đường đó. Xe hỏa cứ chạy, quê hương, đất nước hiện ra tiêu điều... Các địa danh lần lượt trôi qua. Ðây là Thanh Hóa, quê hương của vua Lê, mở đầu một thời lẫy lừng, oanh liệt. Vinh, nơi nhận những quả bom đầu tiên của Không Lực Việt Nam Công Hòa, tưởng đã là tín hiệu mừng vui mở đầu cho cuộc Bắc tiến. Rồi Hà Tĩnh, Ðồng Hới. Hết điạ danh của phía trên vỹ tuyến 17. Bến Hải rồi Ðông Hà, những trận đánh tàn bạo, khốc liệt giữa quân hai bên Nam, Bắc. Nơi đâu là khúc đường oan nghiệt, Ðại Lộ Kinh Hoàng hồi Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972. Huế với những mồ chôn tập thể, ngập những tang thương, tàn bạo, chất ngất bao nỗi đớn đau, thù hận trong dịp Tết Mậu Thân, 1968.

Tàu hoả qua đèo Hải Vân. Từ đỉnh đèo nhìn xuống, những giải núi nhấp nhô ôm ấp Vịnh Hàn. Mặt nước êm xanh, thấp thoáng những con thuyền nâu nhỏ, những cánh lưới trắng căng ra mỏng manh như những màng tơ nhện, hiện lên trên một mặt gương. Hòn Tiên Sa và hải đăng quen thuộc trơ vơ. Gềnh đá sóng vỗ trắng xoá. Ở đó trước đây là Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải. Bây giờ mấy cầu tàu thẳng tắp, trống không, không một con tàu. Chính nơi này, bãi biển này, đúng một tháng trưóc khi Sài Gòn sụp đổ, ngày 30 tháng 3 năm 1975, lớp lớp sóng ngươi trùng trùng tràn tới, xô bung ra biển. Những con tàu của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà, rất đông bè bạn tôi làm Hạm Trưởng, ủi bãi, mở cửa đổ bộ, há miệng đón quân, đón dân. Một biển người trên bờ cát trào ra mé nước. Người tràn kín khắp lòng tàu thật mau, bu đặc cả những pháo tháp, những lối đi. Bỗng những qủa đạn trái phá từ đâu câu tới, nổ bùng ngay trước bãi, và quanh thân tàu. Những xác người tung lên cao, rơi xuống lả tả. Bãi biển bê bết thịt xương, nhòe nhoẹt máu. Tiếng kêu khóc, tiếng súng nhỏ, những tràng liên thanh, tiếng lựu đạn nổ bừa bãi đó đây. Cửa đổ bộ được lệnh kéo lên, người vẫn bám vào như sung, rơi lã chã quanh tàu. Tàu không còn chỗ trống, đặc kịt những người. Tàu lùi, lùi mạnh để cố lết ra. Những quả trái phá vẫn không ngưng, ào ạt câu tới, nổ tung giữa một biển người. Khói, cát mờ mịt. Chân vịt quay. Hai máy lùi, lùi hết. Nước xoáy cuộn ngược về phía trước ào ạt. Những thân người, những cánh tay, những đầu người, những mớ tóc bị cuốn hút trong xoáy nước chan hoà máu đỏ... Người bạn cùng khoá của tôi, sau này kể lại, đứng trên đài chỉ huy cao, vừa ra lệnh cho tàu lùi, tay nắm chặt vào thành ghế, cắn chặt môi mà nước mắt tràn ra đầy mặt... Một làn gió như từ mặt biển êm thoáng thổi về, đưa tôi trở lại với giây phút hiện tại của một người xa nước trở về thăm lại quê hương. Con tàu hoả xuống thấp dần, men theo Vịnh Hàn. Những hàng phi lao chắn ngang tầm mắt. Biển nhoà đi trong nắng vàng mênh mang, mệt mỏi. Ngực tôi nặng, và nước mắt ứ lên đầy mắt. Chợ Cồn và những tiếng người rộn rã gợi nhớ một thủa nào xa.

Tàu hỏa rời Ðà Nẵng xuôi nam. Tôi ngồi thu mình trong toa tàu, nhắm mắt để dằn những xúc động đang đột ngột tràn về. Trơì đã chiều. Quy Nhơn, là đất đai Bình Ðịnh, quê cũ của Quang Trung Ðại Ðế, cũng là nơi mà nhà văn Võ Phiến đã được sinh ra, lớn lên và đã có bao nhiêu kỷ niệm ở nơi này. Ông đã đem bao nhiêu cảnh trí, con người của quê ông vào tác phẩm. Trời chưa tắt nắng, những rừng dừa bát ngát chạy qua, chạy qua. Tôi lấy máy ảnh chụp, nhưng chỉ ghi được một vài mái nhà nhỏ, leo lét mấy ngọn đèn buồn bã. Không biết nơi nào đích xác là quê hương của ông Võ Phiến. Nhưng chắc chắn là cảnh trí này, con đường này ông Võ Phiến đã từng đi qua và ông đã dùng làm bối cảnh cho bao nhiêu là truyện.

Ðặc biệt, với con người yêu quê hương tha thiết ấy, sau khi đã tung hoành mải miết bằng văn xuôi, Võ Phiến đã làm thơ. Lúc đầu Võ Phiến không cho in thơ, chỉ gưỉ biếu một số bạn bè. Ðọc thơ ông, ta thấy được những xúc động bồi hồi từ văn xuôi, như được tóm gọn vào thơ. Ðộ 40 bài thơ, viết từ năm 1943 ở quê nhà Bình Ðịnh, cho đến bài cuối, bài Hôm Qua, viết năm 1994, tất nhiên là viết tại Hoa Kỳ.
Năm 1975, khi rời bỏ đất nước, trong nỗi bàng hoàng, ông đã viết:

Ra đi tuổi chẵn năm mươi
Năm mươi tuổi nữa nào nơi ta về
Ngàn năm mây trắng lê thê.

Bài thơ chỉ có ba câu. Câu cuối sáu chữ bỏ lửng như thế, như một sự bất toàn. Bất toàn cho cuộc sống, cho nỗi khắc khoải nhớ về quê cũ. Võ Phiến chưa về, chưa về được. Nhưng bây giờ tôi đi qua những rừng dừa, quê hương Bình Ðịnh của ông. Ðêm đang xuống. Ðồng xanh đã tím. Dừa bát ngát, âm u. Làng mạc nào xa. Nơi nào “cách đây chừng một kiếp người”, người con trai tên Ðoàn Thế Nhơn, tức Võ Phiến đã nói về mảnh “vườn xưa” vơí người bạn đời bằng những lời thật mềm, thật lạ và thật khéo:

...Một ngôi nhà
Hôm bắt đầu cuộc sống chúng ta
Em nhớ chứ ! cái đêm dài kỳ lạ.
Gió định đến, chợt ngập ngừng, rút lui êm ả ?
Suốt một đêm cây lá nén hơi.
Tàu chuối toan trở mình, nghĩ lại, bèn thôi
Trời gần sáng mới có mưa rón rén
Những sợi nhỏ li ti vừa rơi vừa thẹn.


Mảnh vườn xưa của ông nơi nào, tôi không biết. Qua bao dâu bể, giờ cảnh vật đã khác xưa. Võ Phiến biết thế, nhưng không biết nó thay đổi đến thế nào :


Trên mảnh vườn xưa, giờ tan tác mây bay
Giờ nơi đó là gò hoang ? là ruộng lúa ?
Là hang cáo? Ngách chồn? lơ thơ cỏ úa
Giờ đêm đêm vò võ thâu canh
Trăng thẩn thơ gương con mắt lạnh tìm kiếm một mình


Từ cái “hôm bắt đầu cuộc sống” đến nay trải bao nhiêu mùa xuân nồng nàn, ân nghĩa, Võ Phiến nhớ lại, với tất cả bồi hồi:

Có ai ngửa cổ cười sung sướng
Cổ trắng ngần, ôi... muốn chết luôn
Có ai hất tóc qua vai ấy
Mà đây xao xuyến cả tâm hồn...

Ông bà Võ Phiến, 2010 (ảnh Dân Huỳnh)
Mê mệt nhường ấy, đắm say nhường ấy được nói lên ở cái tuổi “cổ lai hy,” phải kể là đẹp lắm. Một cuộc tình chan chứa ân nghĩa. Cuộc sống ấy đã tạo ra bao nhiêu tác phẩm quý báu cho nền văn học Việt Nam của Võ Phiến. Ðiều ấy bao nhiêu người đã biết, đã nói, đã viết. Bên cạnh những tác phẩm trên, ông bà Võ Phiến đã sinh ra, đã nuôi nấng một đàn con bốn người. Tất cả đều đã thành đạt. Sau biến cố 1975, những người con lớn kẹt lại, với rất nhiều khó khăn, tất cả bốn người con của ông bà Võ Phiến hiện nay đều đã đòan tụ quanh ông bà ở Cali, và đều đã hòan tất bằng cấp, nghề nghiệp tại Hoa Kỳ. Trước sự thành công này, tôi có hỏi ông Võ Phiến: “Anh là công chức, lương ba cọc, ba đồng, chắc chị phải làm gì thêm mới nuôi nổi...” Ông Võ Phiến đáp: “Chúng tôi nhà nghèo, bà xã tôi hồi còn ở Việt Nam chỉ lo nội trợ. Các cháu học trung học ở Quy Nhơn. Khi tôi đổi về Sài Gòn, nhờ anh Doãn Quốc Sỹ chuyển trường hộ. Thì cứ cơm rau, cốt no bụng là được, cố mà học, chứ còn cách nào tiến thân nữa...”

Tôi muốn nói kỹ hơn về những cố gắng, những thành công này, nhưng ông Võ Phiến nói: “Việc nuôi con là trách nhiệm của những người làm cha mẹ. Nói ra có khi như là cách kể công... có lẽ không nên...” Chính những điều ấy càng làm cho tôi thấy được sự bình dị, khiêm cung nơi ông. Một người chồng rất mực yêu thương vợ. Cụ thể là cái bút hiệu Võ Phiến, nghe lạ chứ, nhưng đó chính là khuê danh của bà Võ Phiến được nói ngược lại mà thành. Cho nên bút hiệu của ông gắn liền với những tác phẩm lại chính là tên của bà ở một thời con gái. Thật không có sự yêu thương nào bền chặt như thế, ý nghĩa như thế. Lòng yêu mến ấy toả rộng là tình yêu người, yêu đất nước dàn trải trong hàng ngàn trang sách, thấm đẫm vào bao nhiêu tâm hồn người đọc, miệt mài trong mấy thập niên. Nghĩ thế, tôi phải dùng chữ của chính ông mà kêu lên rằng: “Ồ đằng anh, quá xá”.

Ở Miền Nam tự do, ông Võ Phiến còn là người được mời làm giám khảo Giải Văn Học Nghệ Thuật, giải văn chương cao quý nhất của quốc gia, do Tổng Thống trao tặng. Ông đảm nhiệm công tác này nhiều năm, mặc nhiên được công nhận như một vị đàn anh, vừa có tài năng về văn học, vừa có tư cách và vô tư trong việc tuyển chọn. Ðiều này ông Võ Phiến đã rất khiêm tốn mà nói rằng: “Những người chọn giải, tiếng gọi phổ thông trên báo chí là những người giám khảo. Cụ Vy huyền Ðắc đề nghị dùng một danh từ chính xác là Hội Ðồng Tuyển Trạch Giải Thưởng. Như thế nghe vừa khiêm tốn vừa đúng nghĩa hơn. Vì có thi cử, có khảo thí đâu mà làm giám khảo.”

oOo

Một cách tổng quát, nhắc đến Võ Phiến là nhắc đến tiểu thuyết. Vì ông viết loại này nhiều nhất và tất nhiên rất đạt. Mấy chục tác phẩm đã được xuất bản. Nhưng với tôi, tôi nghĩ khác. Nét đặc thù nhất của Võ Phiến là Tuỳ Bút. Tuỳ Bút là một loại văn phóng túng, không cần viết dài, nhưng không phải là dễ viết. Vậy mà Võ Phiến đã viết tuỳ bút khá nhiều. Vào thế giới của Võ Phiến, với tôi là lạc vào một vùng trời của những điều tưởng là đơn giản, tầm thường, lại hoá ra thật là kỳ thú. Qua tuỳ bút, Võ Phiến đưa ta lang thang từ vùng này qua vùng khác. Ta vừa ở trên vùng cao nguyên, với núi cao, cây cối bạt ngàn, bỡ ngỡ với những thổ âm xa lạ, ông lại đưa ta về một vùng “đồng không mông quạnh... Những đám khói đốt ở chân trời trong nắng trưa, sao mà xúc động cảm hoài... những đám khói ấy ùa lên trong giấc mơ. Và giấc mơ, không gian mênh mông lại càng vắng lặng, khói tỏa càng chậm, càng bát ngát...” Thật chẳng có gì, thật đơn sơ, nếu không nói là nghèo nàn cô quạnh, nhưng ta thấy như khói cay đầy mắt và thương quá quê hương, đất nước mình.

Ở một chỗ khác, Võ Phiến như cười cợt, nhưng lại rất chi tiết cho ta biết các cụ, ông cha ta ở cuối thế kỷ trước đã ăn mặc ra sao: “Người nghèo khổ chỉ có manh áo cánh và thường thì đóng cái khố... Người sung túc thì mới có vài cái áo nâu đen và vài cái quần hoặc nhuộm nâu, hoặc để trắng.” Ông trích dẫn lời của Lệ Thần Trần trọng Kim và đã nêu lên như thế. Ở một chỗ khác, ông lại nói về vẻ đẹp của cái áo dài của phụ nữ Việt Nam một cách thật tinh vi và cũng thật là dí dỏm: “Nhìn vào một người nữ mặc áo dài, sau khi bị khích động vì cái phần trên, mắt lần dò xuống, thì ở phần dưới lại chỉ thấy... gió.” Thật thế, cái duyên dáng của tà áo dài là lúc người mặc nó đi lại, tà áo lúc khép lúc mở, lúc cuống quýt, lúc lả lơi bay, để phần thân yêu kín đáo như mời, như giữ, như vui, như thẹn và chính là gió đã lay động tài tình, tinh quái tạo nên.

Võ Phiến đã viết về cái mặc mà không quên cái ăn, cái uống. Ðiều nào dưới bút pháp của ông cũng trở nên duyên dáng, quyến rũ lạ lùng. Mà biết ăn là biết dùng gia vị, nên “ăn” ở Võ Phiến bắt đầu từ “ăn mùi”. Ông đã “Theo Chân Món Ăn” từ Bắc vô Nam, ra Huế. Ông nói đến nhiều thứ lắm, nhưng ông không quên cái bánh tráng nhỏ mà dân Bình Ðịnh quê hương ông ăn thay cơm. Cái bánh tráng đơn sơ ấy còn được coi như một thứ lương khô mà đoàn quân dũng mãnh cuả Quang Trung Ðại Ðế đã sử dụng trên đường tiến quân ra Bắc, đại phá quân Thanh vào mùa xuân năm 1789. Cứ mỗi món ăn ông tả, tôi lại phải gấp sách lại để cười một mình. Món ăn tầm thường của người Việt mình sao mà ngon thế, và ngon hơn hết là bút pháp của ông. Xin quý vị hãy cùng vơí Võ Phiến ghé quê hương ông để cùng thưởng thức một thứ chè (trà) rất lạ: “Anh Ba Càng Cua mỗi sáng nhất định phải điểm tâm một bát thật đậm rồi mơí ra đồng cày bừa được, mà hễ đã uống nước rồi là khỏi cần ăn; ông Tư và ông Tam Khoang vẫn cầm cự nhau suốt ba mươi năm nay: Ông này mỗi lần hai bát thì ông kia cũng vẫn cũng giữ vững đủ hai bát mỗi lần; ở làng kia có người uống một lượt đến ba bát Bài Thơ; thôn kia có ông lão hai bát gặp được chàng trai hai bát rưỡi, lấy làm khoái, gả ngay con gái cưng cho...”. Gớm thứ trà gì mà lạ lùng, quyến rũ thế. Phải mở ngay Tuỳ Bút cuả Võ Phiến ra mà đọc lại bài “Hạt Bọt Trà” mới thâý được sự sảng khoái của người dân Bình Ðịnh uống trà, “uống một hơi bảy chén, đến nỗi gió dậy dưới nách ào ào...” Khiếp quá ! uống trà đến lúc “gió dậy dưới nách ào ào”, tôi chưa thấy ở đâu như thế. Quê tôi, Sơn Tây, cũng có thói uống nước chè tươi, cũng uống cả bát lớn. Uống rồi mồ hôi vã ra như tắm thì có, chứ chưa thấy ai uống nước chè mà gió lên ào ào từ nách. (Thực ra Võ Phiến muốn nhắc đến câu thơ danh tiếng của Lư Ðồng, bài Thất Uyển Trà: Thất uyển khiết bất. Duy giác lưỡng dịch tập tập thanh phong sinh.)

Còn bao nhiêu điều nữa mà ông Võ Phiến đã liên lỉ viết lại qua thể tuỳ bút. Nhiều lắm. Lúc còn ở quê nhà, tôi có nhiều khi lênh đênh trên biển, thơì gian thừa như vô hạn. Sau những phiên hải hành, không ngủ được, lật tờ Bách Khoa ra, theo chân Võ Phiến, thật là thích. Mình không có cơ hội lân la nơi này, nơi khác, chỉ đọc Võ Phiến, Tuỳ Bút mà như được thấy tất cả, thật tỉ mỉ và cũng thật là hữu ích. Bây giờ xa đất nước quá, những cái tưởng như chẳng đáng nhớ âý, đọc lại Tuỳ Bút cuả Võ Phiến, còn thích thú hơn nhiều. Từ thói quen ghi nhận, ông đã để cho chúng ta một kho tàng. Ông quả là một người yêu người và yêu quê hương lắm lắm.

Vậy mà đã hết đâu. Từ 1975 đến nay, chúng ta lạc loài ra xứ lạ, không thiếu những người vì không thích ứng với hoàn cảnh mới, đã trở nên hỗn loạn. Hỗn loạn tinh thần và hỗn loạn gia cảnh. Trong hoàn cảnh ấy, ai giữ được gia đình êm ấm đã là quý lắm. Cũng từ hoàn cảnh này, trong cộng đồng người Việt chúng ta, bỗng bùng lên một nhu cầu bày tỏ tâm tư mà hiện tượng rừng báo nổ ra ở khắp mọi nơi có đông đảo người Việt cư ngụ. Ông Võ Phiến, với một tâm hồn nhạy cảm, với khả năng sử dụng ngòi bút tinh tế như thế, mà ông không làm báo. Ông lại làm công chức cho sở thuế, một việc chẳng liên hệ gì đến văn chương. Bà Võ Phiến, vốn là một người nội trợ, như ông tiết lộ, lại làm việc trong văn phòng luật sư đằng đẵng trên 20 năm. Thật lạ. Nhưng sau những giờ cặm cụi vơí hồ sơ, vơí công việc để chu toàn cuộc sống, ông Võ Phiến vẫn không quên cái nghiệp, hay trách vụ cuả một nhà văn. Ông vẫn viết đều : Thư Gửi Bạn, rồi Lại Thư gửi Bạn. Trong những lá thư gửi bạn ấy, đã chất chứa những nỗi niềm của người Việt trên đất tạm dung. Những bàng hoàng, xa lạ. Những u uất nhớ nhung. Nỗi đắng cay lồng trong sự tủi mừng được sống trong môi trường tự do, dân chủ và no ấm cùng bao nhiêu điều bỡ ngỡ, khó khăn. Khó khăn từ lời ăn tiếng nói, từ cách cư xử với người xung quanh. Với những thế hệ sau, lớn lên ở đất nước người, chúng như những con cá bơi trong hồ nước rộng. Nhưng sẽ có lúc chúng soi gương để biết chúng, dù thế nào, cũng khác với những người dân bản xứ. Chúng sẽ tự hỏi : Ta là ai. Ông cha ta đã đến đây khi nào, ra sao... Lúc ấy, những ghi nhận tưởng như đơn sơ trong Những Lá Thư Gửi Bạn, sẽ là chìa khoá cho con cháu chúng ta tìm về với cội nguồn, nếu chúng còn có chút quan hoài, băn khoăn tìm hiểu. Những lá thư đơn sơ ấy sẽ quý báu biết là bao nhiêu.

Viết lách như thế dù thế nào cũng chỉ tuỳ thuộc vào cái nhìn, cái thấy rất đỗi chủ quan của tác giả, có thể đúng, có thể sai, có thể thiếu sót, mặc “Ấy tôi thấy thế nào thì viết thế ấy”. Rồi đùng một cái ông Võ Phiến cho nhà Văn Nghệ in cuốn Tổng Quan 20 Năm Văn Học Miền Nam. Ðiều này phải nói là rất đỗi ngạc nhiên. Thời gian đâu, tài liệu nào khiến ông làm được công việc ấy. Ðây đâu phải chuyện chơi. Phải nói có sách, mách có chứng. Vậy mà nó đã thành. Cuốn sách ấy đã được một người bạn văn kiêm hoạ sỹ, Võ Ðình dịch ra Anh ngữ. Nhờ đó, cuốn sách như có cánh bay xa, nhiều thư viện Mỹ, Úc, Pháp mua, lưu trữ và nghiên cứu. Và tất nhiên nó cũng theo chân người Việt về đến quê nhà, gây nên những xốn sang, tìm hiểu của rất nhiều người. Riêng Ðại Học Úc đã dùng cuốn sách này làm tài liệu giảng huấn về Văn Học Miền Nam. Nhân buổi họp mặt cuối năm tại nhà thi sĩ Trúc Chi, hôm 29 tháng 1 năm 1995, tôi có nêu thắc mắc này, ông nói: “Tiếng nói của cả Miền Nam thể hiện qua hơn 20 năm văn học phải đưọc giữ lại chứ. Lúc này họ (Cộng Sản Hà Nội) cả vú lấp miệng em. Nhưng tài liệu mình cụ thể, mình chịu khó sưu tầm, lưu giữ, sau này sự thực sẽ có ngày sáng tỏ.” Tôi vẫn băn khoăn, hỏi: “Anh làm việc này khi nào”, ông tiếp: “Tôi có biết uống rượu đâu, già rồi, đi lại cũng ngại, nên chỉ còn cái thú đọc sách, nhờ đó tôi cũng đọc được nhiều...” Ôi, công tác to lớn như thế, cụ thể như thế, ông đã lặng lẽ làm việc một mình. Thật là kiên trì, nhưng cũng đầy can đảm. Can đảm vì ông đã không ngần ngại đưa ra những nhận định rất đanh thép đối với một số tác giả, tác phẩm. Những người ấy là những người từng sinh hoạt với ông, quanh ông, là những bè bạn thân quen từ nhiều năm trước cũng như sau này ở trong nước cũng như ở hải ngoại. Năm 1986, cuốn Tổng Quan trong bộ Văn Học Miền Nam ra đời.

Sau khi tác phẩm này được phát hành, ông Võ Phiến phải liên tiếp mấy lần vào nhà thương giải phẫu tim. Phải chăng qua những lần kề cận với nguy nan, giáp mặt vơí tử thần, khiến ông có những tư tưởng xa lià cuộc sống:

Ta nằm trong đất cười ra
Tan hoang nhân thế những ta cùng người
Ta nằm lòng đất ta cười.

Ghê quá. Lời thơ ông như vẳng lên từ trong phần mộ. Nhưng nghĩ cho cùng, chính những câu thơ buồn bã này, ở một góc cạnh khác lại là cách yêu đời quá đỗi. Vì yêu đời nên lo cho đời quá. Không phải ông lo riêng cho thân phận người Việt mình, có lúc ông lo cho cả loài người, cho cả nhân loại ở thế kỷ 21 tới đây và hàng ngàn năm sau đó. Ông đã thổ lộ:

Chính phen này, chính thiên niên kỷ tới đây
Sẽ quyết định sự mất còn của loài người và quả đất
Ôi quả đất cứ mỗi ngày mỗi chật
Mỗi xác xơ, bẩn thỉu, mỗi bơ phờ
...
Nghìn năm nữa, người bao nhiêu trăm tỷ
Muôn vật không còn, năm châu bốn bể
Quờ tay ra người toàn chạm phải người
Biết lấy gì ăn, biết lấy gì nuôi

Ông lo như thế có quá đáng lắm không. Có lẽ ông đã lo xa quá thật. Nhưng dù thế nào đó cũng chỉ là những dự phóng để lo âu.

Suốt cả mâý chục bài thơ hoàn tất ở cái tuổi tưởng chẳng ai có quyền đòi hỏi ở ông gì nữa, nhưng chúng ta vẫn gặp được nhiều bài thật hay, thật tha thiết, chan chứa những mặn nồng, những lo toan cho người bạn đơì, khi nghĩ về nỗi cô quạnh cuả nhau. Ông viết thật ngậm ngùi :

Ta nằm thừa thãi giữa đời
Nghĩ em thừa thãi đứng ngồi nơi nao.

Ðến đây ta thấy tấm lòng của nhà văn Võ Phiến mở ra thật đôn hậu, với người thân, kẻ sơ và với cả mọi người. Việc đời với ông có thể coi như một làn gió thoảng. Do đó tôi đã kết thúc bài viết với những lời sau:

Thưa anh Võ Phiến,
Xin anh hãy thảnh thơi an hưởng tuổi già. Sự hiện diện của anh trong cuộc sống là một tấm gương trong sáng. Ðược nhìn anh đi lại, nói cười, được nắm bàn tay ấm áp của anh, với tôi, và tôi nghĩ, nhiều bằng hữu và độc giả bốn phương, đều rất lấy làm vui sướng. Anh như một cây thông mọc trên đỉnh núi, gió thổi trùng trùng, nhưng thân cây vẫn thẳng, cành lá lúc nào cũng rất xanh tươi, tỏa bóng mát rộng lớn cả một vùng.
Tôi xin dừng bài viết ở đây với cả một tấm lòng quý trọng.


(Tôi cũng đã ghi ngày hoàn tất bài viết này: 24 tháng 4 năm 1995).

*

Nhưng không, trong lặng lẽ của tuổi già, Võ Phiến vẫn không ngưng nghỉ, ông vẫn làm việc miệt mài. Cuốn Tổng Quan Văn Học Miền Nam mới chỉ là cái sườn, những điều tổng quát mà thôi. Như chạy thi với ngày tàn của thế kỷ, một thế kỷ chất chứa những tang thương, cuối năm 1999, ông cho nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành bộ sách khổng lồ 3232 trang: Văn Học Miền Nam. Riêng về Truyện có 3 tập, đề cập đến 50 tác giả. Ký, 22 tác giả. Các cuốn khác gồm Kịch, Tuỳ Bút và Thơ đề cập đến 58 tác giả. Trong tổng số 3232 trang có 1667 trang do Võ Phiến viết và 1561 trang trích của 118 tác giả. Tất cả những điều ấy, phải công bằng mà nói, Võ Phiến đã vì danh dự của Miền Nam mà thực hiện. Công trình đó là một đóng góp rất lớn lao, vô giá mà theo tôi, chúng ta có quyền hãnh diện và mang ơn tác giả.

Nói như thế không phải đây là một công trình toàn bích. Vì làm gì có sự toàn bích trong địa hạt nhân văn, vì chính những định luật của nhân văn đã không tất yếu. Do đó công trình của Võ Phiến không sao tránh khỏi những thiếu sót, càng không thế làm vừa lòng được tất cả mọi người. Nhưng ít nhất, trong hoàn cảnh tan hoang, chia lìa, thất thế của Miền Nam, công trình của Võ Phiến đã là một thông điệp cụ thể phản ảnh nếp sống đẹp đẽ, sung túc và chứa chan nhân phẩm của Miền Nam, vượt xa xã hội của kẻ thắng trận là Miền Bắc. Công trình ấy đã để lại cho hậu thế, cho những ai muốn tìm hiểu về 20 năm sinh hoạt rất phong phú của Miền Nam.

Sự mong đợi của Võ Phiến, hay cũng là sự mong đợi của những ai hằng có chút quan hoài như ông, may thay đã không phải đặt vào một khoảng thời gian xa tắp ở tương lai. Nó đã xẩy ra một cách đột ngột và cũng thật là đẹp đẽ. Một số sách của Võ Phiến đã được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tiệp và do những nhà xuất bản lớn phát hành. Nhưng đó mới chỉ là những thử nghiệm, một thứ “quà mới lạ” trước thị hiếu của Tây Phương. Những biến cố sau đây, theo tôi, mới là những đánh giá trân trọng trước những công trình trước tác của Võ Phiến: đó là những luận án trình tại các đại học Paris, Pháp quốc. Cho đến nay, theo chỗ chúng tôi được biết, có hai luận án cao học (mémoire de maitrise):
- một của bà Anne-Marie Aniel, năm 1986, tại Ðại Học Paris III.
- Một nữa của bà Phan thị Minh Lê, năm 1990, cũng tại Ðại Học Paris III

Và một luận án tiến sĩ của bà Trương thị Liễu, trình ngày 9-10-2001 tại Ðại Học Sorbonne, Paris III. Luận án này viết về đề tài “Võ Phiến, culture nationale, lectures occidentales”, dày ngót 600 trang, được Hội Ðồng Giám Khảo đồng thanh cấp danh vị Tiến sĩ tối ưu với lời khen (Mention très honorable avec Félicitations du Jury). Luận án này sẽ được xuất bản trong loại sách Tương Lai của Quá Khứ (Avenir du Passé), của nhà xuất bản Harmattan, Paris.

Từ trước tới nay, nếu tôi không lầm, thì chúng ta mới chỉ nghe thấp thoáng một vài học giả tại các đại học Tây phương, tìm hiểu và viết luận án về một vài danh nhân trong lịch sử Việt Nam, những người đã được thời gian gạn lọc, danh vị đã được xác định chắc chắn và vượt ra ngoài những ảnh hưởng của chính trị.

Ở trường hợp của nhà văn Võ Phiến thì khác. Khác hẳn. Phải chăng, đây là trường hợp đầu tiên một tác giả Việt Nam còn sống mà công trình trước tác của mình đã được biết đến và vinh danh như thế. Với tôi, vinh dự này không chỉ dành cho người làm luận án, càng không phải chỉ là cho nhà văn Võ Phiến, mà đó là một vinh hạnh cho nền văn học của Miền Nam, cũng như cho cả Việt Nam. Nhưng dù thế nào, thành quả ấy do hàng ngàn trang sách của Võ Phiến, phản ảnh cảnh huống, sinh hoạt của Miền Nam mà có, trong đó tất nhiên đậm nét nhất phải là hình ảnh quê hương Bình Ðịnh thân thương của Võ Phiến. Một nét son trong sinh hoạt văn học thế giới có lóng lánh hình ảnh của đất nước chúng ta, trong đó không thiếu những nét bi hùng của quân dân Miền Nam chống lại cuộc xâm lăng quỷ quyệt, đầy man trá đến từ Phương Bắc. Trong ngắn hạn Miền Nam đã thua. Nhưng trong đường dài của tình tự dân tộc, của nhân phẩm, người Miền Nam nhân hậu bắt đầu được vinh danh, mà phải chăng, Võ Phiến chỉ là điểm khởi đầu. Một cánh cửa đẹp đẽ đã rộng mở, mời đón những thế hệ tương lai. Tương Lai khởi đi từ Quá Khứ (Avenir du Passé).

Thưa anh Võ Phiến, anh có thể hoàn toàn yên tâm được rồi.


Ðược hỏi về niềm vui này, ông Võ Phiến đã cười đùa mà nói: “ . . . những luận án ấy là công trình của người soạn thảo, nghiên cứu đề tài, chứ đâu phải công trình thành tích của tôi. Ví dụ Giáo Sư Phạm Hoàng Hộ ra sách nghiên cứu về cây rau muống, thì đó là công trình của Giáo Sư Phạm chứ đâu phải của cây rau muống. Rau muống khoe khoang e lộn chăng.” Một lời nói bông đùa, ý nhị, tự tại, đầy khiêm cung và cũng thật vô cầu.

Với tôi, Võ Phiến đúng là một cây thông già mọc trên đỉnh núi, bốn mùa cây lá lúc nào cũng rất xanh tươi.

Phan Lạc Tiếp
Viết thêm và sửa chữa xong ngày 1 tháng 9 năm 2002.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét