Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2011

Cỏ Cựa Quậy Vươn Lên

Đỗ Quý Toàn

Ảnh Minh họa (Uyên Nguyên)
Nhiều lần đứng trước các họa phẩm chúng ta nôn nao muốn cầm cọ, muốn có một khung vải trắng, muốn vầy trong mầu sắc, muốn rỡn chơi với hình khối, muốn mang tất cả các vẻ đẹp của thế giới để lên một khung vải. Có lúc nghe hay nhẩm lại một giao hưởng khúc lớn, chúng ta muốn đứng dậy, giang tay ra bắt nhịp cho một giàn nhạc tưởng tượng, và trong tâm trí, cũng muốn sáng tác một giai điệu, một hòa âm tuyệt diệu.
Đọc một bài thơ hay, nhớ một bài thơ hay, có lúc chúng ta cũng rạo rực muốn làm thơ. Một bài thơ hay khiến ta muốn trở thành thi sĩ.

Như mầm ở trong hạt cỏ cựa quậy muốn vươn lên thành lời.

Có phải vì nỗi xúc động hay vì một lý tưởng mới lạ mà ta muốn trở thành thi sĩ, muốn cất lên các lời đẹp, các tiếng lạ khác chăng? Có khi mối xúc động hay ý tưởng mới đó không rõ rệt định hình. Chúng ở đâu đó trong tâm tưởng, dấu kín như những hạt giống đã được reo từ bao đời, như các con vi khuẩn tiềm tàng chờ trong cơ thể. Bỗng chốc gặp cơ duyên thuận lợi, nó bừng tỉnh náo nức, nó cựa quậy hiện hành. Cái gì là cơ duyên thuận lợi khiến chúng thức dậy? Ở đằng sau chấn song nhà tù có cái gì làm nguồn cảm hứng, tạo ra xúc động, tạo ra thi tứ?

Sáng nay thức giấc trong nhà giam
Anh nhớ những câu thơ viết thời trẻ

(Thanh Tâm Tuyền, Bài Nhớ Thi Sĩ)

Lời tường thuật giản dị như khi ta nói chuyện hàng ngày. Thí dụ: “Sáng nay bước chân lên xe buýt. Anh nhớ tối qua em dặn lúc đi làm về phải mua giây thung may quần”. Câu nói hàng ngày này có bao giờ gợi cho chúng ta cảm hứng để làm một bài thơ hay không? Chắc là hiếm. Một buổi sáng thức dậy trong nhà giam. Suốt một đêm tiềm thức vẫn hoạt động. Câu thơ cũ chợt gọi những thứ trong tiềm thức dậy. Buổi sáng, thời trẻ, những bài thơ tình đầu tiên. Sớm mai khua thức nhiều nhớ thương. Nhưng ở đây chắc không phải là một nỗi nhớ mơ hồ bất định.

Những câu thơ viết thời trẻ tức là một nỗi nhớ có định hình bằng ngôn ngữ. Cái hiện lên trong tâm tưởng là ngôn ngữ, những tiếng, những lời, những cách xếp đặt tiếng và lời. Âm thanh reo lên cách đó. Hình ảnh hiện lên cách đó. Câu thơ cũ mang lại một thế giới, thế giới đó được biểu hiện qua ngôn ngữ. Mà chắc phải là một ngôn ngữ đẹp.

Như khi ngây ngất thưởng thức một bức tranh chúng ta muốn vẽ. Bức tranh mở một thế giới có cái đẹp đã định hình. Con chim chết của Rembrandt, hay cái ghế xiêu vẹo của Van Gogh, hay bông hoa súng mờ ảo Monet. Những mảnh đời tầm thường trở nên tuyệt mỹ vì có đôi mắt và bàn tay của thiên tài chạm vào. Những câu thơ cũng vậy. Đọc, nhớ lại, là chạm tay vào một mảnh của thế giới được định hình bằng ngôn ngữ diễm tú. Lê Quý Đôn cảm thấy câu thơ hay như châu ngọc muốn vốc bằng hai bàn tay (diễm lệ khả cúc). Tuy Lý Vương thấy nó như sao ở trên trời rớt xuống (hốt tùng thiên ngoại đắc).

Chạm vào thơ giống như điện giựt. Như luồng điện nào đó, cách đây hàng tỉ năm, xuyên qua bầu khí quyển, tạo ra nguyên tử đầu tiên của sự sống (nucleid acid). Sự sống được sáng tạo sau khi vũ trụ rùng mình. Sự rúng động nhỏ bé bật lên từ một cõi sâu kín, thăm thẳm. Một bài thơ hay, một câu thơ cũ còn nhớ lại, chắc đối với người đang nhớ phải là một câu thơ hay. Hay, nghĩa là gì? Những tiếng chứa đầy tình tự chăng? Những lời ướt sũng hương thơm, kỷ niệm của các cơn rung động xa xăm chăng? Hay một cấu thức bất ngờ, tiếng nọ tiếng kia va chạm nhau, thôi thúc nhau. Tất cả, là những rung động được chôn kín tắp trong tâm tưởng. Dưới hình thức ngôn ngữ. Chúng nở ra, thức dậy, cũng dưới hình thức ngôn ngữ. Hình thức đẹp nhất của ngôn ngữ. Cho nên nó dễ sinh sản ra ngôn ngữ khác. Những phụ nữ đẹp chắc có nhiều cơ hội sinh sản hơn các phụ nữ thường, nếu xã hội chưa định chế hóa việc sinh sản. Ngôn ngữ đẹp cũng dễ sinh sản ra các đứa con ngôn ngữ kháu khỉnh để nối dõi. Thử đọc: “Xiêm y nọ tả tơi trước gió”. Đọc xong có thấy con vi khuẩn ngôn ngữ trong mình nó cựa quậy hay không? Thử đọc nữa: “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”. Bỗng nhiên bao nhiêu cõi rừng thu trên trái đất xốn xang muốn lên tiếng. Hãy lên tiếng, hãy nói đi, rừng, rừng thu, và những rừng thu, hãy cất tiếng nói.

Bừng cháy trong lòng anh bấy lâu u ám quạnh quẽ
Ánh lửa mênh mang buổi tình đầu


Ngôn ngữ tú mĩ ở bài thơ cũ nào đó, ở thơ già Ung, hay ở mình, đã sinh sản ra ngôn ngữ mới. Ở trong cõi u ám quạnh quẽ các hạt mầm xưa cũ thức dậy. Nó không phải chỉ là những xúc cảm. Nó là những lời. Lời nói sinh ra lời nói. Lửa cháy lên; đó là một hình ảnh. Bừng cháy; đó là một cách nói. Kỷ niệm của các mối tình đầu tiên giống như ngọn lửa đang lớn dậy, đó là một ý tưởng và một hình ảnh. Ánh lửa mênh mang buổi tình đầu, đó là một cách nói. Bừng cháy. Quạnh Quẽ. U ám. Mênh mang. Những tiếng đó ở gần nhau, theo một thứ tự mà thi sĩ chợt bắt lấy, gom lại. Đưa chúng ra theo một thứ tự, một cách nói. Chúng ta trở lại một ý tưởng đã nhắc đến nhiều lần: trong thơ, hình ảnh không quan trọng, chính thứ tự xuất hiện, xếp đặt của hình ảnh mới là quan trọng. Thử một lối nói như thế này: Trong lòng anh tối tăm và cô đơn bỗng nhiên những kỷ niệm của thời yêu đương trẻ dại sáng lên như đám lửa vừa bốc cháy. Nói thử như vậy không thấy nó là thơ. Ít nhất, không phải là thơ Thanh Tâm Tuyền. Nếu đùa chơi, lại thử nói thế này:

Trong lòng quạnh quẽ tối tăm
Lửa tình xưa bỗng cháy bùng mênh mang


Không, nói như vậy cũng chả có vẻ gì là thơ cả. Nó có vần, có điệu lục bát, nhưng không có chất thơ. Đó không phải là những đứa con kháu khỉnh mà cha mẹ chúng (bài thơ cũ, những câu thơ viết thời trẻ) rộn rạo sinh ra. Nó là thứ “cảm hứng” giống như khi nói: “Nhớ lúc đi làm về phải mua giây thung may quần đùi”.

Bài thơ hay như hạt giống reo trong mình chờ cơ duyên đến thì nẩy mầm, sinh hoa, kết trái. Lời thơ đẹp cũng giống như mưa hòa gió thuận khích động các tình tự, cảm xúc sâu kín thức dậy. Thơ vừa là nhân, vừa là duyên, mà cũng là quả của thơ. Cho nên hãy cứ ví thơ như một sinh vật nó mượn chúng ta làm chỗ sinh, thành, trụ, hoại. Như các tế bào diệp lục chất mượn tất cả cỏ cây làm cõi hiện hành.

Ngôn ngữ giống một sinh vật tự nó sinh sôi ở trong loài người, nó mượn thanh quản, não bộ, thần kinh, môi, lưỡi, mắt, tai... của chúng ta làm chỗ hiện hành. Đây là một ý tưởng quá quyến rũ.
Cưỡng không nổi. Thơ là một cách biểu hiện của ngôn ngữ; cái đẹp ở trong vũ trụ vừa chợt tụ lại, đọng lại trong mấy tiếng, mấy lời, hình ảnh, âm thanh. Cái chất nhu nhuyễn, diễm ảo nào đó đã đọng lại, đó là ngôn ngữ. Goethe gọi kiến trúc là âm nhạc đọng lại, hay đóng băng lại. Bắt chước Goethe, để mở rộng hơn, nói: thơ là thế giới đọng lại bằng ngôn ngữ, nhờ khả năng sinh sản của nó, vì nó đẹp quá, yêu kiều quá đỗi. Như bóng gương lấp ló trong mành, cỏ cây cũng muốn làm công tác sinh sôi. Ông trời của dân Do Thái chỉ thị: hãy sinh sôi, hãy làm tính nhân!
Trẻ con khi tập nói là đã có thói quen thích nói một mình, cho mình nghe. Trẻ bày biện đồ chơi ra, gọi tên từng nhân vật, gọi mãi không chán. Trẻ sáng tác các vở kịch, tự mình đóng cả hai, cả ba vai. Nhưng Piaget cũng nhận thấy rằng thói quen nói một mình này trẻ con hay thi thố nhất khi nào có sự hiện diện của người khác. Đứa trẻ chỉ có một mình trong căn phòng kín cũng có lúc nói một mình nhưng không nói nhiều, không sung sướng thỏa mãn bằng khi có khán giả chung quanh.

Tiếng nói có phải là do nhu cầu xã hội mà phát triển hay chăng? Hay chính nhu cầu xã hội chỉ là một môi trường mà tiếng nói, lợi dụng để sinh sôi nảy nở? Nói ra những lời đẹp là để chúng ta tự làm bảnh, huênh hoang, khoe mẽ; cái nhu cầu ngã mạn đã có sẵn ở đó rồi; ngôn ngữ chỉ lợi dụng mảnh đất mầu mỡ đó mà sinh sôi? Muốn huênh hoang làm bộ bảnh thì chải tóc cho đẹp, mặc áo cho xinh, căng gân tay phồng bắp thịt lên, cũng làm bà con lé mắt rồi. Tại sao phải ca hát, phải làm thơ? Thế giới này chắc không đơn giản đến mức ta có thể lúc nào cũng xác định cái này là nhân, cái kia là duyên. Chắc rằng mỗi thứ là nhân mà cũng là duyên, mà cũng là quả của các thứ khác. Khi ta chú ý đến một hiện tượng thôi, thí dụ ngôn ngữ, thì ta coi nó đóng vai chính, cốt cho việc phân tích, theo dõi nó, được dễ dàng. Giả thiết ngôn ngữ nó đóng vai chính, nó sinh sôi ra ở trong đầu, ta sẽ thấy thơ là vật giống cái kiều diễm mang nhiều khả năng sinh sản hơn cả. Đọc một câu thơ rồi cứ bàn ra tán vào mãi, biết bao nhiêu lời nói ra đời, lời đẻ ra lời.

Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang

Nhiều người đã ví làm thơ như tình yêu. Thơ ngọ nguậy đòi chui ra, giống ái tình. Thơ càng hay càng giống như yêu, vì chúng có vẻ mơ hồ, khó xác định. Nhưng sự tương đồng chắc còn sâu thẳm hơn thế nữa. Có những bài thơ, như tiếng sét ái tình, mới đọc lần đầu là bị cuốn hút đảo điên, không muốn rời. Có bài thơ khác đọc hững hờ một lần, tưởng quên đi, nhưng lâu lâu lại thấy một câu, một hình ảnh lởn vởn về trong đầu. Hai câu, ba câu nó cứ loay hoay trở lại. Càng quen thuộc nết càng dan díu tình. Cho đến lúc nhịn không nổi, “xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang”, phải đi tìm bài thơ đó đọc một lần nữa coi vì sao lòng tơ vương vấn. Người nhậy cảm với thơ thì cũng bị thơ ám ảnh, cũng mê mẩn đời, như là đối với ái tình. Còn đọc thơ mà dững dưng được thì cũng tương tự người đã tu từ kiếp trước, nhìn mỹ nhân như thấy hoa mọc trên đá (ngộ thanh ngộ sắc như thạch thượng tài hoa).

Sự tương đồng đó khiến nhiều người đẩy trí tưởng tượng xa hơn một chút. Mối vận động nó tạo ra ái tình, và mối vận động thúc đẩy ta làm thơ, đọc thơ, chắc cùng một loại bản năng.

Mỗi lần sắp sửa yêu ai
tự nhiên mặt mũi tóc tai lạ lùng
tưởng như có triệu vi trùng
ngo ngoe đòi được nhớ nhung với mình.

(Luân Hoán)

Thi sĩ này đang nói chuyện vi trùng yêu hay chuyện thơ đây?

Mấy chữ “vi trùng yêu” nó ngọ nguậy. Nhiều thi sĩ cũng dùng hình ảnh đó. Ngu Yên gián tiếp nhắc đến vi trùng khi nói chuyện “chích ngừa” bịnh yêu đương:

Trong anh mê dại có thừa
Thương em anh đã chích ngừa tình yêu


Gốc tích của những thứ “vi trùng” nó khiến cho người ta muốn yêu đương, khiến mặt mũi tóc tai lạ lùng, đó là bản năng sinh sôi. Hãy sinh sôi, hãy sinh sôi, có một mệnh lệnh ở trong trời đất: “Dữ thiên địa chi hóa dục,” (Trung Dung). Vật đơn bào muốn thi hành mệnh lệnh đó thì nó không làm thơ, nó chỉ cần tự tách làm đôi, như các con “a míp”. Chủng loại nào có hai giống đực cái, việc sinh sản được chuyên môn hóa. Phải có hạt giống nam, hạt giống nữ, từ đó chuyện hai tế bào nam, nữ đi tìm nhau đã trở thành mối bận tâm lớn nhất trong trời đất. Khi một âm thanh, mùi hương từ phái khác xuất hiện, chúng ta nhận được các tín hiệu liên tục. Ở một chỗ nào đó có các tế bào trong ta làm việc, lục tủ hồ sơ, đọc và đối chiếu với các mật ký dự trữ trong óc, phát ra ngay các tín hiệu khác, truyền đi khắp cơ thể ta. Máu chạy, tim nhảy, chân tay quơ quào, mặt mũi tóc tai lạ lùng. Từ con muỗi đến con người đều vậy.

Còn tiếng nói thì sao. Sinh vật đó có động cơ thôi thúc để sinh sôi nảy nở theo bản năng sinh sôi ở trong trời đất hay không? Hãy giả thiết là có, rồi tưởng tượng sự vận hành của ngôn ngữ như thế nào? Tại sao nghe người ta nói một câu mình muốn “thọc vô” một câu khác? Tại sao đã nói lời này rồi thế nào tự mình cũng muốn bật ra một lời khác? Tại sao thích nhại, thích nói lái? Sao lại lẩm bẩm nói một mình? Đọc một bài thơ hay thì rạo rực muốn đọc lại. Đọc một bài thơ tuyệt tác mình nao nức muốn làm thơ. Tưởng tượng có cô nàng tiếng nói ở trong mình, cô vừa gặp một anh chàng tư mã áo xanh, cô xôn xao chuyển động, trương phình như con “a míp” vừa tới tuổi tăng trưởng. Cái vỏ bọc chung quanh đơn bào đó chật căng, nó phải vỡ ra, thành hai tế bào mới. Nếu đến tuổi mà chưa được sinh sôi, thì con “a míp tiếng nói” nó tiếp tục cựa quậy. Nó thôi thúc mình, để mình cứ tưởng nhớ mơ màng. Nhẩm lại một câu thơ như tưởng nhớ mùi lá xả, lá cam.
Những quả bóng lân tinh đêm ấu thời

Đêm. Đêm ấu thời. Con đom đóm đi tìm đồng loại khác giống trong đêm. Câu thơ khác hiện lên theo từ cõi sương mù:

Ngọn đèn nơi ngã ba hôm nào
Khuôn mặt đêm tháng năm dàn dụa

(Hòn đá làm ra lửa – Trần Dạ Từ)

Người ta có thể nhớ nhung bài thơ như nhớ một hương thơm, một tình nhân. Vì tiếng nói muốn sinh sản, như trời đất muốn sinh sản, vì tiếng nói trở thành tình nhân, dan díu, lăng nhăng với nhau.

Trong câu chuyện hàng ngày tiếng nói cũng tằng tịu. Mấy người ngồi bàn nhau phân công trong một cuộc hội thảo, một thuyết trình viên nói: “Để các bạn trẻ nói trước, phụ huynh nói sau, vì phụ huynh nói tiếng Việt tốt hơn”. Xin hiểu nói tiếng Việt tốt nghĩa là nói thông thạo. Nhưng khi dùng chữ tốt trong câu trên chúng ta đã để ngôn ngữ này dan díu với ngôn ngữ khác. Ta đang vô tình mô phỏng các cách nói: “học tập tốt, lao động tốt, các chú làm tốt công tác thu thuế v.v...” Hay là chúng ta đang nhắc lại cách nói “parle bien”, “speak good English”. Một loài ngôn ngữ này ở cạnh loài ngôn ngữ khác sẽ có lúc phải trao đổi với nhau, lửa gần rơm lâu ngày sẽ bén. Bằng cách đó ngôn ngữ cũng sinh con lai. Các nhà mô phạm, các cha mẹ nghiêm khắc, sẽ tìm cách ngăn cản, khóa kín song the trong tự điển. Ngôn ngữ nó sẽ leo tường qua để gặp nhau, vì có tiếng rao:

Thoa này bắt được hư không
Biết đâu Hợp -phố mà mong châu về?

(Kim Trọng tán Thúy Kiều)

Đọc trong một bản tin của trường Đại Học, viết về tình trạng nghiên cứu khoa học: “Ở đại học ta, ngành khảo cứu về y tế vẫn mạnh khỏe” (La recherche sur la santé se porte bien). Mấy chữ “mạnh khỏe” sinh ra đời vì liên tưởng từ chữ “y tế”. Mà cũng vì ở trong người viết có một nhu cầu nói cho có duyên, nói nghe sướng miệng. Ngôn ngữ khi sinh sản nó muốn sinh những đứa con kháu khỉnh. Người viết bản tin khoa học mà cũng muốn nói có duyên. Khi bắt đầu câu: “Tình trạng khảo cứu về sức khỏe” người viết chưa có sẵn ý định sẽ dùng trạng từ nào. Nhưng viết tới đó thì có một động cơ ở bên trong đó thúc, khiến ba chữ “vẫn mạnh khỏe” chạy ra. Động cơ đó không phải do nhu cầu thông tin, cũng không hẳn là nhu cầu biểu lộ cảm xúc. Có một nhu cầu khác, là con “vi khuẩn” tiếng nói nó muốn sinh ra những tiếng khác, những đứa con kháu khỉnh. Vì một lời nói, chúng ta muốn tỏ tình, muốn ngợi ca, muốn reo vui, muốn khóc. Bài thơ khóc anh của Thomas Merton, “Tặng anh tôi chết biệt tích ngoài mặt trận, 1943”, mở đầu bằng những bông hoa mắt, và tiếng gọi: Anh thân yêu”

Anh thân yêu, đêm nay nếu em không ngủ
Đôi mắt em là những bông hoa trên mộ anh


Anh thân yêu, Sweet brother, nói tiếng đó không thôi là đã đẩy cảm xúc tuôn trào. Và tiếng nói kéo theo tiếng nói, hình ảnh dẫn dụ hình ảnh đôi mắt đã mở cả những bông hoa. (Sweet brother, if I do not sleep -My eyes are flowers for yout tomb). Thomas Merton cũng mở đầu bài The Heavenly City (Thiên Cung) bằng một lời gọi tên. Gọi tên là thiết lập một liên hệ thân tình.

Thiên Cung khi ta thấy người đi xuống
Đi xuống đây từ ngôi Chúa


Đoạn cuối, Merton lại gọi tên. Gọi tên là một hành động.

Ôi, Thiên Cung, khi ta thấy người trôi xuống
Cánh buồm lướt trôi từ ngôi Chúa


Một tên gọi, một tiếng gọi thầm luôn luôn khơi động những nguồn mạch ngôn ngữ, suối tiếng nói ào ra róc rách. Nó cũng giống như Đinh Hùng cảm động vì nhan sắc Kỳ Nữ:

Có những buổi ta nhìn em kinh ngạc

Niềm kinh ngạc vì ngôn ngữ bị kích động chắc cũng vậy. Như hai hòn đá chạm nhau, bật lửa. Lời nói bật ra. Lời nói đâu mà bật ra đây?

Trăm Con Bướm Tuyết Bay Sa Vào Lòng

Chúng ta chưa có một lý giải thỏa đáng rốt ráo nào về nguồn gốc của ngôn ngữ. Từ thế kỷ 18 đến nay đã có rất nhiều người đưa ra các giả thuyết về nguồn gốc ngôn ngữ, từ Condillac (1746), Monbonddo (1773), Herder (1772) cho đến Wundt (1900), Englefield (1977) vân vân cùng với Trần đức Thảo (1979), Huỳnh sanh Thông (1990). Ở đây, chúng ta chỉ chú ý đến một đặc tính của ngôn ngữ, là nó hàm hồ, lung tung hơn chúng ta tưởng. Ngôn ngữ hàm hồ, mờ mịt mới đẻ ra được văn chương nếu không thì chắc chỉ có ngôn ngữ để viết khế ước bảo hiểm và làm toán!
Condillac nghĩ rằng lúc đầu người ta truyền thông với nhau chắc phải dùng điệu bộ. Điệu bộ có dáng vẻ của những hành động. Đúng ra đó là những cử động có vẻ dẫn dụ về một hành động. Làm bộ vốc nước đổ vô miệng khiến người khác hiểu là mình nói đến việc uống nước. Dần dần điệu bộ đó có thể ám chỉ tới một ý trừu tượng hơn: nước. Các điệu bộ, lúc đầu, theo Condillac phải là các cử chỉ tự nó có đủ nghĩa (self explanatory). Sau khi một điệu bộ đã được “tiêu chuẩn hóa” rồi thì nó được chấp nhận là một phương tiện truyền thông. Nhưng cũng từ đó nó bắt đầu hàm hồ, mỗi điệu bộ đều thay đổi ý nghĩa tùy theo khung cảnh của lúc làm điệu bộ, tùy tương quan giữa người phát tín hiệu và người nhận tín hiệu. Englefiled nêu lên tính mù mờ này. Một dấu hiệu về “nước” có thể diễn tả ý “tôi khát”, hay là “tôi muốn lắm”, hay là “hãy tưới cây”, hoặc “đã bịt lụt” v.v...
Tiếng nói bắt đầu bằng các âm thanh đi kèm với điệu bộ. Khả năng giản lược hóa một hành động đầy đủ vào một cử động; khả năng trừu tượng hóa một sự việc tổng quát vào một cử chỉ nhất định, khả năng trí não đó cũng giúp người ta biết dùng một âm thanh để chỉ một vật, một hành động, một sự cố. Nói chung là dùng một quy ước, chuẩn thức giản dị thay thế cho một thứ phức tạp hơn, một ý tưởng, một phạm trù v.v...

Momboddo nghĩ rằng ngôn ngữ ra đời vì nhu cầu trong đời sống tập thể. Điệu bộ nét mặt, cử chỉ bằng tay, chân là ngôn ngữ sớm nhất. Vẽ hình, kêu lên như các loài thú, kêu lên bắt chước các tiếng động trong thiên nhiên, đó là các thứ ngôn ngữ tiến bộ hơn. J.J.Rousseau cũng nhấn mạnh khía cạnh xã hội của nguồn gốc ngôn ngữ, (Trần đức Thảo khai thác triệt để khía cạnh lao động tập thể, theo tinh thần Mác Xít). Sau đó tiếng nói xuất hiện vì nhiều lúc cử chỉ, hình vẽ không dùng được, như lúc trời tối quá, ở xa nhau khuất mặt, hay vì làm điệu bộ khó hiểu quá. Ú ớ một tiếng, làm điệu bộ kèm theo, người khác hiểu mình muốn nói gì, tiện quá. Lần sau chỉ cần ú ớ như vậy thôi. Lúc đó chưa có ông thầy dạy ngữ pháp, không sợ ai bắt lỗi, muốn “nói” sao cho hiểu được thì thôi.

Nhưng căn bản của ngôn ngữ (điệu bộ hay âm thanh) phải là sự chia sẻ các kinh nghiệm dùng ngôn ngữ. Anh ú ớ để diễn tả ý anh muốn đi bắt cá, mà chị nghe tiếng ú ớ đó chị lại tưởng anh muốn đi ngủ, thì phiền quá. Một dấu hiệu hay âm thanh phải được cả hai bên liên tưởng đến cùng một kinh nghiệm mà họ đã chia sẻ.

Nếu loài người tiếp tục dùng điệu bộ hoặc hình vẽ để diễn tả thì chắc chúng ta sẽ múa và vẽ nhiều hơn là làm thơ. Dùng âm thanh đi kèm với điệu bộ, dần dần âm thanh thay thế cho điệu bộ trong việc truyền thông, loài người đã tạo được một khả năng mới, một khí cụ tuyệt vời. Vì các âm thanh, các tiếng, các lời có khả năng sinh sản cao độ. Dùng âm thanh lại nhanh chóng, đỡ tốn rất nhiều thời giờ. Nếu chúng ta cứ phải dùng tay, chân làm điệu bộ để “nói chuyện” với nhau thì các cuộc hội nghị văn chương, khoa học hay chánh trị sẽ buồn cười lắm. Trông ai có bắp thịt tay thiệt to, mí mắt thật dày vì nháy nhó, người ta biết ngay đó là một nhà hùng biện. Nhưng số điệu bộ của chúng ta rất có giới hạn ngôn ngữ dùng điệu bộ sẽ nghèo nàn lắm. Khi phải diễn tả trong khuôn khổ ngôn ngữ nghèo nàn như vậy thì hiển nhiên cách chúng ta nhìn thế giới, điều chúng ta biết về thế giới cũng rất nghèo nàn.

Khoảng 35 ngàn năm trước đây (?) loài người bắt đầu phát triển cái mà Chomsky gọi là LAD (language acquisition device), khả năng nói. Con người tư duy (homo sapien) ra đời, nhờ một dúm tế bào ở trong nửa trái của não bộ. Nó cho phép con người truyền thông một cách hiệu quả, tiết giảm chi phí, với năng lực tưởng chừng như vô giới hạn. Nó bắt đầu diễn tả cho nhau nghe về thế giới chung quanh. Tiếng nói cứ thế mà sinh sôi, làm cho thế giới hiện ra mỗi ngày một phức tạp, tinh vi và giàu có hơn. Lúc đầu thế giới chỉ gồm có đồ ăn, thức uống; sau dần dần có cả triết lý, cả nghệ thuật và khoa học.

Khi bàn về sự xuất hiện của ngôn ngữ theo cách đó, chúng ta có thể làm nhiều nhà thần học không bằng lòng. Nhiều người đã nghĩ rằng lúc đầu Thượng Đế dựng ra loài người, rồi Ngài ban cho nó tiếng nói, cho cả một thùng đầy, tha hồ sử dụng. Từ thế kỷ 19, Johann Herder đã phản đối ý kiến đó. Ông là người đã ví tiếng nói như một thai nhi ở trong ta muốn ra đời và sinh sản. Theo ông thì nói Thượng Đế tạo ra tiếng nói là phạm thượng. Ông Trời toàn tri, toàn năng có đời nào lại chế ra một sản phẩm hỗn độn, mơ hồ như vậy! Dù không do Trời sinh ra, ngôn ngữ cũng theo lệnh trời: Hãy sinh sản!” như cụ Khổng bảo: Thiên hạ chi đại đức viết: Sinh! Tiếng nói sinh sôi, biến hóa ở trong thơ thành muôn hình vạn trạng. Tính ngập ngừng, nước đôi, hàm hồ, hỗn độn của ngôn ngữ biểu hiện rõ nhất khi chúng ta làm thơ, đọc thơ, tôi chắc vậy. Hãy thử nghĩ đến mùa đông tuyết sắp rơi.
Tuyết là cái thứ trắng trắng, lạnh lạnh nó rớt ở trên trời xuống, nó phủ kín mặt đất, nó đọng trên các cành cây. Một sáng cuối thu tuyết rơi trong rừng, nhìn thấy hai con nai đi qua, ai cũng trầm trồ, cũng muốn nói một câu. Một buổi chiều nhìn tuyết phủ ngập cánh đồng, ai cũng muốn nói một câu. Nhờ tiếng nói có khả năng sinh sản, thi sĩ cho ta cả một thế giới mới.
Boris Pastemak nói đến các xe trượt tuyết chạy vòng, như trên một tấm vải thêu. Ông đẩy trí tưởng tượng đến màu sáng bạc cuối thu, tới ánh sáng mùa thu lấp lánh trong văn chương Chekhov, trong nhạc Tchaikousky vân vân. (Mùa đông tới, 1943). Một lần khác ông lại viết về tuyết:

Tuyết đang rơi, tuyết đang rơi.
Những cánh hoa geranium duỗi dài
Vươn tới những bông sao bão trắng
Ngoài song cửa sổ

(Tuyết rơi, 1957)

Và một lần khác ông nhìn tuyết bay vào cửa sổ, ban đêm, cửa sổ tỏa ánh sáng:

Như mùa hè thiêu thân rờm rợp
Bay ào về phía ánh nến
Những đóa tuyết bay rợp ngoài trời
Xô vào khung cửa sổ

(Đêm đông, 1948)

Đáng tiếc, nếu như Tản Đà, Cao Bá Quát v.v... đã đến thăm xứ tuyết, vầy tuyết, uống rượu trên tuyết thì thơ ca của chúng ta còn giầu thêm biết bao nhiêu. Trần Mộng Tú cũng nhiều lần viết về tuyết, mỗi lần bà lại nhìn một cách khác:

Xô khung cửa hẹp bước ra
Trăm con bướm tuyết bay sa vào lòng

(Bướm Tuyết)

Một đoạn khác, các cánh bướm vỡ ra:

Giữa đêm chợt đổ cơn mưa trắng
Mảnh lao xao trắng vỡ trong hồn

(Cơn mưa trắng)

Nhưng thi sĩ không phải chỉ nhìn thấy cánh bướm vỡ vụn trên cửa kính, hay mảnh tuyết vỡ trong lòng. Bà còn nhìn tuyết, nghĩ đến chuyện nàng Mỵ Châu hẹn rắc lông ngỗng làm dấu cho đường cho Trọng Thủy, và tưởng tượng thêm một mối u tình:

Chàng tung trong gió tuyết lông ngỗng
Em nhặt vào may áo Mỵ Châu
Em quên rắc tuyết trên đường hẹn
Nên kiếp này ta lạc mất nhau

(Mỵ Châu)

Trí tưởng bay lượn, phiêu lạc đến những chỗ lạ lùng. Cái khả năng bay lượn, phiêu bạt đi đôi, với khả năng nói, cũng ở tính hàm hồ, bất định trong cách dùng ngôn ngữ con người. Cho nên thứ thơ nào càng nhiều chất bất ngờ càng làm cho thần trí chúng ta rúng động. Như thể các tế bào trong não bộ của ta vừa bị kích thích, ngồi bật dậy, náo nức bảo nhau đòi phải được làm thơ. Bài thơ hay khiến chúng ta đọc mà trở thành thi sĩ, chính nhờ tính hàm hồ, uyển chuyển đó. Còn bài thơ tầm thường, ngôn ngữ “đại số học” thì nó tẻ. Thí dụ:

Em đẹp nhất đời
Vì em yêu nước ghê lắm

(bịa đại, nếu trùng hợp xin tác giả miễn thứ)

Thi vị của câu đó không hơn gì mấy câu chỉ đường: “Đi tới cuối hành lang, quẹo mặt có phòng rửa tay cho quý bà”. Đó là ngôn ngữ “đại số học”, “programmable”, chả có ý tứ gì khác để thêm. Nguyễn Công Trứ nói khác:

Chữ tình là cái chi chi
Dẫu chi chi cũng chi chi với tình


Trời đất ơi! Nói như vậy thì loài người làm sao không yêu nhau cho được? Chi chi! Chi chi! Nghe rồi có thấy muốn làm thơ hay không? Đó, những mầm cỏ nằm trong đất lại muốn mọc lên rồi!

Đỗ Quý Toàn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét