Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2011

KHÚC NHẠC MÙA HÈ

Phạm Xuân Đài


Mỗi một thế hệ có một ký ức riêng về “khúc nhạc hè” của mình. Đó là những bài hát đã đến với ta từ thuở tâm hồn mới mở ở tuổi thiếu niên cùng với mùa bãi trường, khi một vũ trụ ngời ánh nắng bao phủ lấy ta trong những giấc mộng lung linh. Có bao nhiêu thế hệ người Việt Nam hiện nay mỗi khi hè đến lại thấy vang lên trong tâm hồn những câu ca:

Hè về! Hè về! Nắng tung nguồn sống khắp nơi
Hè về! Hè về! Tiếng ca nhịp phách lên khơi
Đầu ghềnh suối mát... reo vui dào dạt
Ngợp trời gió mát... chân mây phiêu bạt
Hồn say ý chơi vơi
Ngày xuân thắm nét cười
Lòng tha thiết yêu đời...



Những câu hát ca ngợi Mùa Hè bất hủ một thời – thời đầu thập niên 1950 - của nhạc sĩ Hùng Lân. Chúng đã đến với tâm hồn niên thiếu và ở lại mãi, khi những cô cậu thiếu niên của thời ấy đã già, và mỗi khi ánh nắng hè làm vang lại câu hát Hè Về thì tâm hồn họ tức khắc quay về với thời mới lớn...

*

Thời gian cùng với cuộc sống trôi đi như chiếc xe vùn vụt lao về phía trước. Nó liên tiếp đi qua những vùng xuân hạ thu đông trong chu kỳ bất tận của hệ mặt trời, và tâm hồn con người trong cỗ xe ấy cũng tiếp tục rung động khi mở ra đón nhận những nỗi niềm xuân hạ thu đông tuy rất cũ trong một chu kỳ lặp lại, nhưng cũng rất mới với những cánh cửa lòng vừa mở ra bỡ ngỡ.

Người già tóc trắng ngồi nghe buổi hòa tấu nhạc mùa hè của đám con cháu tuổi teen, lòng cảm nhận cái bát ngát của tuổi hoa niên hiện tại, lẫn chút bùi ngùi vui sướng khi nhớ lại bầu trời hè xưa cũ của mình. “Bùi ngùi vui sướng”? Đúng vậy, một chút nhớ tiếc thời đã qua với rất nhiều vui mừng khi nhìn thấy những tài hoa trẻ trung đang nở rộ, thấy cái chu kỳ cuộc sống vẫn quay, nhưng mỗi vòng quay mới lại thêm sáng tạo, thêm hương sắc, thấy đám con cháu của mình vẫn như mình ngày xưa vui sướng với ánh nắng hè, nhưng tâm hồn thăng hoa tưng bừng hơn, tinh tế hơn, giàu có hơn.

*

Summer Concert 2011. Vietnamese American Philharmonic (VAP). Rose Center Theater, Westminster. August 13.

Mùa trình diễn mùa hè lại đến, khi buổi mùa xuân ngỡ mới hôm qua, và buổi mùa đông đang chờ trước mặt. Chủ đề buổi trình diễn mùa hè: Nhạc Phim. Một loại nhạc đặc biệt mang trong nó nhiều trạng thái, tình huống, sáng tươi hoặc u ẩn, và nhất là sẽ gợi nhiều kỷ niệm của giới ghiền phim lẫn giới yêu nhạc.


Âm nhạc và phim ảnh luôn đi sát nhau như hình với bóng. Phim không thể thiếu nhạc, vì nhạc là cái hồn ẩn hiện theo sát diễn tiến của phim. Đó là tiếng nói của hình ảnh. Là âm thanh của cảm xúc, của hoàn cảnh, của tình huống. Không có nhạc, cảnh sẽ chết, diễn xuất sẽ trơ dù tài hoa đến mấy. Nhạc là cái bè nâng đỡ làm cho cuốn phim không bị chìm nghỉm vào dòng sông của vô cảm. Nó là hơi thở của sự sống, khi có hơi thở ấy phà vào, phim mới được mở mắt sinh ta đời.

Vậy mỗi bài nhạc phim là một thế giới chứa đựng tất cả phần hồn câu chuyện mà phim muốn kể bằng hình ảnh. Người sáng tác nhạc phim được coi như nhà viết kịch bản lẫn đạo diễn cuốn phim ấy, về mặt âm thanh. Trong phim, hình ảnh và âm thanh trộn lẫn vào nhau thành một tổng thể, người xem khi theo dõi diễn tiến của phim có thể không ý thức mấy về sự hiện diện của dòng nhạc, nhưng thiếu nó thì sự thưởng ngoạn sẽ lập tức phản ứng bằng một dấu hỏi lớn. Người ta biết ngay là thiếu một cái gì đó rất quan trọng, chẳng khác nào sự hiện diện một người thân trong gia đình, thường ngày vẫn có đó thì ta không để ý, khi người đó đột ngột vắng đi thì ta mới nhận ra khoảng trống mà người ấy để lại. Nhạc đối với phim hầu như là “phần hồn” không thể thiếu, không có nó thì sự hiện hữu chỉ còn là cái xác... không hồn.

Thế nhưng khi tách rời âm nhạc ra khỏi hình ảnh của phim, âm nhạc vẫn đủ sức đứng một mình như một tác phẩm riêng biệt không cần phải có hình ảnh để hỗ trợ cho nó. Hình ảnh mà không âm thanh hỗ trợ có thể bị què quặt đi, nhưng nhạc phim tự nó là một tác phẩm hoàn chỉnh để người nghe có thể thưởng ngoạn độc lập. Và nhạc phim gần như thành một thể loại riêng, người ta nghe nó có thể với một ký ức là những hình ảnh của phim mà mình đã coi với những xúc động do hỗn hợp hình-tiếng tạo nên, nhưng cũng có thể thưởng thức thuần túy âm thanh, nhất là với những người không coi phim.

Rất nhiều bản nhạc phim đã đứng vững với thời gian sau khi phim đã lui vào dĩ vãng. Dĩ nhiên trong thịnh thời của phim, nhạc có nhờ phim mà được ưa thích, được phổ biến rộng, nhưng khi phim đã xong cái thời của mình, nghĩa là được xếp vào kho “phim cũ”, nhạc phim vẫn tiếp tục có đời sống riêng của nó. Một bản nhạc như Chanson de Lara đi với phim Bác sĩ Jhivago ra đời từ bốn thập niên trước, người đã coi phim ấy ngày xưa bây giờ nghe lại bản nhạc cảm thấy thổn thức vì mối tình lãng mạn trong khung cảnh ác liệt của cách mạng Nga với hình ảnh đôi tình nhân ngồi trên xe trượt tuyết trên cánh đồng trắng xóa (hay thổn thức vì hoài niệm mối tình của chính mình thời đó, cũng vẫn được). Nhưng một người trẻ hơn được nghe bản nhạc ấy tại Việt Nam trong thập niên 1980 khi phim đã bị cấm chiếu, lại có một tình cảm yêu thích bản nhạc khác với lớp người được coi phim thời trước. Âm điệu tiếng đàn cổ của Nga gợi nên nỗi dìu dặt thiết tha riêng không cần hình ảnh lãng mạn để “minh họa”, người nghe vẫn cảm được cái tình nồng cháy trong bản nhạc.

Nói chung, nhạc phim có nhiều bản giá trị có thể chiếm lĩnh thế giới “nghe” một cách lâu dài và độc lập, rất nhiều khi chính cuốn phim mang nó không còn được yêu thích nữa và đã đi vào quên lãng, nhưng nhạc thì vẫn được tiếp tục nghe và được yêu mến dài dài.

*

Các bản nhạc phim trong chương trình hòa nhạc của VAP hôm 13 tháng Tám được chọn lọc kỹ, mỗi bản mang một sắc thái độc đáo riêng, được tập dợt chu đáo, và suốt 19 bản được trình diễn (chưa kể bản chót làm quà tặng thêm cho khán giả) đều do nhạc trưởng Nguyễn Khánh Hồng điều khiển. Tiếng nhạc vọng lại từ nhiều thời đại.


Xa nhất là Smoke Gets In Your Eyes từ cuốn phim tình cảm Roberta của đạo diễn William Seiter phát hành năm 1935. Bài này không xa lạ với những người yêu nhạc tại miền Nam trước 1975, thời đó phim này ít được chiếu vì đã thuộc về loại cũ lắm rồi nhưng bài hát vẫn còn rất thịnh hành. Bây giờ nghe Bích Vân hát “sống” cùng với ban nhạc, nhiều người lớn tuổi cảm thấy bồi hồi...

Xa thứ nhì là nhạc từ phim West Side Story, đoạt 10 giải Oscar vào năm 1961. Cũng có một chuyện tình lãng mạn kiểu Romeo và Juliet, nhưng trong bối cảnh của thời hiện đại (thập niên 1950), phim West Side Story hấp dẫn, mạnh mẽ, ly kỳ hơn. Có lẽ vì những tính chất ấy của câu chuyện, nhạc phim này, do Leonard Bernstein soạn, cũng phức tạp, tế nhị, nhiều dáng vẻ nhằm diễn tả nhiều tình huống khác nhau. VAP Symphony Orchestra trình diễn xuất sắc.

The Sound of Music là một bộ phim ca nhạc của đạo diễn Robert Wise, phát hành năm 1965, được thực hiện dựa trên vở nhạc kịch cùng tên của Broadway, với các bài hát do Richard Rodgers và Oscar Hammerstein II viết. Bộ phim được trao giải Oscar cho phim hay nhất của năm 1965 và là một trong những phim ca nhạc nổi tiếng nhất từng được thực hiện. Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ đã chọn The Sound of Music để bảo tồn ở Kho lưu trữ phim Quốc Gia Hoa Kỳ vào năm 2001. Giọng ca tầm cỡ của Ngọc Hà đã chuyển tải trọn vẹn một bài hát đòi hỏi kỹ thuật rất cao trong tiếng nhạc được viết phối âm bởi nhạc sĩ Lê Văn Khoa.

Thuộc loại nhạc “xưa” còn có bản Where Do I Begin từ phim Love Story, từng được chiếu tại Sài Gòn năm 1970. Lại một chuyện tình vừa đẹp đẽ vừa bi thương, mà bài hát đã là biểu tượng tình yêu nổi tiếng thế giới. Giọng hát khỏe mà trữ tình của Phạm Hà diễn tả sâu niềm hạnh phúc lẫn nỗi đau khổ của một câu chuyện tình, thật ra không khác những câu chuyện tình của thế gian này, thế nhưng tồn tại mãi nhờ bài nhạc bất hủ.

Đó là những bản nhạc phim tương đối “xưa”, đã đến với người dân miền Nam trước 1975, đã ít nhiều góp phần vào đời sống tình cảm của một số người. Nay nghe lại trong một buổi trình diễn sống động, người lớn tuổi của cộng đồng Việt Nam tị nạn không khỏi bâng khuâng bắt gặp lại một chút quá khứ, đồng thời nhận ra rằng những giai điệu đến với mình từ những cuốn phim đã xa không ngờ vẫn còn giá trị và được yêu thích đến thế trong thời hiện tại.

Nếu nhạc của những phim xưa hầu hết được diễn tả bằng một bài hát thì những phim gần đây hơn, của thập niên cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 đều được trình diễn dưới dạng hòa tấu. Có thể vì đề tài của những phim nổi tiếng trong hai thập niên qua nằm trong những bối cảnh rộng lớn, mang tính cách viễn tưởng của cuộc chiến tranh của những vì sao hay người nhện, mà ngay khi cốt truyện là tình yêu thì cũng lồng trong một khung cảnh quy mô vĩ đại của một vụ đắm tàu đầy huyền thoại. Không bài hát nào chuyển tải nổi những diễn tiến và cảm xúc nhanh như sao xẹt, giữa một không gian rộng lớn ngợp người. Chỉ một giàn giao hưởng mới đủ khả năng âm thanh và tiếng động để diễn tả một thứ như là tiếng gọi của vũ trụ của Star Wars; những khúc mắc mang màu sắc ma quái từ câu chuyện trường thiên giả tưởng phiêu lưu Harry Potter của tiểu thuyết gia người Anh JK. Rowling; trận đắm tàu Titanic “hoành tráng” trong đó điểm xuyết nét lãng mạn và thương tâm của một mối tình chớm nở; những thế giới mới mẻ, lung linh mê hoặc mà rất đáng yêu của các phim hoạt họa Walt Disney... Toàn là những nét nhạc tuyệt vời của những tác gia trứ danh như Henry Mancini (The Pink Panther), John Williams (Suite from Star Wars), Hans Zimmer và Lisa Gerrard (với những tư tưởng âm nhạc thể hiện một cách hoang dã, mãnh liệt trong Gladiator), Alan Menken (A Whole New World) v.v... Mỗi bản nhạc là một thế giới, có thể bao la mênh mông hay thầm kín sâu thẳm, có thể dữ dội ác liệt hay tươi vui nhí nhảnh, có thể rất cổ điển xưa cũ hay đầy sáng tạo mới lạ. Người nghe được dẫn vào nhiều câu chuyện vào hạng đặc sắc nhất chinh phục toàn thế giới của nền điện ảnh Mỹ, nhưng chỉ với âm thanh, thuần túy âm thanh, từ đó lãnh hội được sức mạnh diễn đạt kỳ lạ của âm nhạc trong bất kỳ tình huống nào mà con người có thể gặp phải.

*

Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ - VAP đã làm được nhiều việc. Đào tạo âm nhạc cho con em của cộng đồng là một việc trường kỳ để vun đắp năng khiếu nhạc cho tuổi trẻ. Đào tạo đến đâu lại tổ chức trình diễn để khẳng định từng bước đi của từng lớp tuổi: VAP Children Orchestra gồm các nhạc sĩ nhí với những cây vĩ cầm bé tí teo, VAP Youth Orchestra dành cho tuổi thiếu niên tài nghệ đã khá vững vàng, và mới đây đã thêm VAP Symphony Orchestra để khẳng định một trình độ đã trưởng thành, một ban giao hưởng đúng nghĩa.

Dù còn non nớt hay đã thành nhà nghề, ban nào trình diễn cũng lộ một phong cách riêng chứng tỏ sự huấn luyện và tập tành tới nơi tới chốn. Nhi đồng (Children) thì chơi những bài đơn giản vui tươi nhí nhảnh nhưng từ việc xếp hàng ra sân khấu, ngồi vào chỗ cho đến cách kéo đàn rập ràng lên xuống đều rất nề nếp, nghiêm chỉnh. Nhờ đã qua một thời kỳ dạy dỗ căn bản như vậy, ban Thiếu niên (Youth) tiến lên những bậc cao hơn không khó khăn, đã tỏ ra thuần thục trong việc trình diễn và đã có thể diễn tả có hồn nhiều bản khó hơn. Và chắc là phải một thời gian dài thử thách và tuyển chọn – và có lẽ phải qua khỏi tuổi thiếu niên (teen), một thành viên của ban Youth mới có thể bước hẳn vào Symphony Orchestra như một tay trình tấu nhà nghề.

Sự đào tạo thật lâu dài, nhiều khó khăn, và chắc chắn là đầy nhẫn nại. Về phía những thầy dạy nhạc của VAP thì hẳn rồi, nhưng cả về phía học viên và phụ huynh nữa, không có một khuynh hướng đam mê âm nhạc thì rất dễ bỏ cuộc. Ngồi nghe một buổi trình diễn như buổi Nhạc Phim vừa rồi, thưởng thức đủ các tình huống hay ho lạ lùng của các bản nhạc, đó là hưởng cái quả của một cuộc gieo trồng gian nan và lâu dài. Người thưởng thức thì dĩ nhiên rất thảnh thơi với thái độ của kẻ thụ hưởng, nhưng trong một giây phút nào đó cũng nên biết rằng những thành quả đó chính là sự lớn mạnh của cộng đồng chúng ta, do những hoạt động tích cực – và rất nhọc nhằn- của lớp nhạc sĩ đàn anh, để mở toang cánh cửa nghệ thuật cho lớp con cháu được tiếp tục sinh ra và lớn lên trong cuộc sống tị nạn này.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét