Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2011

Nguyễn Mạnh Tường, từ 1954 đến 1997 (Bài 2)

Dự các hội nghị quốc tế

Mặc dù đã từ chối vào Đảng và luôn giữ khoảng cách với chính quyền, nhưng Đảng vẫn phải nhờ Nguyễn Mạnh Tường trong việc đối ngoại, bởi khó tìm được người có đủ khả năng thay thế: Ông được cử đi dự ba Hội nghị quốc tế vì tài hùng biện.

Về Hội nghị Bắc Kinh, 1952, hiện không có tài liệu.

Về Hội nghị Vienne, cuối 1952, đầu 1953, Boudarel phân tích khá kỹ:
"Năm 1952, vì vì nhu cầu tuyên truyền và viễn ảnh những thương lượng mới về Đông Dương đi đôi với vấn đề Triều Tiên đang thảo luận, người ta đã lôi Tường trong nhà tù bóng tối ra ánh sáng. Ông được gọi đi Vienne dự Hội nghị các dân tộc, do Phong trào hoà bình thế giới ảnh hưởng Liên Xô, tổ chức. Một lần nữa, ông lại làm phát ngôn viên khôn khéo và hùng biện cho chính phủ Hồ Chí Minh, dù ông không chia sẻ mọi quan điểm, nhưng đối với ông, chính phủ này, trước hết, bảo đảm nền độc lập.

Chuyến đi Vienne đã có thể là cơ hội lý tưởng cho luật sư Nguyễn Mạnh Tường chạy sang phía bên kia. Nhưng không. Mặc. Ông trở về xứ. Vì yêu nước. Vì muốn độc lập cho Việt Nam, mà cũng vì muốn làm thay đổi chế độ từ bên trong bằng sức mạnh của ngôn từ." (Boudarel, bđd).

Bài phát biểu của Nguyễn Mạnh Tường tại hội nghị Vienne, viết thành Lettre à un ami de France (Thư gửi người bạn Pháp), lời lẽ khôn khéo, cảm động, để thuyết phục những người bạn Pháp hãy vận động cho việc ngừng chiến ở Việt Nam:
"... Từ Vienne náo động âm nhạc hoà bình trong tiếng xe hơi và tàu điện, tâm tư tôi hướng về đất nước đang rền vang tiếng đại bác. Từ Vienne chói lòa ánh sáng, tôi nhìn qua hai mươi ngàn cây số xa, về những thành phố của chúng tôi đang bị thiêu huỷ; làng mạc, ruộng đồng, trổi dậy sinh hoạt khi màn đêm buông xuống, nhờ bóng tối, máy bay ngưng cơn cuồng nộ. Tôi thấy con trai tôi, trong đêm lạnh, tay mang sách vở, lần bước để nhập bọn cùng bè bạn và những người dân quê, qua những con đường ngoằn ngoèo, cùng họp nhau dưới căn nhà lá dùng làm trường học. Chúng thắp những ngọn đèn dầu nhỏ mà ánh sáng vàng vọt, mù khói làm cay mắt, ngứa cổ. Chúng ngồi bệt dưới đất, tay tựa vào cái bàn nhỏ bằng lòng bàn tay, đem từ nhà đi. Thầy đến và lớp học bắt đầu. Chúng được học nhiều điều, đặc biệt là lòng yêu mến các dân tộc, sự kính trọng con người và giá trị cần lao. Có lẽ các bạn cũng không dửng dưng khi biết rằng những đứa con trai ấy còn học một ngoại ngữ, rằng ngoại ngữ ấy là tiếng Pháp và tiếng đầu tiên chúng được học là động từ YÊU. (...) Mỗi khi màn đêm buông xuống, chúng tôi giao cảm với nước Pháp đích thực, nước Pháp sống động, nước Pháp cụ thể, nước Pháp mà chúng tôi đã ngừng Yêu trong khổ đau nhức nhối, nước Pháp của Joliot-Curie, của Raymonde Dien, của Henri Martin, của nông dân, của thợ thuyền, của trí thức, của tất cả những ai đau khổ vì nỗi khổ đau của chúng tôi, những ai đòi hỏi quân đội Pháp phải rút khỏi Đông Dương, để bi kịch huynh đệ phải chấm dứt, để con cái chúng tôi khỏi bị đạn bom xé thành trăm mảnh mà có thể nở hoa dưới ánh mặt trời của cuộc sống và được học tập trong hoà bình." (dịch Lettre à un ami de France, Revue Défense de la Paix, tháng 1/1953).

Bức thư dù tha thiết, cũng không ngăn cản được cuộc chiến kéo dài đến 1954. Khi trở về nước, Nguyễn Mạnh Tường phải trực diện với bi kịch kinh hoàng Cải cách ruộng đất, trong sự bất lực hoàn toàn.
Ngày 22/5/1956, Hội nghị Luật gia Dân chủ họp ở Bruxelles trong lúc phong trào Nhân Văn Giai Phẩm đang manh nha, ông lại được "vời ra" lần nữa, và ông cũng lại dùng tài hùng biện để biện hộ cho sự thống nhất Việt Nam, theo quan điểm của miền Bắc. Nhân chuyến đi này ông được các luật gia Tiệp Khắc và Nga và mời sang Praha và Moscou.

Khi trở về Hà Nội, ông đã nhận được rất nhiều vinh dự, nhưng ngày 30/10/1956, ông xuất hiện tại Mặt trận tổ quốc với bài diễn thuyết lịch sử: Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo, làm thay đổi vận mệnh của chính mình.

Nguyễn Mạnh Tường nhớ lại:
"Ngay khi trở về Hà Nội, tôi được phủ đầy "vinh dự". Khoa trưởng Đại học Luật khoa đang hấp hối, Phó chủ tịch hội luật gia, Thủ lãnh luật sư đoàn, Khoa phó Đại học sư phạm, Giáo sư đại học dạy văn chương Âu châu, Ủy viên trung ương Mặt Trận Tổ Quốc và thành viên Mặt Trận Tổ Quốc Hà Nội; thành viên của hội hữu nghị Việt Pháp và Việt Xô, của Uỷ ban bảo vệ hoà bình, Chủ tịch sáng lập Câu lạc bộ Đoàn Kết trí thức... dư sức viết đầy hai mặt danh thiếp!

Những "tước vị hoành tráng" này chẳng phiền hà gì tôi cả, cũng chẳng tổn thương đến lòng khiêm tốn và tôi cũng không cảm thấy mình to đùng hay bé lại. Chế độ cộng sản áp dụng lối sùng bái hình thức: Họ trang trí thế giới bằng những đồ giả. Những tước vị hào nhoáng, gáy to nhất, không để tưởng thưởng cho người sống mà cho những con nộm hình người có kẻ đứng sau lưng, trên đầu hay trong đám đó dật dây. Những diễn viên múa may trên khán đài thuộc thế giới xi-nê-ma quá đát, cinéma câm. Vì cộng sản và ciné câm ra đời cùng một lúc, cho nên người ta tự hỏi chẳng biết cái nào ảnh hưởng đến cái nào" (dịch Un Excommunié, trang 75-76).

Nguyễn Mạnh Tường tiếp tục phân tích phong cách của Đảng:
"Phải chăng Đảng đã ngó ngàng tới tôi và muốn thổi phồng tôi lên thành một trong những con khỉ bác học được đưa chạy vòng quanh sân xiếc làm trò cười cho trẻ? Năm 1951, trong chiến khu miền Bắc, giữa kháng chiến chống Pháp, người ta đã đề nghị cho tôi vào Đảng, nhưng tôi từ chối vinh dự này. Năm 1946, khi đi theo kháng chiến với gia đình và cha mẹ, tôi đã dâng hết của cải, gồm ba dinh thự ở Hà Nội cho Cách mạng và Nhân dân. Trong suốt thời gian kháng chiến, tôi chấp nhận mọi hy sinh và dùng cả hai nghề luật sư và giáo sư để phục vụ dân tộc. Là thành viên của các phái đoàn Việt Nam đi dự bốn hội nghị quốc tế, Đà Lạt 1946, Bắc Kinh 1952, Vienne 1953 và Bruxelles 1956, tôi đã giữ vai trò chủ động và đạt một vài thành quả khiêm nhường... Có thể Đảng cũng muốn cho tôi một chứng chỉ tán thành bằng cách thăng cho những chức vụ dù chỉ là danh dự cũng có phần khả kính. Nhưng tôi thừa biết trí nhớ của Đảng tồi lắm, Đảng quên ngay công lao của cả những người ngày trước đã được Đảng công nhận, chỉ vì tội làm Đảng nổi giận. Ngay cả những người cộng sản nổi tiếng, đã từng đi tù chung với những lãnh đạo hiện ở trên ngai, cũng chẳng được hưởng ân sủng gì ngoài sự ngoan cố và độc ác của họ.

Trong những ủy ban chỉ đạo các tổ chức quần chúng, Đảng có lệ đem những trí thức nổi tiếng vào làm phụ tá cho những đảng viên cầm cương, cầm lái. Những con rối ngồi trên Chủ tọa đài, tuyên bố khai mạc và kết thúc các buổi hội thảo, được người ta uể oải vỗ tay và cũng uể oải vỗ tay đáp lễ. Cái lối hành xử này đã trở thành tập quán, chỉ để phô trương có sự cộng tác chặt chẽ giữa trí thức không đảng phái và những người cộng sản. Tôi biết thừa và chẳng ngạc nhiên gì. Tôi đợi bánh xe luân hồi của đạo Phật quay và sẵn sàng phòng thủ, không để cho những bất trắc đánh bại". (Un Excommunié, trang 76-77)

Tham gia Cải cách ruộng đất


1953, sau khi dự Hội nghị Vienne về, ông phải tham gia Cải cách ruộng đất.

Trả lời Hoà Khánh, ông cho biết:
Hỏi: Luật sư có đi tham gia Cải cách ruộng đất?

NMT: Có. Hồi ấy, tất cả mọi cán bộ đều phải về các địa phương để tham gia Cải cách ruộng đất cả. Tôi cũng phải đi.

Hỏi: Luật sư về địa phương nào?
NMT: Phủ Nho Quan.

Hỏi: Công việc của các cán bộ cụ thể là làm gì?

NMT: Để phụ với nhân dân tổ chức các cuộc Cải cách ruộng đất thôi.

Trầm ngâm một lát, luật sư Nguyễn Mạnh Tường kể tiếp:
Chính trong những đợt đi xuống địa phương ấy tôi mới thấy rõ, thấy hết sự tàn bạo của nó. Lại im lặng. Chúng tôi cũng im lặng chờ đợi. Giọng của luật sư Nguyễn Mạnh Tường trầm trầm, buồn buồn:
Đầu tiên, về Phủ Nho Quan, chúng tôi được học tập là theo lệnh từ trên, tại địa phương này có cả thảy 80% dân chúng thuộc thành phần địa chủ. Tôi điếng cả người. Phẫn nộ, thấy ngay cách làm việc như vậy là rất trái khoa học. Khoa học nào cũng phải sử dụng phương pháp quy nạp, phải căn cứ trên quá trình điều tra thực tế cẩn thận, từ thực tế mà đúc kết thành nhận định. Đằng này thì mấy ông từ trung ương cứ tưởng tượng ra các chỉ tiêu rồi ra lệnh xuống bắt các địa phương phải thực hiện. Cán bộ địa phương muốn hoàn thành công tác thì phải kích thôi. Có nhiều gia đình nghèo xơ nghèo xác, ở trong một căn nhà hẹp có hai gian, tài sản đâu chỉ được một hai mẫu ruộng thế mà cũng bị ghép váo thành phần địa chủ. Để cho đủ số lượng mà! Tội lắm. Oan ức nhiều không sao kể hết được.

Hỏi: Luật sư có tham gia vào cuộc xử án nào không?

NMT: Không. Người ta đâu có cần luật sư. Mình đi là cốt để rèn luyện quan điểm, rèn luyện lập trường thôi, chứ đâu phải để xử án hay biện hộ cho ai.

- Thế thì ai làm chánh án, luật sư trong các vụ đấu tố?

NMT: Chẳng có chánh án, luật sư gì cả. Phiên tòa được tổ chức ở một bãi sân rộng đâu đó trong làng. Mấy anh thuộc thành phần bần cố nông ngồi ngất ngưởng trên bàn để luận tội, còn mấy người bị gọi là địa chủ thì bị xích cổ, trói chân, trói tay, quỳ mọp giữa sân...

- Có cả chuyện xích cổ ư?

- Có. Suốt "phiên toà", hết bần cố nông này lên tiếng chửi thì đến bần cố nông khác lên chửi tiếp. Xong rồi đến lượt hành hình địa chủ, vậy thôi.

- Luật sư có bao giờ can thiệp vào những sự đấu tố dã man như vậy không?

- Có mà muốn chết à? Không. Có chẩy nước mắt thì cũng rán mà giấu đi.

- Có địa chủ nào được quyền tự biện hộ, tự thanh minh cho mình không?

- Không. Lúc đó, ai cũng hồn kinh phách tán cả rồi, mặt mũi xanh rờn, đứng còn không nổi nữa thì nói gì đến chuyện tư biện hộ. Mà ai cho? Cứ bị khép vào thành phần địa chủ là coi như đã chết" (Hoà Khánh, bđd).

Bối cảnh Phủ Nho Quan sẽ được đưa vào tiểu thuyết Une voix dans la nuit - Tiếng vọng trong đêm, và cũng là nền tảng của bài diễn thuyết Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dụng quan điểm lãnh đạo tại Mặt trận tổ quốc ngày 30/10/1956.


10/10/1954, quân cách mạng tiến vào Hà Nội

Là nhân chứng không thể loại trừ, Nguyễn Mạnh Tường viết về ngày lịch sử 10/10/1954:
"Mười giờ sáng ngày 10/10/1954, lực lượng Kháng chiến long trọng bước vào thành phố đã chinh phục lại. Quân đội mở đầu, cờ cao, trống thúc! Cán bộ dân sự đứng trên xe vận tải chào mừng quần chúng tụ tập hai bên đường, tay vẫy cờ giấy, hoan hô cổ võ đến khàn giọng nghẹt thở (...)

Trong khoảng mười lăm ngày, cán bộ bị cấm trại ở một nơi, vì lý do gì, không ai biết (...) Về phía mình, một phần, nóng lòng được đặt chân về chốn tôi đã sinh ra, thành phố không ngừng ám ảnh tôi trong những năm dài xa cách; phần khác, lòng càng héo mòn ủ rũ vì ngay từ phút đầu đã không thể trở về nhìn lại mẹ cha, mà tuổi hạc càng làm tăng thêm ước muốn được âu yếm nhìn thấy đứa con đầu lòng, đã phải xông pha quá lâu, cho dù hai thân đã chấp nhận sự hy sinh ấy là cần thiết và chính đáng.

Cuối cùng, rồi nỗi khổ tâm của chúng tôi cũng chấm dứt khi người ta thông báo cho biết tôi được nhận công tác tiếp quản Đại học Luật khoa. Sau nghi lễ, tôi chạy vội về nhà, cha mẹ tôi oà khóc khi thấy tôi còn sống! (...) (Un Excommunié, trang 23-24-25-26)

Song song với ngòi bút nhà văn, ngòi bút luật gia và chính trị gia phân tích tâm lý những người cộng sản:
"Thời gian trôi đi, Đảng lần khân và chậm quyết định mở lại hay đóng cửa trường Luật. Tôi hiểu những ngần ngại này. Trong nhiều năm được nhà cầm quyền chỉ định làm luật sư (avocat d'office) tại các toà án, và nhờ giao tiếp thường xuyên với những người được gọi là có trách nhiệm, tôi đo lường được trong cái vô thức bí mật của họ, sự ghê tởm luật pháp đến thế nào! (...)

Trong khi người chính trị khẳng định chủ lực (volontarisme), thì người luật pháp chọn chủ luận (rationalisme). Một bên đặt vấn đề cụ thể, phân tích những yếu tố, khảo sát mối tương quan và hấp lực hỗ tương giữa các đối tượng, để tìm một giải pháp lợi hại nhất, và dùng quyền lực để thực hiện giải pháp đó. Họ không cảm thấy bị trói buộc bởi bất cứ nguyên tắc nào, họ không bị bắt buộc, họ tự do như con ngựa phi trên vùng thảo nguyên, bạo liệt như trận cuồng phong hung dữ chặt thủ cấp những nóc nhà, vùi sâu dân chài trong lòng biển cả. Trong cơn mê sảng, quyền lực chính trị lợi dụng những thế cờ thuận tiện để phất lên lá bài của mình và tỏ rõ sự sắt đá đã lột xác. Nhưng thời cơ thuận lợi của họ vấp phải sự cứng rắn của luật lệ, của luật pháp: Họ quyết định quét sạch luật lệ, dầy xéo luật pháp; tuy nhiên họ vẫn tiếp tục bình thản ngủ vùi, bởi trong chiến khu, Nhà nước chỉ nói chuyện với cỏ cây, súc vật trong rừng rú, dân chúng thì đã chín rụng vì lòng yêu nước cao độ và ý thức bổn phận, nên không ai làm phiền sự nghỉ ngơi của những kẻ thống trị. Nhưng tất cả mọi sự đều thay đổi khi trở về Hà Nội. Ở đây, dư luận thị thành luôn luôn khuấy động, cả sự ngậm tăm cũng làm chính quyền lo ngại. Nó tỏ sự tôn trọng luật pháp. Khi quyền lợi của họ bị xâm phạm, họ gõ cửa luật sư và pháp đình là thành lũy của công bằng và pháp lý.

Nhà nước cộng sản, để tỏ thiện ý, không thấy bất tiện việc giữ lại Luật sư đoàn, bởi đó là hàng quan chức tư pháp đã được thay thế bằng những người sùng bái Đảng và đã được Đảng giáo dục để quyết định số phận các cuộc tranh tụng. Vấn đề nội trị có thể giải quyết dễ dàng. Nhưng từ khi về Hà Nội, toàn thế giới nhìn vào Việt Nam, sự giao tế bây giờ thoát khỏi biên thùy các "nước anh em" mà kéo dài tới các nước tư bản. Nay, những nước này lại tỏ ra rất hâm mộ luật pháp và đưa cái bản Hiệp định [Genève] mà họ ký vào trong khuôn khổ pháp luật. Ngoài ra, những pháp viện và những tổ chức quốc tế chăm chú nhìn vào Việt Nam để phán xét xem họ có thể nghiêng cán cân về phiá nào: giúp đỡ hay phản đối. Chính nhờ con đường quốc tế mà luật pháp đã xâm nhập một cách vũ bão vào hiện tình Việt Nam và những người cầm quyền bắt buộc phải để ý". (Trích dịch Un Excommunié, trang 28 và 30).

Những dòng trên đây mô tả cuộc xung đột quyết liệt giữa chính trị và luật pháp, sau 1954, khi quân cách mạng tiếp thu Hà Nội và sự thủ tiêu luật pháp sau khi Đảng nắm vững chính quyền, đồng thời giải thích việc Nguyễn Mạnh Tường diễn thuyết tại Mặt trận tổ quốc, đòi tự do dân chủ và nhà nước pháp trị.

Diễn thuyết tại Mặt trận tổ quốc:
Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo


Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn ghi lại lời thầy Tường ở Hà Nội:
"Ở Hội nghị của Mặt trận Tổ Quốc, họp ở Hà Nội ngày 30 tháng 10 năm 1956, sau khi ông Trường Chinh, thay mặt Đảng Lao động Việt Nam, tự phê bình về các sai lầm đã phạm trong Cải cách ruộng đất, tôi đọc bản tham luận "Qua những sai lầm trong Cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo". Từ góc độ một người hoạt động trong lĩnh vực luật pháp, tôi nói đến một chế độ pháp trị chân chính, một chế độ dân chủ thực sự. Đi Hội nghị về, Nguyễn Hữu Đang đến phỏng vấn, rồi viết bài đăng lên báo Nhân văn. Tôi như thành một người “phạm pháp quả tang”, bị sa thải khỏi Đại học và không được hành nghề Luật sư nữa. Từ 1957 là thời kỳ đen tối của cuộc đời tôi. Tuy vậy, tôi đã lợi dụng thời gian rảnh rỗi này để viết sách, trong đó có cuốn Lý luận giáo dục châu Âu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, tôi cố ý viết bằng tiếng Việt để lãnh đạo có thể đọc được." (Nguyễn Văn Hoàn, bđd).

Trả lời Hoà Khánh ở Paris, Nguyễn Mạnh Tường cho biết thêm nhiều chi tiết hơn:
"Các anh cũng biết là, vụ Cải cách ruộng đất đã thất bại nặng nề đến nỗi ông Trường Chinh phải mất chức Tổng bí thư đảng cơ mà. Lúc đó có phong trào sửa sai ghê lắm. Trong cái cuộc vận động sửa sai như thế, ông Tố Hữu, rồi ông Trường Chinh, rồi ông Xuân Thủy đã lần lượt gọi tôi đến nhà riêng của các ông ấy để yêu cầu tôi, trong cuộc hội nghị của Mặt trận Tổ quốc, trình bầy cho mọi người biết thế nào là dân chủ. Các ông ấy nói là sau sai lầm Cải cách ruộng đất, chúng ta phải cố làm sao để cho chế độ xã hội chủ nghiã trở thành một chế độ thực sự dân chủ. Nghe thế, tôi mừng quá nên nhận lời ngay. Thế rồi hội nghị được tổ chức. Tôi thuyết trình trọn cả ngày, ba giờ buổi sáng, ba giờ buổi chiều. Thuyết trình xong, người ta khen ghê lắm. Ông Trường Chinh, Ông Xuân Thủy, ông Dương Bạch Mai sau đó lại yêu cầu tôi viết lại bài nói chuyện đó để đưa cho mấy ông xem.
- Thế trong cuộc hội nghị, luật sư chỉ nói miệng chứ không đọc bài viết đã soạn sẵn?

- Không. Thì giờ đâu. Chính mấy ông ấy bảo thì tôi mới viết lại chứ. Tôi đánh máy bài viết thành hai bản, nộp hết cho mấy ông. Thế mà không biết tại sao, bài viết đó lại lọt ra nước ngoài, bọn báo chí ngoại quốc làm ầm ĩ lên thế mới chết chứ.

- Luật sư còn nhớ chắc là không hề đưa bài viết ấy cho ai khác?

- Chắc chắn. Cả hai bản đánh máy tôi đều nộp hết cho ông Trường Chinh và ông Xuân Thủy. Tôi chỉ giữ lại bản nháp viết tay thôi.

- Thế thì luật sư có thể đoán được là tại sao, từ nguồn nào, bài biết của luật sư lại lọt ra nước ngoài được không? Luật sư Nguyễn Mạnh Tường cười lắc đầu:
Chịu thôi, ở đời vẫn có những bí mật như thế đó, các anh ạ.

- Thế sau khi bài viết bị tiết lộ ra ngoài thì cộng sản đối xử với luật sư như thế nào?
- Thì còn đối xử thế nào nữa. Kiểm điểm rồi đuổi việc thôi." (Hoà Khánh, bđd)

Vậy, Trường Chinh và Xuân Thủy, ai là người chuyển văn bản của Nguyễn Mạnh Tường ra ngoại quốc, và với mục đích gì?

Ba mươi năm sa mạc

Trả lời Hoà Khánh:
- Luật sư có bị bắt, có bị giam cầm gì không?

- Không. Chỉ bị đuổi ra khỏi tất cả những nơi đang làm việc. Và độc ác nhất là bị cô lập hoàn toàn. Các anh cứ tưởng tượng suốt mấy chục năm trời, không ai dám đến gặp tôi cả. Họ sợ bị liên lụy đến bản thân, đến gia đình của họ. Có khi, đi ngoài đường, nhìn thấy tôi từ xa, là bạn bè, học trò cũ của tôi phải tránh đi chỗ khác. Tôi cũng không trách gì họ. Vì sự an toàn của họ, họ phải làm thế thôi. Nhưng đau xót lắm.

- Trong thời gian suốt mấy chục năm trời như vậy, luật sư làm gì để sống?

- Không làm gì cả. Xin việc gì người ta cũng không nhận. Thoạt đầu, cứ bán dần đồ đạc trong nhà mà ăn tiêu. Bán bàn ghế, giường tủ, rồi bán quấn áo, giầy dép... cuối cùng phải bán đến cả sách vở tôi dành dụm thu thập sắm trong hai mươi năm. Bán theo giá bán giấy ký thôi. Rẻ mạt. Nhưng cần sống thì phải bán. Cứ mỗi lần bán sách là mỗi lần tôi có cảm tưởng như có ai lấy dao găm đâm vào tim mình. Rồi tất cả đồ đạc cạn dần, cạn dần. Tôi lại sống bằng sự bố thí của anh em, bạn bè. Lâu lâu người này cho cái đồng hồ, người khác cho một ít tiền.

- Những người giúp luật sư thuộc thành phần nào?

- Một số là học trò cũ cũa tôi; một số là bạn bè của tôi lúc còn ở Pháp và một số khác nữa là hoàn toàn xa lạ vì nghe tiếng tôi, thương cho hoàn cảnh của tôi, từ Pháp thỉnh thoảng cho một ít quà.
- Họ là người Việt Nam hay là người Pháp?

- Người Việt có, người Pháp có". (Hoà Khánh, bđd)

Trả lời Phạm Trần:
"Cuộc sống thật gay. Khó khăn thật lớn. Nhưng cái khó khăn nhất là nỗi cô độc. Không ai dám tiếp xúc với mình. Học trò thấy mình từ xa thì đã né tránh. Nhưng tôi hiểu và thông cảm cho họ. Còn sau này, thỉnh thoảng vẫn có anh em cán bộ đi công tác và họ nhờ tôi chỉ vẽ đôi chút tiếng Pháp. Ai sẵn thì họ giúp chút ít. Thế thôi". (Phạm Trần, bđd).

Đói:
"Tôi muốn dạy tư Pháp văn tại nhà riêng. Nhưng vừa bắt đầu thì một bọn công an, có lẽ do thám tử và chỉ điểm quanh tôi, báo, ùa vào nhà, bảo rằng trong chế độ cộng sản, chẳng có gì riêng tư, kể cả những bài học do người thầy bần cùng nghèo đói dạy! Làm gì bây giờ? Vì cao tuổi, không thể đạp xích lô như một số đồng nghiệp trẻ, chứ tôi nào có sợ gì "người ta xầm xì này nọ" (...)

Tôi bị kết án đói kinh niên. Một sự mệt mỏi mênh mông, vô bờ bến, xâm chiến thân thể, như nước sông mùa lụt tràn ngập một miền, chỉ ngọn cây và đỉnh đồi là trồi lên được. Tôi có cảm tưởng như mình bị nhận chìm trong một trạng thái hôn mê mà sự sáng suốt của ý thức thỉnh thoảng bùng lên chọc thủng. Cố gắng đứng dậy đi vài bước lảo đảo nhưng rồi lại ngã lăn đùng ra giường, đợt sóng bạc nhược đánh tan tành tất cả sức lực cơ bắp còn lại. Cùng lúc ấy, dạ dầy quặn thắt trong một chuyển động tuần hoàn cực kỳ đau đớn. Những co giật làm tôi luân lưu giữa căng và dãn, trước khi bị vùi sâu trong cơn thuỷ triều bất tỉnh, mất hẳn khả năng tri giác. Ra khỏi những cơn khủng hoảng này, cật vỡ, hồn bầm. Tôi đã học tập kinh nghiệm đói!" (Un Excommunié, trang 254- 257- 258).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét