Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2011

Trùng trùng điệp điệp

Võ Phiến
(Đàm thoại)

NGUYỄN XUÂN HOÀNG (N.X.H.): Trong hai cuộc đàm thoại trước, chúng ta nói toàn chuyện gở. Bầu không khí bao quanh chúng ta thật bi quan. Có lẽ nên chấm dứt tiếng kêu la “Sách báo lâm nguy.”

VÕ PHIẾN (V.P.): Sự thực thì sách báo đang tràn ngập xã hội.


N.X.H.: Người đời nay không ham đọc nữa, chúng nó tràn ra làm gì?

V.P.: Ít người ham đọc, nhưng nhiều người ham viết. Số nhân tài trong giới cầm bút phát triển nhanh lắm ông ơi. Muốn ngợp luôn. Theo The Standard Periodical Directory, năm 1980 cả Hoa Kỳ và Gia-nã-đại có chừng 50 nghìn tác giả; đến năm 1990 số ấy tăng lên hơn 83 nghìn. Gấp đôi mấy hồi?

Vả lại, con số ấy chắc chắn còn thiếu sót. Ít nhất là sót... ông với tôi. Nếu chịu khó soi tìm chu đáo, dám hơn chục vạn chứ lại. Chừng ấy cây bút cứ nghí ngoáy suốt ngày này qua ngày khác, làm gì mà sách báo không tràn ngập?

N.X.H. : Ðiều ông nói làm tôi nhớ đến câu chuyện ông Nguyễn Hiến Lê từng kể hồi 1973, cách đây đúng hai mươi năm. Có kẻ phàn nàn là ngày trước có những tác giả giữ vững địa vị suốt đời, sau này đa số các tiểu thuyết gia chỉ nổi tiếng được dăm ba năm rồi bị lớp sau tràn lên át mất. Nhân đó, ông Nguyễn nhận thấy chuyện ấy không những chỉ xảy ra ở Miền Nam, mà ở Miền Bắc, ở cả Nga cả Tàu, đâu đâu cũng thế. Trong cuốn Khu ung thư A. Soljenitsyne có nói về hiện tượng ấy ở Nga. Nguyễn Hiến Lê cho rằng: “Số nhà văn ngày nay đông quá, có người nào vừa mở xong một con đường tưởng là mới, đã có người mở con đường khác rồi. Văn đàn đông nghẹt không sao đủ chỗ đứng cho mọi người. Cho nên người nào mới chen được một chỗ đứng thì người sau đã lấn mất.”

Vả lại hiện tượng ấy thực ra cũng không phải mới xảy ra chừng vài chục năm nay, trong đời các ông Nguyễn Hiến Lê và Soljenitsyne đâu. Cả trăm năm về trước, tận hồi 1893, ở Pháp, anh em Goncourt đã phàn nàn: “Ngày nay phải sản xuất một kiệt tác mỗi năm thời người ta mới khỏi quên mình.” Chính ông Nguyễn Hiến Lê thuật lại câu ấy trong cuốn Hồi ký của ông.

Như vậy cái chữ “ngày nay” mà các vị ấy dùng không phải là dùng để chỉ một ngày nào, một tháng nào, hay một năm nào, mà cũng không phải để chỉ riêng một... thế kỷ nào! Làm sao có thể bảo đó là hiện tượng đặc biệt của thời kỳ chúng ta đang sống?

V.P.: Tôi chịu ông. Tác giả mỗi ngày mỗi đông, quả đó không phải là hiện tượng của một thời. Hãy cho là hiện tượng của một nghề, nghề viết chúng ta. Bởi vì không phải nghề nào cũng mỗi ngày mỗi đông, phải không ông? Bây giờ đi tìm cho ra một anh cao-bồi cưỡi ngựa quăng vòng, khó chứ. Ði tìm gặp được một cô em gái ngồi quay tơ, một em hong tơ vàng cách dậu mồng tơi, khó chứ. Cơ khí phát triển, cày bằng máy, tưới ruộng bằng máy, rải phân, giết bọ bằng phi cơ v.v... làm cho số lượng nông gia giảm xuống nhanh. Nông gia xuống nhanh mà văn gia lại lên nhanh. Nhanh tới sốt cả ruột. Chen lấn dữ dội quá.

N.X.H.: Úi dào! Không biết trong các chủng loại do Tạo Hóa gây hình có loài nào khác sinh sôi nẩy nở nhanh chóng như loài... tác giả chăng? “Càng ‘sinh sản’ lắm càng oan trái nhiều”, được gì.

V.P.: Lại còn điều này nữa: Anh em Goncourt kêu nhiều tác giả, chúng ta cũng kêu có nhiều tác giả, tiếng kêu ấy mỗi thời mỗi khác. Tiếng báo động của chúng ta nặng ký gấp trăm lần của các ông Goncourt.

N.X.H.: Dĩ nhiên. Cái gì của ta chẳng nhất?

V.P.: Thỉnh thoảng mình nên tỏ ra công bình với mình một chút. Trong thập niên trước một người Bắc Mỹ đối diện với năm vạn nhà văn, trong thập niên sau một người đối diện với hơn tám vạn nhà văn. Cái đọc của họ sẽ như thế nào? Từ năm này sang năm khác, dân số cũng có gia tăng, nhưng không vì thế mà người này đỡ được gánh nặng của đống sách báo đè lên người kia. Dù dân số có tăng lên gấp năm gấp mười cũng thế thôi. Người ta xưa nay không ai chia nhau mà đọc sách. Không hề có ai bảo ai: “Nguyễn Du khá lắm; nhưng tôi đã đọc qua rồi, vậy bác hãy đọc thơ Nguyễn Diếc nhé.” Nói thế không nghe được. Dù “tôi” có đọc thơ Nguyễn Du rồi, “bác” vẫn cứ đọc Nguyễn Du. Chẳng những thế, chính “tôi” đã đọc Nguyễn Du, “tôi” lại vẫn cứ phải tìm đọc Nguyễn Diếc, vì biết đâu Nguyễn Diếc hay hơn Nguyễn Du? Nếu “tôi” là một độc giả tự trọng, “tôi” phải tự tìm kiếm, chọn lọc, thưởng thức; ai có thể làm công việc ấy thay “tôi” được?
Cho nên dẫu cho rằng trong một địa hạt nào đó sự tăng trưởng có là luật chung cho mọi thời, thì vẫn có một thời đại riêng chịu đựng hậu quả của tình trạng bão hoà, kẹt cứng.

N.X.H.: Ý ông muốn nói đó là cái thời có ông đang sống đây là một thời đại đặc biệt chứ gì?

V.P. : Ðúng ra là: có ông và tôi cùng đang sống. Không phải riêng tôi.

Quả tôi không biết sức chịu đựng của con người về phương diện này đến chừng nào. Không biết tám vạn nhà văn Bắc Mỹ, cộng với độ chục vạn (?) nhà văn Âu châu, cộng thêm chừng dăm nghìn (?) nhà văn Nam Mỹ, thêm dăm bảy vạn (?) những nhà văn Úc châu, Á châu, Phi châu, đã đủ đè bẹp dí người độc giả thời nay chưa. Số lượng văn thi sĩ các nơi đích xác là bao nhiêu, tôi không biết đâu. Tôi chỉ vớ được một con số ở Bắc Mỹ thôi; còn sự săn tìm khắp bốn phương thì vất vả quá, xin ông miễn cho. Vả lại, ở đây chúng ta cũng chẳng cần sự chính xác làm gì. Chúng ta chẳng đi vào cuộc tính toán tỉ mỉ nào. Ðại khái thôi. Ðại khái cái vòng chân trời văn học ngày nay mở rộng bao la. Kỹ thuật truyền thông tân tiến, phương tiện giao thông chuyển vận nhanh chóng, thế giới thu hẹp một nhà, độc giả châu này họ có lý khi muốn được am tường về sách báo các châu khác chứ. Kìa, Ấn-độ từng có người giật giải Nobel văn chương, ở Nhật từng có kẻ giật giải Nobel, ở Úc, ở Ai-cập, ở Nam Phi v.v... nhân tài quái kiệt xuất hiện khắp bốn phương trời, tại sao dám bỏ qua? Bỏ qua những hương xa hoa lạ huy hoàng và thơm ngát và quí báu như thế thì cái sự kiện may mắn mình được sống ở thế kỷ hai mươi thế kỷ hăm mốt đâm ra phí quá. Người độc giả năm trăm năm trước có quyền đọc thiên kinh vạn quyển xong rồi vênh mặt khoe khoang. Một độc giả thời này mà chỉ đọc có chừng ấy thì thiếu sót quá, sao gọi được là chu tất?

Có điều này cũng nên lưu ý nữa. Là các tác giả đời nay lắm người họ viết nhanh dữ lắm ông ơi.

N.X.H.: Vậy nữa hả? Lại có chuyện mỗi ngày viết mỗi nhanh nữa sao ông? Bây giờ văn sĩ chuyên viết tốc ký à?

V.P.: Theo Nguyễn Hiến Lê (trong cuốn Hồi ký) thì từ Thế chiến thứ hai đến 1974 xã hội Miền Nam ở trong chế độ tư bản; ông bảo “thời nay viết tiểu thuyết để độc giả tiêu thụ, nghĩa là để bán, chứ đâu phải để cầu danh, lưu danh.” Trong xã hội tư bản, cuốn sách cũng là một món hàng để bán chác, cần sản xuất nhanh. Và nhanh thật, ông ạ. Trên tạp chí Làng Văn số tháng 3-1993 vừa rồi, ông An Khê có cho đăng thiên ký sự về quãng đời viết văn làm báo ở Sài Gòn trước 1975. Viết đều đều tám cái truyện một lượt cho các nhật báo là chuyện thường. Thỉnh thoảng, có độ ông phải viết hàng ngày mười ba cái truyện. Trong vòng mười năm, An Khê viết gần 250 bộ tiểu thuyết...

N.X.H.: Chao ôi!

V.P.: Trước 1975 ở Sài Gòn, chúng ta sống bên cạnh những cái như thế, những chuyện thần kỳ ngày nào cũng diễn ra quanh mình như thế mà chúng ta không để ý. Bây giờ nhắc lại mới kêu trời. Ông và tôi là kẻ đồng thời với An Khê mà còn nhẩy nhổm kêu trời thì hãy tưởng tượng thi sĩ Giả Ðảo, ông ta hoảng hốt đến đâu! Mỗi thời mỗi khác ông à. Thời Giả Ðảo giả sử ông ta có tranh thủ làm vội làm vã trong hai năm rưỡi cho xong “lưỡng cú” thì cũng chẳng bán cho ai, chẳng giàu thêm chút nào. Mà giá ông ta có lè phè hay cẩn thận thêm: bốn năm mới hoàn tất hai câu thơ thì có lẽ đời ông cũng không vì thế mà túng thiếu hơn chút nào. Còn ông An Khê thì ngày nào không cung cấp kịp tám đoạn truyện cho tám toà soạn, ông ấy tha hồ mệt nhé.
Tóm lại, kẻ sau viết nhanh hơn người trước là chuyện có thật đấy ông. Và một chục vạn cây bút thời nay dám sản xuất bằng mấy chục vạn danh sĩ thời xưa lắm. Lại không dám đưa ra con số chính xác nào, xin ông thông cảm cho.

Thành thử khi anh em nhà Goncourt, khi ông cụ Soljenitsyne than thở về tình hình văn giới đông đảo là chỉ than thở nỗi cạnh tranh vất vả của người viết. Thế đâu có... quân tử? Nên nghĩ xa một chút đến số phận thảm thương của những người đọc bị đè nát dưới núi sách mênh mông đang tiếp tục tuông ra ào ào hăm bốn giờ mỗi ngày, đến cái thân phận mỏng manh của từng cá nhân độc giả dưới gót chân hùng dũng của hàng ngũ văn sĩ trùng trùng điệp điệp không ngớt chen lấn nhau tiến lên. Xin nhấn mạnh là từng cá nhân người đọc: vì xưa nay và mai hậu, chưa bao giờ và sẽ không bao giờ có cái cảnh nhiều độc giả cùng chia nhau đọc giúp, thưởng thức giúp một nghệ phẩm.

N.X.H.: Ðè như thế e nát thực, không chơi... Ai ra tay che chở người độc giả đang lâm nguy lúc này? che chở cách nào bây giờ?

V.P.: Ông độ này đâm lãng mạn, dễ mủi lòng dữ đa. Nhưng người độc giả thời nay không chờ đợi hão huyền; họ đã có giải pháp tự vệ của họ.

N.X.H.: Giải pháp nào?

V.P.: Bị hàng ngũ tác giả tấn công ào ạt quá đáng, họ buông cái rụp là xong chuyện.

N.X.H.: Trời đất!

V.P.: Buông chứ ông, chịu sao thấu.

Theo cuốn Directory vừa nói, số tạp chí về thi ca và các loại văn sáng tác (Poetry and Creative Writing) ở Bắc Mỹ, năm 1980 có 1041 tờ; mười năm sau tôi đếm thử danh sách thấy còn được chừng 880 tờ. Có thể tôi đếm sót, và chắc chắn là tài liệu thống kê còn sót nặng hơn: rõ ràng là tờ Thế Kỷ 21 này cùng một số đồng nghiệp lẫy lừng ở quận Cam bị sót cả. Do đó mình cũng chẳng mằn mò đếm kỹ làm chi cho vất vả.
Tất nhiên các văn thi sĩ không chịu thua dễ dàng. Càng bị bỏ rơi họ càng kiên cường cố gắng ngoi lên. Vừa cố gắng vừa rên rỉ than trời trách đất. Than về nỗi bị... thiếu kính trọng! bị RDS.

RDS, chữ của ông Jack Grapes, chủ nhiệm tờ tạp chí văn nghệ Onthebus ở Los Angeles đấy. RDS là ba chữ viết tắt của Rodney Dangerfield Syndrome. Ông Grapes bảo: “Chúng tôi đếch được kính trọng bao giờ.” (“We never got any respect.”) Khổ quá: Báo văn nghệ không say sưa, không ma túy, không phóng xe ẩu, tại sao đến nỗi bị đối xử tệ? – Ấy chỉ vì cái tội xuất hiện ào ạt quá đáng. Nội Los Angeles có độ bốn chục tạp chí văn nghệ, ai mà có đủ thì giờ đi “kính trọng” nổi chừng ấy tờ báo địa phương? Mỗi làng chỉ ném bình vôi vào một gốc cây đa may ra có người đến vái lạy, chứ nếu mỗi gốc cây ớt mỗi gốc cây cà đều có một ông bình vôi thì ai mà vái lạy cho xuể!

N.X.H.: Bọn cầm bút chúng ta sinh lầm thế kỷ cả.

V.P.: Ðấy. Nguyên một cái sinh ra đông đảo đã kẹt rồi. Trong cái nhân số đông đảo ngày nay, số người có học lại nhiều hơn trước, số bàn tay cầm được cây bút nhiều hơn trước: kẹt nữa. Thế rồi những cái mà bút nghí ngoáy viết ra, lại có phương tiện tối tân in phăng phăng ngay cấp kỳ: Vậy là xảy ra ngập lụt, xảy ra hồng thủy văn chương.

Ông nghĩ coi: Tiếng tăm lừng lẫy như Nguyễn Du là nhất rồi chứ gì? Sách viết ra mà hay thì Truyện Kiều là nhất rồi chứ còn đòi gì nữa, phải không? Vậy mà cụ Nguyễn tạ thế năm 1820, đời Minh Mạng, bản in xưa nhất của Truyện Kiều ngày nay tìm thấy là bản in dưới triều Tự Ðức, năm 1871. Nguyễn Gia Thiều mất năm 1798, hình như bản in Cung oán ngâm khúc xưa nhất là bản in Long Hòa, năm 1902: cả thế kỷ sau.

Ðược thế còn là quí hoá. Thơ nôm của kỳ nữ Hồ Xuân Hương, cùng bao nhiêu là văn thơ nhiều bậc tài danh khác xưa kia được truyền tụng nhưng có được xuất bản đâu!

Vào thời các cụ có danh trước, có sách sau; thời chúng ta danh chưa biết rốt cuộc có không, nhưng sách muốn có là có liền. Thời trước, một nhân tài viết được tập sách hay, bạn bè chuyền nhau xem, tấm tắc khen ngợi, rồi các danh sĩ trong nước xem thử cũng phục lăn, bấy giờ danh tiếng đã vang lừng khắp cõi, nhân tài nọ mới dám nghĩ đến việc in sách và mới được sự ủng hộ của thân hữu trong công việc khó khăn này. Tác giả và tác phẩm oằn oại ngoi ra ánh sáng một cách cực kỳ vất vả, trải qua những giai đoạn chọn lọc rất gắt gao, khắt khe. Thành thử, gần như sách nào cũng đáng đọc đáng trọng cả.

Bây giờ ở xứ Mỹ này, thí dụ có một bà cụ nào đó nghỉ hưu lâu năm, thì giờ thừa thãi, chợt một hôm nổi yên-sĩ-phi-lý-thuần, phóng bút viết một cuốn sách đề tặng “con chó Charlie thân yêu của tôi”, bà cụ ký chi phiếu đánh xoẹt một cái là có sách ngay, thành tác giả ngay.

Trong năm 1990 ở Mỹ có 133,196 tên sách mới xuất bản: tức 16 lần nhiều hơn số sách xuất bản trước đó bốn chục năm. Mười sáu lần, ông nghĩ sao?

Kỹ thuật hiện đại nó tiến nhanh phi mã, nó phục vụ con người đắc lực quá chừng. Ngày tôi còn sống ở Qui Nhơn quê nhà, cả thành phố có được một nhà in Văn Phong, in sổ sách giấy tờ cho toà Hành chánh tỉnh và các tiệm buôn nơi tỉnh lỵ vậy thôi, chứ chẳng in được sách báo nào đáng kể. Năm ngoái, tình cờ gặp trên bìa lưng tờ đặc san Văn hóa Bình Ðịnh cái quảng cáo của nhà in ở đường Tăng Bạt Hổ, Qui Nhơn: “Với quy trình công nghệ hiện đại: sắp chữ điện tử, chế bản và in offset. Phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.” Không ngoa đâu. Tờ đặc san in đẹp; trên các tấm ảnh chụp bên trong ấn quán tôi thấy máy in tối tân, thấy nhiều máy vi tính v.v... Quả là hiện đại.

Cứ đà này, một đôi chục năm sau, ai biết sự in sách dễ dàng đến bậc nào. Rồi cụ Noah nào kịp ra đời để cứu người độc giả thảm thương khỏi cơn hồng thủy sách báo!

N.X.H.: Trong thời buổi kinh tế thị trường, và ở trường hợp này có lẽ ông Noah sẽ mang tên mới là luật cung cầu. Bị độc giả buông cái rụp, các tác giả sẽ bủn rủn chân tay, sức mấy còn hứng viết?

V.P.: Chưa chắc đâu ông. Cái viết lách nó thanh cao lắm cơ. Bán được không bán được cũng viết, có tiền không tiền cũng cứ viết. Tôi từng đọc thấy một định nghĩa thế này: “Một tập zine là một ấn phẩm nhỏ được làm ra vì thích hơn vì tiền.” Thấy không?

N.X.H.: Zine?

V.P.: Vâng. Ðó là loại báo thường không có định kỳ. Thường không có mặt ở quầy báo, mà được gửi bán lung tung, hoặc ở quán cà-phê, hoặc ở các tiệm sách nhỏ. Có tờ bán cũng được đến hơn vạn rưởi bản, có tờ chẳng ma nào mua. Ô-kê tất: cứ viết cứ in. Ai viết? Ai in? – Ai cũng được, ai thích thì nhào vô. Darby Romeo là một chủ báo, cô ta nẩy ý làm tờ Ben Is Dead khi ông bố biếu cô cái máy vi tính cũ kỹ. Cô ta bảo mình chưa hề biết mô tê gì về chuyện báo bổ: Vậy mà cô là chủ nhiệm, kiêm ký giả, kiêm biên tập viên, kiêm luôn công việc xếp chữ, trình bày v.v... Tất cả mọi việc tiến hành nội trong phòng cô ta thôi.

Theo danh sách do The World of Zines cho biết thì trên nước Mỹ bây giờ có hơn 400 tờ zine như thế. Phong trào có chiều hướng đi lên, qui tụ nhiều xu hướng bao la rộng rãi, kẻ (như nàng Romeo) thì một hôm nằm mơ thấy chàng (Ben) chết, đâm thương cảm, liền ra báo Ben Is Dead, người làm báo hoặc The Family Must Be Eliminated, hoặc Hate Men, hoặc Teen Mom, hoặc I Hate Brenda Newsletter, hoặc Film Threat v.v..., có vô số lý do khác nhau. Lâu lâu các chủ báo zine tổ chứ họp đại hội toàn quốc. Kỳ đại hội tháng 2-93 vừa rồi họp tại Los Angeles, tưng bừng ra phết. Trong thiên hồi ký của ông An Khê mà tôi vừa nói, ông có kể qua câu chuyện làm nhật báo Miền Tây. Ối trời, in cho được tờ báo thật là gian nan, có lúc máy in bị hỏng, đích thân ông phải ôm tài liệu chạy lên chạy xuống con đường Cần Thơ - Sài Gòn bất kể ngày đêm, giữa lúc tình hình bất an nguy hiểm. Ngày nay ở Mỹ cô Darby Romeo chẳng cần ra khỏi phòng: dụng cụ ấn loát trang bị tối tân (desktop publishing equipment), chúng tinh vi, chúng nhẹ nhàng quá chừng.

Thời cơ thuận tiện, kỹ thuật tiến bộ tuyệt vời, người ta không cầm lòng nổi. Có hạng cầm bút vì lợi không vì danh (như ông Nguyễn Hiến Lê nói), có hạng vì khoái không vì lợi (như cô Darby Romeo nói), có hạng không vì danh cũng không vì lợi (như báo Văn Nghệ Quân Ðội viết hôm nọ), và sao cho khỏi có hạng cầm bút vì cả danh lẫn lợi, có hạng cầm bút vì nghệ thuật hay vì nhân sinh, có hạng vì sinh ra trót có sứ mệnh phải gửi sứ điệp, có hạng vì quá ngưỡng mộ các cấp lãnh đạo, vì quá yêu chàng hay yêu nàng, vì thương chó mến mèo, vì yêu cây quí cối v.v... Hàng trăm mũi dùi xúm lại giáp công túi bụi. Ôi người độc giả cô đơn và điêu đứng.

N.X.H.: Ðiệu này e có ngày số tác giả vượt quá số độc giả!

V.P.: Không chừng cái ngày oái oăm đó đã ở về phía sau lưng chúng ta rồi. Năm nọ, tại một hội trường ở Anaheim tôi có dịp ngồi nghe ông Nguyễn Ngọc Ngạn kể chuyện viết và cho in cuốn The Will of Heaven. Ông Nguyễn là một nhà văn lỗi lạc. Trong chúng ta mấy ai có tác phẩm được các nhà xuất bản Hoa Kỳ hay Gia-nã-đại chọn in? Không biết tôi nhớ có sai không, hình như ông Nguyễn bảo sách ông in năm nghìn bản, bán mãi mấy năm mới hết, nhà xuất bản cho là chậm, không có ý tái bản. Cứ theo tôi thì sách ông viết hay, thế mà ở cả Bắc Mỹ châu tìm nhiều năm chỉ được ngần ấy độc giả; trong khi con số các tác giả lúc nào cũng túc trực sẵn sàng ở Bắc Mỹ là hơn tám vạn vị!

Nhận xét của ông đúng phóc, đâu có sai.

4 - 1993

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét