Thứ Năm, 21 tháng 7, 2011

CUỘC ĐẤU TRÍ SAU HẬU TRƯỜNG (SHADOW BOXING) GIỮA MỸ VÀ TRUNG QUỐC

Tiến sĩ Đinh Xuân Quân

Cách đây một năm, trong một bài viết trên diễn đàn này (www.diendantheky.net) chúng tôi có đề cập đến việc nhiều giới phân tích bị Trung Quốc (TQ) ru ngủ, nhiễm ảnh hưởng những tuyên bố về “quyền lực mềm” và cuộc “trỗi dậy ôn hoà” của Trung Quốc. Một trong những người này là Kissinger.

Theo các nghiên cứu của Hải quân Hoa Kỳ thì TQ sẽ có khả năng có trên 75 tiềm thủy đỉnh trong 15 năm tới cùng với nhiều rađa mới và hỏa tiễn chống hàng không mẫu hạm, có thể gây khó khăn cho Hải Quân Hoa Kỳ (HQHK) trong vùng biển Đài Loan và các nơi khác tại Thái Bình Dương (TBD).

Theo Robert D. Kaplan chuyên viên cao cấp của Center for a New American Security, TQ sẽ bành trướng ra khỏi lục địa và đó sẽ là “nguy cơ.” Mỹ đã thấy hiểm họa TQ và đã có “chiến lược tại Thái Bình Dương”, tái bố trí HQ tại vùng TBD về căn cứ quân sự như Guam, Hawai và quần đảo Marshall.

Theo báo Washington Post vào năm 2009, Trung tâm Nghiên cứu Chiến Lược tại Mỹ nhìn nhận rằng chính TQ chứ không phải Bắc Triều Tiên mới là nguy cơ gây bất ổn trong khu vực Thái Bình Dương. Thái độ “ỷ mạnh hiếp yếu” của Bắc Kinh nhất là tại Biển Đông (BĐ) đã thúc đẩy nhiều nước Đông Nam Á xích lại gần với siêu cường số một là Mỹ.

Tháng 3, 2010 TQ tuyên bố với các lãnh đạo Hoa Kỳ về “các lợi ích sống còn” của TQ trên phần lớn BĐ, giống như Đài Loan và Tây Tạng. Hành động cụ thể là TQ đã đòi hai công ty Exxon và BP ngừng khai thác dầu trên thềm lục địa Việt Nam và bắt giữ hàng trăm ngư dân VN.

TQ tuyên bố BĐ là vùng của họ, bất chấp các luật quốc tế và luật biển rất rõ ràng của LHQ. TQ đã sử dụng tàu chiến cải trang mà họ gọi là “Ngư Chính” để uy hiếp tàu đánh cá VN, đòi tiền chuộc, và đơn phương ra lệnh cấm đánh cá trên những vùng biểncủa VN. Vào tháng 6, 2010, tàu “Ngư Chính” của TQ phiêu lưu xuống phía nam, bị tàu chiến Indonesia chặn lại. Bộ Ngoại giao VN tố cáo và lên án TQ thực hiện khảo sát địa chấn gần quần đảo Trường Sa nơi có nhiều trữ lượng dầu khí.

Trong cuộc hội thảo do “National Bureau of Asian Research and Woodrow Wilson International Center for Scholars” tổ chức tại Washington DC vào tháng 6- 2010, Thứ Trường Ngoại giao James B. Steinberg nhấn mạnh vai trò Á châu trong chính sách của Mỹ. TT Steinberg nhấn mạnh điểm cân bằng kinh tế qua G20, tăng cường quan hệ với Nhật và Nam Hàn và xây dựng liên hệ với Ấn Độ. Ông Steinberg cũng nhấn mạnh vai trò của Indonesia trong vùng và chính sách Mỹ-Trung về vấn đề Đài Loan.

Mới đây ta thấy ngày càng rõ chính sách của TQ tại BĐ: muốn độc quyền hoặc chia xẻ quyền lợi tại Biển Đông, và hăm doạ các nước gần TQ để mở đường ra TBD. Nước duy nhất có thể cân bằng TQ là Mỹ. Các nước ASEAN, Nhật, Nam Hàn và Úc đều hướng về Mỹ, và còn kéo theo Ấn Độ. Hai nước Mỹ Trung đang có một cuộc tranh dành ảnh hưởng và các tranh chấp trong hậu trường vẫn tiếp tục.

Biển Đông

Trung Quốc đã khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi” trên vùng Biển Đông, một khu vực có tiềm năng về dầu mỏ và khí đốt. Theo GS Carl Thyer TQ một mặt vẫn nói là theo luật UNCLOS, mặt khác thì đi ngược lại. Tức là “Nói một đằng, làm một nẻo.”


"Đường lưỡi bò", hay hình chữ U.

Theo giáo sư Thayer, Trung Quốc đã vi phạm UNCLOS khi khẳng định "chủ quyền không thể tranh cãi" trên Biển Đông, bất chấp đòi hỏi của các nước khác. Khi đệ trình chính thức tấm bản đồ chín đường gián đoạn hình chữ U cho Liên Hiệp Quốc, và cố tình giữ mập mờ về các tọa độ địa lý chính xác của các đường này hoặc việc các đường này nối với nhau thế nào, Trung Quốc đã lấn sâu vào các vùng đặc quyền kinh tế do các nước ven biển trong khu vực thiết lập.

Theo giáo sư Thayer, bản đồ hình chữ U đã vi phạm Công ước Liên Hiệp Quốc trên nhiều góc độ. Trung Quốc còn có một loạt hành động đơn phương khác cũng vi phạm công ước này: gây sức ép trên các tập đoàn Mỹ, buộc họ không được làm ăn với các nước khác trong thăm dò dầu khí; áp đặt một lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm đơn phương đối với ngư dân Việt Nam; và mới đây là một loạt hành vi hung hăng khác như cản trở hoạt động của các tàu thăm dò dầu khí trong các vùng đặc quyền kinh tế mà Việt Nam và Philippines tuyên bố chủ quyền.

Quan điểm của giáo sư Thayer phù hợp với quan điểm ông Mark Valencia, một chuyên gia phân tích chính sách hàng hải và là cựu chuyên viên nghiên cứu cao cấp tại Trung tâm Đông-Tây ở Hawaii, nêu lên trên tờ Japan Times số ra ngày 29/06/2011. Theo ông Valencia, nếu Trung Quốc thực sự đi theo chiều hướng hiện tại, nghĩa là kiên quyết bảo vệ các đòi hỏi chủ quyền nêu lên trong tấm bản đồ 9 khúc (đường lưỡi bò) của họ (bao gồm tất cả vùng biển và tài nguyên của Biển Đông), đồng thời quyết định cơ chế quản lý việc đi lại sẽ được áp đặt tại đó, thì “đấy là một quan điểm cực đoan và có thể dẫn tới chiến tranh”.

Tổng thống Philippines Benigno Aquino cũng hàm ý phê phán Trung Quốc xem nhẹ Công ước Liên Hiệp Quốc năm 1982 khi cho rằng Trung Quốc cần phải tuân thủ Công ước về Luật Biển vốn cung cấp cho Manila chủ quyền tại vùng Reed Bank (Bãi cỏ rong) nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.

Việc Trung Quốc ngày 11 tháng 7- 2011 bác bỏ đề nghị của Philippines cùng nhau ra trước Tòa án Quốc tế về Luật Biển để nhờ phân xử tranh chấp, có thể được xem là một dẫn chứng về việc Bắc Kinh sẵn sàng phủ nhận giá trị của văn kiện này, vì quyền lợi của riêng mình.

Trước đây vào tháng 7- 2010, Ngoại trưởng Clinton trong cuộc họp thượng đỉnh của tổ chức ASEAN tại Hà Nội đã có phản ứng kiên quyết, tuyên bố các yêu sách của TQ là bất hợp pháp và không có giá trị. Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì đã rời phòng họp và lên án Washington âm mưu chống TQ.

Ngày 18 tháng 8- 2010 đô đốc Robert Willard, tư lệnh Bộ chỉ huy TBD của Mỹ đã tuyên bố rằng quân đội Hoa Kỳ chống việc sử dụng vũ lực giữa các nước tranh chấp chủ quyền trên biển Đông, và sẽ duy trì sự hiện diện của Mỹ tại vùng chiến lược này trong nhiều năm nữa để bảo vệ an ninh lưu thông hàng hải của mỗi nước.

Tuyên bố này được lập lại vào năm 2011 khi Đô Đốc M. Mullen Tổng tham Mưu QĐ HK viếng TQ.

Chính sách của Mỹ tại Biển Đông ra sao?

Trong nhiều năm Mỹ có chính sách trung lập tại BĐ hay làm ngơ việc trổi dậy của TQ. Theo bài của A. J. Nathan / khi điểm sách “On China” của Kissinger, cho thấy ý kiến của tác giả On China là Hoa Kỳ nên tử tế - hoà hoãn trước sự trỗi dậy của TQ để tránh một cuộc xung đột bi thảm. Ngược lại GS. Aaron Friedberg của Đại Học Princeton và cựu cố vấn chính sách đối ngoại cho PTT Cheney đưa ra lời khuyên ngược lại. Ông Friedberg cho là đối phó với quyền lực và tham vọng ngày càng lớn của TQ, Hoa Kỳ cần phải giữ thế mạnh trong nhiều lãnh vực mà lợi ích của hai nước xung khắc lẫn nhau.

Trong thập niên 70, Kissinger dùng việc liên kết với TQ để phá Liên Xô. Từ đó ông có vẻ chịu nhiều ảnh hưởng của TQ. Ngày nay ngoại giao Mỹ xem ra dần dần theo ý kiến của Gs. Freidberg. Mỹ ngày càng chỉ trích Trung Quốc nhiều hơn. Ngay từ năm 2009, Mỹ đã bắt đầu quan tâm với việc Thượng Nghị Sĩ Jim Webb chú ý về chính sách TBD và phát biểu của thứ trưởng ngoại giao John Negroponte ở VN nói rằng Mỹ quan tâm đến vấn đề an ninh hàng hải ở vùng Á châu. Trong năm nay Hoa Kỳ đã lên tiếng chỉ trích các hành động của TQ, chứ không còn đứng giữa như trước.

Sau vụ Bắc Triều tiên đánh chìm tàu ngầm Cheonan của Nam Hàn, Hoa Kỳ đã có phản ứng mạnh mẽ, gởi ba tiềm thủy đỉnh nguyên tử chở hỏa tiễn tomahawk thăm ba nơi tại Á châu – Diego Garcia trong Ấn độ Dương, Nam Hàn và Phi Luật Tân. Sau đó Mỹ và Hàn quốc đã có các cuộc tập trận trong vùng biển Nhật.

Hàng không mẫu hạm Washington tham gia cuộc tập trận với Nam Hàn cũng thăm vùng Biển Đông, các chiến hạm HK khác ghé Đà Nẵng tổ chức thao diễn với hải quân VN. Vào tháng 7, 2011 HQHK đã có cuộc tập trận với Philippines và ngày 15/7 2011, HQHK bắt đầu làm việc chung với VN.

Qua các sự việc mới xảy ra ấy, ta thấy Mỹ đã xác định:

(1) Mỹ có “quyền lợi trong việc duy trì an ninh hàng hải và tự do lưu thông” trên vùng Biển Đông.
(2) Đánh giá các đòi hỏi của TQ tại BĐ là quá đáng;
(3) Mỹ không bênh vực lập trường của bên nào, nhưng chống việc sử dụng võ lực và khuyến khích giải pháp thương thuyết đa phương căn cứ trên luật quốc tế và luật biển, và sẵn sàng làm trung gian nếu cần thiết trong cuộc thương thuyết này;
(4) Đang và tiếp tục tăng cường quan hệ với các quốc gia trong vùng.

Chính giới Hoa Kỳ, công luận Mỹ, giới truyền thông, chiến lược gia và học giả càng ngày càng có lập trường thuận lợi hơn đối với VN về BĐ, và càng ngày càng chống TQ hơn. Hành pháp có thái độ chừng mực nhưng Lập pháp có quan điểm rõ rệt hơn.

Trong năm 2011 Lập Pháp can thiệp vào BĐ qua Nghị quyết Thượng viện do TNS Webb đệ trình ngày 27/6, nêu ba điểm quan trọng:

(1) Chỉ trích việc Trung Quốc sử dụng võ lực ở Biển Đông;
(2) Đòi hỏi giải quyết tranh chấp qua thương thuyết;
(3) Ủng hộ sự hiện diện quân sự của Mỹ ở vùng này. Điểm quan trọng là nghị quyết được biểu quyết với toàn bộ 100% số phiếu.

Vào ngày 15 tháng 7, 2011 / Dân Biểu Ed Royce của Nam California đã đệ trình một nghị quyết mới về BĐ với Quốc Hội:

(1) Chỉ trich việc Trung Quốc gây hấn tại Biển Đông đối với VN và Philippines;
(2) Lên án TQ doạ nạt VN và cả Mỹ liên quan đến vùng BĐ;
(3) Đòi hỏi giải quyết tranh chấp qua thương thuyết theo luật quốc tế ;
(4) Việc Mỹ ủng hộ bảo vệ an ninh trong khu vực là chính đáng.

Trong cuộc hội thảo về Biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược (CSIS) tổ chức ngày 20-21 tháng 6, 2011 tại Washington, Thượng Nghị Sĩ McCain cũng đã đưa ra một số đề nghị rất quan trọng:

(1) Trung tâm chính trị thế giới đã chuyển qua Châu Á Thái Bình Dương, lực lượng Mỹ phải duy trì tư thế thuận lợi hơn ở vùng này;
(2) Không thể chấp nhận cho một cường quốc dùng võ lực, tự giải thích luật quốc tế, biến Biển Đông thành vùng cấm lưu thông ‘no zone’ cho tàu bè thế giới;
(3) Mỹ phải chuyển thêm quân qua vùng này;
(4) Chính quyền Mỹ phải có thái độ rõ rệt với Trung Quốc ở vùng này;
(5) Mỹ phải giúp tăng cường khả năng phòng thủ của các quốc gia châu Á.

Và mới đây nhất vào ngày 18 tháng 7, 2011 các TNS Kerry và McCain / trong một thư gửi chính quyền TQ đã tuyên bố: hành vi của TQ tại BĐ đụng chạm quyền lợi của Mỹ.

Gần đây, HQ Mỹ tập trận với Philippines và gặp HQ VN. Ngoài ra HQ Mỹ cũng tập trận với Nhật và Úc. / Cùng lúc Mỹ gửi tàu ngầm nguyên tử Texas trang bị hỏa tiễn Tomahawk đến Nam Hàn.

Ngay trong ngày đầu tiên công du Trung Quốc, nếu có một tuyên bố đang được nhiều nước châu Á trông đợi, là tuyên bố vào ngày 10/07/2011, của đô đốc Mike Mullen, tham mưu trưởng quân đội Mỹ khẳng định là Hoa Kỳ kiên quyết duy trì sự hiện diện của mình tại Biển Đông, nơi có một loạt hành động hung hăng của Trung Quốc nhắm vào Việt Nam và Philippines. Đô đốc Mike Mullen khẳng định: "Mỹ sẽ không rời khỏi khu vực. Sự hiện diện lâu dài của chúng tôi trong khu vực đã rất quan trọng với các đồng minh của chúng tôi trong nhiều thập kỷ qua, và chúng tôi sẽ tiếp tục đóng vai trò như vậy".

Tuyên bố khẳng định sự hiện diện lâu dài của Mỹ tại Biển Đông là một lời đáp của Washington đối với một loạt những tuyên bố gần đây của Bắc Kinh, cho rằng Hoa Kỳ không được quyền can dự vào vấn đề Biển Đông, nên để yên cho các nước trong vùng giải quyết vấn đề trong khuôn khổ song phương.

Như vậy, quan điểm của Mỹ vẫn không thay đổi so với tuyên bố cứng rắn của Ngoại trưởng Hillary Clinton tại Diễn đàn An ninh Khu vực của khối ASEAN tại Hà Nội vào năm 2010.

Mỹ rõ ràng chống lại các hành động của TQ, và tại các diễn đàn khu vực luôn luôn nhấn mạnh việc tự do đi lại tại BĐ. HK cũng gởi một số tàu chiến tới Singapore để cân bằng sự hiện diện của TQ.

Úc là một nước trong vùng quan ngại về chính sách của TQ. Úc đang cho tăng cường sự hiện diện của họ qua việc chuyển lực lượng HQ của họ tới các căn cứ phía Bắc Úc và sẽ đón tiếp HQ Mỹ nhiều hơn.

Nhật cũng gặp khó khăn với TQ. Năm 2010 TQ có thái độ rất “hung hăng”- dân TQ xuống đường trước Tòa Đại sứ Nhật. TQ triệu tập ĐS Nhật 6 lần, có lần giữa đêm, đã ngưng các cuộc tiếp xúc cấp bộ trưởng và hủy bỏ các cuộc họp dự trù Nhật-Trung vì vụ tranh chấp đảo Điều Ngư. TQ bắt 4 người Nhật với tội là “gián điệp” chụp hình các khu vực Quốc Phòng. Thủ Tướng (TT) Ôn Gia Bảo cũng đe dọa Nhật tại ngay tại New York.

Sau khi Nhật thả viên thuyền trưởng, TQ tiếp tục đòi Nhật phải xin lỗi và bồi thường. Nhật thấy nguy cơ / và thực hiện thao diễn HQ Mỹ-Úc-Nhật. Trong “Sách trắng về QP” tháng 12, 2010, Nhật quyết định chuyển quân xuống phía Nam và tăng HQ và tăng liên hệ chiến lược với Úc, Ấn và Mỹ.

Tóm lại, TQ càng hung hăng thì các nước càng liên kết với nhau, nhất là các nước nhỏ trong ASEAN. Họ đứng sau Mỹ. Sau đây là bản tóm tắt các vụ “đấu trí trong hậu trường - shadow boxing - giữa TQ và Mỹ.

Bản tóm tắt cuộc đấu trí trong hậu trường những năm gần đây



TẠM KẾT

Trong trận đấu trí trong hậu trường (shadow boxing) Mỹ-Trung, phía Mỹ ngày càng đưa nhiều tín hiệu rõ ràng hơn. Mỹ cũng cũng rào kẽm gai (thao diễn quân sự với các nước trong vùng) để cho TQ thấy. Chính sách của Mỹ đang thay đổi từ chỗ làm ngơ cho việc nổi dậy của TQ (theo Kissinger) đến chỗ cho thấy quyết tâm không để TQ đẩy Mỹ ra khỏi TBD.

Các cuộc đấu trí trong hậu trường còn tiếp tục và vẫn còn mang tính cách tượng trưng. Siêu cường Mỹ muốn trấn an các nước trong vùng – Philippines, Singapore, Nhật, Nam Hàn và muốn kéo theo nhiều đồng minh mới như Ấn, Úc v.v. Rõ ràng là phía Lập Pháp (TNS và Dân Biểu) khá thiên về các nước ĐNA trong khi Hành Pháp – chính phủ có phần dè dặt hơn.

Chính sách mới cho vùng Thái Bình Dương đang thành hình một cách mau chóng. Khi nhậm chức ông Obama nói là ưu tiên sẽ là Á châu và ông sẽ viếng thăm Bali vào cuối năm 2011. Một liên minh mới đang thành hình và Mỹ đã khôn ngoan liên kết các nước ĐNÁ thành một khối mà TQ muốn chia rẽ.

TQ đang đà lên và sẽ thay đổi lãnh đạo trong tương lai gần. Liệu TQ có hiểu các tín hiệu này hay không, nhất là họ đang muốn tìm và khai thác tài nguyên dầu khí trong BĐ.

Trong thế cờ mới tại BĐ và TBD, hải quân Nga (Bắc TBD), Nhật, Nam Hàn và Ấn Độ sẽ là các con cờ mà TQ không thể không để ý vì nó sẽ làm cán cân nghiêng về một phía.

Diên Đàn Thế kỷ 23 tháng 8, 2010 – Chính sách đang thành hình của Mỹ tại TBD

i/ Robert D. Kaplan, “Geography of Chinese Power” tháng 5-6, 2010, Tạp Chí “Foreign Affairs”
South China Sea: A Commons for China Only? This article is reprinted with permission from the Yale Center for the Study of Globalization.)
ii/ Andrew J Nathan Giáo sư Khoa Chính trị tại Columbia University và là đồng tác giả, với Andrew Scobell, cuốn sách sắp xuất bản, nhan đề “Trung Quốc tìm kiếm an ninh” (China’s Search for Security). Xem bài dịch trên Diễn Đàn Thế Kỷ do Trần ngọc Cư dịch.
ii/ Xem tin BBC và RFI ngày 16 tháng 7, 2011
iv/ Subject: Royce Calls for China to Cease Hostile Actions in South China Sea
v/ Xem bài Biển Đông và Nhật Bản của Việt Hà phóng viên RFA
vi/ Xem bài của tác giả trong DDTK.net về bài
vii/ Financial time July 18, 2011

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét