Thứ Năm, 2 tháng 6, 2011

GHÉ THĂM CÁC BLOG: 02/06/2011

BLOG LÝ TOÉT


Tóm tắt thông tin về thương mại Việt - Trung từ khi bình thường hóa quan hệ cho đến nay từ bài báo Choáng ngợp với nhập siêu từ Trung Quốc

Giai đoạn 1996-2000, tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm 5,4% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam,


Giai đoạn 2001-2005, tỷ trọng này đã tăng lên 13,4%.

Năm 2008 tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm 19,8% tổng kim ngạch

Năm 2009 tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc tăng lên 25% .

Năm 2010 , Việt Nam chi 19.1 tỷ USD để mua hàng nhập khẩu từ TQ, trong khi xuất khẩu đối ứng 6,4 tỷ USD.

4 tháng đầu năm 2011, nhập khẩu từ TQ 7 tỷ đô (tính tròn) , xuất khẩu 2.98 tỷ đô, nhập siêu 4 tỷ đô

Năm 2000, ta đạt thặng dư thương mại với Trung Quốc 135 triệu USD

Năm 2001, thâm hụt trong cán cân thương mại giữa Việt Nam với Trung Quốc 200 triệu USD.

Năm 2007, nhập siêu từ Trung Quốc của Việt Nam là 9,145 tỷ USD, tổng kim ngạch 15 tỷ đô

Năm 2008, đó là con số 11,16 tỷ USD

Năm 2009, con số này đã tăng lên 11,532 tỷ USD,

Năm 2010, nhập siêu từ Trung Quốc đạt 12,7 tỷ USD

Năm 2011 dự tính tăng lên 17 tỷ đô

Những con số trên nói lên:
1. Kim ngạch buôn bán hai chiều năm sau tăng hơn năm trước, bình quân 40%/năm
2. Tỷ trong kim ngạch buôn bán với TQ so với tổng số ngày càng lớn.
3. Đồng thời lượng xuất siêu và tỷ trọng xuất siêu ngày càng lớn

Trong khi tình hình kinh tế trong nước:

1. Lạm phát 19.78% tháng 5/2011

2. Ngân hàng nâng lãi suất nhưng không huy động được như mong muốn lên đẩy lãi suất vượt trần.

3. Thị trường chứng khoán đi xuống mỗi ngày, lãnh đạo các công ty chứng khoán bỏ trốn hoặc từ nhiệm,

4. Thị trường BĐS không tăng trưởng, có dấu hiệu sụt giảm, có nghĩa là luồng vốn chuyển đi ra khỏi thị trường này

Đầu tư nội địa giảm sút trong khi thương mại Việt - Trung tăng trưởng vượt bậc. Có thể phát biểu mà không sợ sai rằng vốn liếng trong nước đã đổ vào thương mại Việt - Trung.

Vậy đồng tiền nào giữ vai trò trao đổi trong thương mại song phương ngoài Yuan của TQ? Một thương gia Việt nhập hàng từ TQ, anh ta phải mang VND đến ngân hàng đổi ra đô la hoặc Yuan, tức là anh ta mua hàng bằng VND, ngoại tệ chỉ là trung gian và ngân hàng làm dịch vụ đổi tiền hưởng phí hối đoái. Có thể bỏ qua vai trò của ngân hàng đổi tiền bằng cách mua hàng từ TQ bằng VND. Được chứ sao không, ở đây vai trò của VND không phải dùng để thanh toán mà chỉ dùng để trao đổi.

Câu hỏi đặt ra là, trong tình trạng nhập siêu, thương nhân TQ xử lý đồng tiền không có giá trị quốc tế là VND như thế nào.

1. Là thành viên chủ chốt của Ngân hàng Phát triển Á châu ADB, nhà thầu TQ tham gia vào thi công các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng của VN. Họ được thanh toán bằng USD từ nguồn ADB nhưng lại chi tiêu tại VN bằng VND.

2. Ngân hàng Nhà nước VN hạn chế giao dịch trong nước bằng đô la và vàng khiến đô la và vàng không có nơi tiêu thụ "rẻ" đi so với giá trị của nó. Những đồng VND thặng dư kia dùng để thu gom lượng đô la và vàng "dư" trên thị trường.

Câu hỏi khác đặt ra là một số nơi nhân dân hết tiền mua gạo như là 94,996 người đói tại Yên Bái, 241,558 người đói gay gắt tại xứ Thanh, hơn 90% số dân trong xã Đa Lộc huyện Hậu Lộc đối mặt với đói. Ai là người tiêu thụ số hàng nhập siêu kể trên.

Nhìn qua bên kia đại dương, nước Mỹ cũng lâm vào cảnh nhập siêu từ TQ năm sau cao hơn năm trước như ta, họ cũng in bạc để bù vào ngân sách như ta. Vừa rồi báo Mỹ vạch trần thủ đoạn của doanh nhân TQ vượt hàng rào thuế quan Hoa Kỳ bằng cách mạo danh hàng hóa chế tạo tại VN.

Kết luận: Thương mại Việt - Trung hôm nay và ngày mai gắn bó chặt chẽ bất chấp những hô hào, khích động mang danh nghĩa bảo vệ Chủ quyền.


BLOG QUÊ CHOA


Huy Đức

Cho dù điều gì thực sự diễn ra ở hậu trường, người dân cũng nhận thấy thông điệp từ vụ tàu Bình Minh II: Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã bắt đầu nhiệm kỳ với thái độ rõ ràng hơn trước “anh Hai” Trung Quốc. Vụ “Bình Minh 2” xảy ra khoảng năm tuần sau khi một “cột mốc” chủ quyền Việt Nam được cắm trên vùng Tư Chính. Kể từ sau khi hoàn thành việc phân giới trên bộ, Hà Nội đã không còn ngại đụng chạm với Bắc Kinh. Từ cuối năm 2009 trở đi, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga, thỉnh thoảng, đã được nói những lời đàng hoàng nhắm vào Trung Quốc. Truyền thông đã được sử dụng trước những đe dọa đến từ phương Bắc. Lòng dân lại được khai thác sau một thời gian bị kiểm soát ngặt nghèo. Báo “lề phải” cũng giật tít kiểu Nhân Dân thời 1978: Biển đông không phải là ao nhà Trung Quốc.

Nhà báo Đào Tuấn viết, “không thể giữ nước bằng lòng phẫn nộ”, anh đòi “phải làm gì đó” trên biển đông. Một blogger được nói là làm việc trên tàu Bình Minh II viết, khi tàu của anh bị tấn công, các “tàu hải quân giả dạng tàu bảo vệ” đã sẵn sàng “phi thẳng vào” tàu giặc. Nhưng, “các anh ấy nói, chưa có lệnh từ Bộ chính trị, chưa dám bắn dù tức vãi ra rồi”. Thời nào cũng có những người Việt Nam sẵn sàng tử chiến với giặc Tàu. Nhưng, xương máu chỉ nên hy sinh những khi không còn con đường nào khác.

Không có gì khó khi tập hợp lòng dân trước “hiểm họa Bắc Kinh”, nhưng mỗi khi máu nóng đã được bốc lên thì thường chỉ có chiến tranh mới giải tỏa được lòng phẫn nộ. Năm 1978, khi Trung Quốc bắt đầu hục hặc với Việt Nam, không có ngôn từ nào là đã không được dùng thường xuyên trên báo chí. Hai tuần sau khi Trung Quốc tấn công Biên giới. Ngày 5-3-1979, Chính phủ ra Nghị định “Quân sự hóa toàn dân”, cùng ngày, Hoàng Tùng viết trên báo Nhân Dân: “Cả nước đánh giặc, toàn dân là lính”. Hàng ngàn thanh niên đã chích máu tình nguyện, khoảng một triệu sáu bộ đội đã phải cầm súng suốt 10 năm. Trong số hàng trăm ngàn người lính đã hy sinh ở phía Bắc và ở Campuchia, trong số hàng triệu anh em đã trở lại quê cũ làm dân và tới Đông Âu làm thuê, có ai biết vì sao họ đã phải trải qua mười năm cầm súng ấy.

Công bố hành vi du côn của Trung Quốc với tàu Bình Minh II là rất cần thiết. Nhân dân có quyền được biết điều gì thực sự đang xảy ra trên lãnh thổ của ông cha. Nhưng, thông tin cho dân phải là một việc làm thường xuyên chứ không phải là sách lược trước từng chiến dịch. Có thể nói, nếu như người dân được tin cậy và sát cánh với chính quyền thì đường biên giới trên bộ Việt-Trung sẽ có nhiều phần khác.

Ngày 19-10-1993, sau một năm đàm phán, hai bên ký được những “nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ Việt – Trung”. Trên cơ sở “Công ước hoạch định biên giới ký giữa nhà Thanh và Pháp”, hai bên đồng ý sẽ “đối chiếu xác định lại toàn bộ đường biên”. Có một khoảng thời gian khá dài đã được dành để đôi bên đưa ra bản đồ hiện trạng. Vào thời điểm này, phía Việt Nam đang là một bãi mìn dày đặc. Các chiến sỹ biên phòng cho biết, các đoàn khảo sát đã không thể tiếp cận đến các ngóc ngách của đường biên. Nhưng, điều đáng nói, theo các chiến sỹ biên phòng, thay vì huy động sự góp sức của nhân dân, không hiểu vì lý do gì công việc này đã được tiến hành bí mật. Một vị đồn trưởng Biên phòng ở Hà Giang nói: “Chúng tôi thuộc địa hình đến từng milimet nhưng các đoàn khảo sát đã bí mật luôn cả với chúng tôi”. Người dân và các chiến sỹ biên phòng cho rằng, nếu có sự tham gia của họ, “bản đồ hiện trạng” sẽ thể hiện đủ hơn phần đất mà ông cha đã làm ăn sinh sống.

Trong quá trình tranh chấp, nếu những đòi hỏi vô lý của Trung Quốc được công khai thì thái độ của người dân sẽ là chỗ dựa cho các nhà đàm phán. Khi đối chiếu bản đồ hiện trạng, có 289 khu vực hai bên “có nhận thức khác nhau” với tổng diện tích khoảng 231 km2. Sau 16 vòng đàm phán, kết quả: “quy thuộc khoảng 114,9 km2 cho Việt Nam và khoảng 117,2 km2 cho Trung Quốc”. Nhìn các con số thì “đây là một kết quả công bằng”. Nhưng, khi dừng lại ở một số địa danh, không có người Việt Nam nào lại không cay đắng.

Tại Lạng Sơn, đường biên giới mới đi cách Mục Nam Quan một quãng xa. Các nhà đàm phán trấn an là nó “đi qua Km0, mốc 19 cũ của Pháp”. Nhưng, những ai từng đọc báo Nhân Dân và Sài Gòn Giải Phóng, số ra ngày 19-3-1979, sẽ nhớ, Bị vong lục của Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nói rõ rằng: “Phía Trung Quốc đã ủi nát mốc biên giới số 18 nằm cách cửa Nam Quan 100 mét để xóa vết tích đường biên giới lịch sử rồi đặt cột Km0 sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100m”. Các nhà đàm phán cũng cho hay, từ điểm nối ray, Việt Nam đã “Bắc tiến” được 148m. Phần tranh cãi ở đây gồm 300m, nước to chỉ lấy được hơn Việt Nam 2m kể cũng đáng gọi là thành công. Nhưng, 300m đường biên ấy không hề là một vùng chồng lấn dẫn đến “nhận thức khác nhau”. Bị Vong lục năm 1979 của Bộ Ngoại giao đã nói: “Năm 1955, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới tới Yên Viên, lợi dụng lòng tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray vào vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam 300m so với đường biên giới lịch sử”. Các nhà đàm phán cũng trích dẫn “thông lệ quốc tế” để nói việc phân chia thác Bản Giốc như là một thành công: “Hai bên điều chỉnh đường biên giới đi qua cồn Pò Thoong, quy thuộc 1/4 cồn, ½ thác chính và toàn bộ thác cao cho Việt Nam”. Hình như họ quên, Bị Vong lục 1979 đã nói, toàn bộ thác Bản Giốc và cồn Pò Thoong là của Việt Nam, Trung Quốc chỉ mới “đưa 2.000 người sang cưỡng chiếm từ ngày 29-2-1976”. Ở điểm cao 1509, tuy chỉ nhượng bộ có 0,87 hecta, nhưng mỗi tấc đất ở đó đều là xương, là máu.

Nếu các nhà đàm phán biết lịch sử sẽ phán xét họ ra sao, chắc chắn sẽ sáng suốt hơn khi đối diện với Bản Giốc, Ải Nam Quan và cao điểm 1509. Biên giới Việt-Trung dài 1.406 km, thời Pháp-Thanh chỉ cắm 341 cột mốc, giữa núi non hiểm trở chắc chắn không ít nơi hai bên đã có “nhận thức khác nhau”. Khi thương lượng, muốn nhận thì cũng phải cho. Nhưng, ở những nơi mà từ xa xưa, trong tiềm thức của người Việt Nam đã khắc dấu lãnh thổ của cha ông, thì một tấc cũng không thể đem ra thương lượng.

Việc phân giới 1509, Bản Giốc, Ải Nam Quan, lẽ ra nên trưng cầu dân ý. Thái độ người dân cũng là vũ khí của các nhà đám phán, đồng thời giúp họ ý thức đầy đủ trách nhiệm lịch sử của mình. Nếu người dân nói không thì hãy giữ nguyên hiện trạng những vùng tranh chấp ấy. Trong số 2.000 cột mốc trên đường biên phía Bắc, để lại vài ba cột để con cháu làm tiếp cũng không sao. Bảo lưu những vùng tranh chấp là kinh nghiệm của không ít quốc gia. Đành rằng, không có quốc gia nào lại ứng xử như người Trung Quốc. Các chiến sỹ biên phòng Cao Bằng kể, khi người dân cày ruộng ở sát đường biên, biên phòng phải dựng lưới B40 chặn “củ đậu” được ném sang từ Trung Quốc. Rất lạ là những chuyện như thế không được đài báo đưa tin. Những chuyện lén lút dời cột mốc, ném đá dọc đường biên, cắt cáp và trấn lột ngư dân… có thể bị dửng dưng trước các nhà lãnh đạo mặt mo, nhưng hơn một tỷ người dân Trung Quốc chắc cũng có hàng chục triệu người xấu hổ.

Người Nhật giàu có vậy mà vẫn chưa đòi được quần đảo Kuryl từ Liên xô. Việc đòi lại Hoàng Sa có thể sẽ là sự nghiệp ngàn năm của cháu con người Việt. Sự nghiệp ấy đòi hỏi sự bền bỉ, đường đường chính chính, chứ không phải thỉnh thoảng lại làm cho người dân phẫn nộ lên. Nên rút kinh nghiệm đàm phán phân định biên giới trên bộ mà phát huy vụ “Bình Minh II”. Hãy công khai tất cả những trò hèn hạ của Bắc Kinh. Hãy để nhân dân đứng sau lưng những người giữ biển.

Theo blog Huy Đức


BLOG LÊ DŨNG


Tàu khựa đã chính thức tuyên chiến với Việt nam qua hành động xâm nhập trái phép lãnh hải và phá hoại thiết bị của PetroVietnam.

Con vẹt cái Khương Du tiếp tục mặt trơ trán bóng mở băng rè : "biển này của bọn tao như đã thống nhất rồi mà...''.

Thế giới vẫn chỉ lẹt đẹt vài cái đài VOA, RFI đưa tin lẻ tẻ về việc này. Họ chưa cần đưa tin cho phí thì giờ vì chính cái đám chủ nhân của vùng biển bị Tàu khựa đột nhập hiện vẫn câm như hến chết thối. Chủ tịch nước hay chủ tịch Quốc hội hình như đang bận đi nghỉ ở đảo Phú quốc, nơi không có báo chí và mạng internet thì phải. Hay mắt và tai của mấy vị làm thuê cho Dân này đang phải phẫu thuật dở dang?

Báo lề trái thì đầy ắp tin nóng, tin cập nhật về việc này, bình phẩm, đưa tin cho bà con biết dùng nét có đủ thông tin kịp thời. Báo lề phải thì cứ như thoắt ẩn thoát hiện, đưa tin xong lại gỡ, đăng bài xong lại thấy biến mất sau vài giờ. Thế mới quái lạ!

Các blog của dân mạng kịp thời mang biểu ngữ phản đối dán vào mặt đám Tàu khựa chó chết và đám tay sai của chúng. Khẩu hiệu "Cần có một hội nghị Diên hồng", " Hãy mang lửa ra thiêu lũ giặc ngoại xâm và cả nội xâm" cũng được dán đầy trên mạng ảo. Thế mới hay thời nay mọi thứ không còn bị bưng bít và dấu nhẹm được, internet chính là thứ cần thiết số 1 để thông tin đầy đủ nhất đến với những ai muốn biết, cần biết về mọi thứ, nhiều thứ.

Tàu khựa đã tuyên chiến - chúng ta phải làm gì? Đó là câu hỏi mà nhiều cư dân mạng đang cần tìm câu trả lời. Chỉ cần quan tâm đến tin tức và vụ việc vừa rồi, hỏi câu hỏi đó đã dủ biết người hỏi có đáng là con Dân nước Việt hay không. Kể cả họ hỏi nhau trong quán bia cỏ, trong quán trà đá, trên ghế xe ôm hay trên tàu chợ, không sao cả vì họ còn quan tâm đến vận mệnh của Tổ Quốc. Yêu nước đâu phải là độc quyền như điện, nước, dầu và nhiều thứ.

Chưa thấy đoàn thể nào, tổ chức nào của thanh niên, đoàn đội hay đảng phái, đạo giáo nào vác cờ Tổ quốc và biểu ngữ ra trước cửa sứ quán Tàu để xếp hàng phản đối thậm chí ném cà chua vào cửa. Người Việt văn minh hơn phương tây? Chưa chắc, bởi họ còn đang chổng mông lên để đi bằng bốn chân chống đỡ với lạm phát và bão giá.

Cứ có sự vụ ngang ngược tương tự diễn ra trên biển Đông là lại thấy các đoàn thể... bị câm. Đoàn thanh niên, hội sinh viên học sinh, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, hội cao tuổi, hội nhà văn, hội nhà thơ, hội nghệ sỹ, các đám gái chân dài, hoa hậu, đại gia biến đâu mất. Có thể bỗng dưng họ bận, họ đang mắc vào mấy cái phi vụ làm ăn, dự án, hợp đồng làm phim truyền hình vốn ngân sách. Ra mắt mẫu áo tắm mới, vài cuốn thơ, tiểu thuyết tương tự như "Sợi xích" hay nhạc phẩm "Da nâu". Bận lắm nên kệ biển Đông bị cướp, bị đột nhập.

Cảnh sát biển, Hải quân, phòng không, không quân... cũng đang bận kiểm phiếu bầu cử? chắc vậy.
Mấy cái tàu kilo và máy bay mới mua đâu? hay chưa có xăng dầu để chạy, hay chưa có người biết điều khiển? chán thật. Vậy thì mua chắc để có hoa hồng?

Hỏi mãi cũng chán, cứ như hỏi bức vách vậy. Tổ quốc như mảnh đất đang vô chủ, đám giặc nào cũng có thể nhảy vào cướp bóc phá hoại mà không bị trừng trị. Kẻ nào đang biến Tổ quốc ta nên nỗi vậy?


BLOG NGUYỄN XUÂN DIỆN


Bùi Công Tự

Kể từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đến nay, bá quyền bành trướng Trung Quốc đã có lịch sử 2.000 năm nếm mùi thất bại nhục nhã trong các cuộc xâm lăng tổ quốc Việt Nam chúng ta.

Nếu dân tộc ta không có truyền thống đoàn kết, bất khuất, độc lập tự cường thì đất nước ta đã trở thành quận huyện của Đại Hán từ rất lâu rồi.
Sự thật đó đã được ghi chép cả trong lịch sử Trung Quốc, người Trung Quốc không thể phủ nhận!

Xin biết ơn tổ tiên chúng ta, thế hệ này qua thế hệ khác, đã hy sinh xương máu gìn giữ đất nước Đại Việt thân yêu.

Sau năm 1975, chúng ta những tưởng đất nước mãi mãi được hòa bình, không còn kẻ nào dám xâm phạm chủ quyền đất nước ta. Nhưng thực tế những người cầm quyền Bắc Kinh đã liên tục gây chiến tranh xâm lược nước ta.

Tháng 2/1979 họ đem hàng chục vạn quân đánh vào các tỉnh biên giới phía Bắc, từ Quảng Ninh đến Lào Cai gây nhiều tội ác với nhân dân ta. Sau đó suốt thập kỷ 80 của thế kỷ 20 họ gây hấn lấn chiếm đất đai của ta ở vùng biên giới, ác liệt nhất là năm 1984 tại Hà Giang. Năm 1988 họ đánh chiếm một số đảo của ta ở Trường Sa. Trước đó năm 1974 họ đã xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Để bảo vệ biên cương và biển đảo của tổ quốc, hàng ngàn chiến sĩ chúng ta đã oanh liệt hy sinh.

Âm mưu xâm chiếm biển Đông trong đó có quần đảo Trường Sa của Việt Nam càng ngày càng đốt cháy ruột gan nhà cầm quyền Bắc Kinh. Báo chí liên tục đưa tin về những hành động xâm phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc. Hành động Trung Quốc cho ba tàu hải giám (thực chất là tàu quân sự) xâm phạm vùng chủ quyền của Việt Nam, cắt cáp thăm dò địa chấn và cản trở hoạt động tác nghiệp của ngành dầu khí Việt Nam ngày 26/05/2011 là hành động cực kỳ nguy hiểm, được coi là lời tuyên chiến xâm lược Việt Nam.

Nhiều nhà chiến lược đã nhận định rằng việc Trung Quốc xâm lược quần đảo Trường Sa của Việt Nam là chắc chắn xảy ra, không lâu nữa. Nếu họ thực hiện được dã tâm này thì Việt Nam không chỉ mất lãnh thổ với nguồn tài nguyên phong phú trong nước biển và dưới lòng đáy biển mà còn bị bao vây, cản đường ra với thế giới.

Vậy ngay bây giờ chúng ta phải làm gì?

Phải bằng mọi cách chặn đứng âm mưu xâm lược của Trung Quốc!

Chặn đứng bằng cách nào?

Tôi đề nghị các nhà lãnh đạo cho phép nhân dân xuống đường biểu dương sức mạnh đoàn kết, phản ứng mạnh mẽ và trực diện âm mưu xâm lược của nhà cầm quyền Bắc Kinh. Báo chí được phép đưa đầy đủ các thông tin về âm mưu và hành động tiến tới xâm lược nước ta của Trung Quốc, phản ánh dư luận xã hội, tạo nên sức mạnh bảo vệ chủ quyền.

Ta làm được như thế chắc chắn Trung Quốc sẽ phải chùn tay.

Về phía nhà nước, tôi đề nghị đẩy mạnh hơn nữa hoạt động ngoại giao, làm cho thế giới hiểu rõ hơn chính nghĩa của ta, ủng hộ ta, lên án Trung Quốc xâm lược.

Từ ngày nhậm chức, TBT Nguyễn Phú Trọng chưa đi thăm nước ngoài. Tôi đề nghị ông TBT trước hết sang thăm Indonexia - nước đương kim Chủ tịch ASEAN, xúc tiến củng cố khối liên minh này, làm phá sản âm mưu “bẻ từng chiếc đũa” của Trung Quốc. Tôi mong khối ASEAN có được một cam kết:” Trung Quốc tấn công bất cứ một quốc gia nào thuộc khối ASEAN là tấn công cả khối ASEAN”.

Bên cạnh việc tìm kiếm các đồng minh chiến lược, quan trọng hơn là chúng ta phải củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng lực lượng, củng cố và phát huy sức mạnh của chính mình để bảo vệ tổ quốc.

Hiện nay đất nước ta đang gặp nhiều khó khăn, lòng dân có phần dao động. Tình hình quốc tế cũng không thuận lợi cho ta. Chính vì thế đòi hỏi từ lãnh đạo tới thường dân phải đề cao lợi ích quốc gia để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Có người nói dân tộc ta cứ khi nào bị dồn đến chân tường thì sẽ bật lên sức mạnh. Điều đó liệu phần nào đúng chăng?

Nếu chúng ta để cho Trung Quốc chiếm được biển Đông và quần đảo Trường Sa thì nỗi nhục này ngàn đời không rửa sạch!

Tổ tiên ta đã làm chủ biển đảo từ thuở Lạc Long Quân đưa 50 người con xuống biển, tử thuở Mai An Tiêm khai phá đảo hoang trồng nên những trái dưa hấu đầu tiên.

Tiếp nối bài học ứng xử mềm dẻo, khôn khéo mà sáng suốt, kiên quyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng với việc huy động được sức mạnh toàn dân tộc bảo vệ tổ quốc, tôi tin rằng dân tộc ta sẽ chiến thắng.


BLOG BS HỒ HẢI


Theo thống kê của bộ giáo dục và đào tạo, mà tôi không thể lấy được, phải nhờ bạn bè để có con số thông tin, rằng có đến khoảng 153.000 sinh viên tốt nghiệp đại học và 82.000 tốt nghiệp bậc cao đẳng hằng năm. Và mọi người chỉ cần làm cú gúc gù với từ khóa "bán đề tài" thì chỉ trong vòng 0.33'' đã có 26.500 kết quả.
Sáng nay chương trình VTV1 chào buổi sáng, thông tin nổi bật dành cho giáo dục. Cái đau lòng mà những người làm chương trình truyền hình là các sinh viên đại học ngày nay làm đề tài tốt nghiệp không phải khó khăn, trăn trở như ngày xưa. Các sĩ tử chỉ cần vào một tiệm photocopy hỏi mua một kết quả công trình đã tốt nghiệp cũ, của các năm trước, rồi in ra với giá 700VNĐ một trang hoặc chép nó lại trên USB với giá 10.000VNĐ tương đương 50 xu đô la Mỹ, về nhà mở ra và sửa lại số liệu, câu văn, thế là xong một đề tài tốt nghiệp.

Đài truyền hình phỏng vấn các giáo sư tiến sĩ của các trường đại học thì, người cho rằng lỗi của các sinh viên lười tư duy, lười sáng tạo. Người thì cho rằng lỗi của các thầy/cô vì cho những đề tài chung chung, mà không cụ thể, nên các sĩ tử chỉ cần đi tìm một đề tài đã làm rồi những năm trước na ná như đề thầy/cô ra và sửa lại thế là xong nhiệm vụ. Ô hay, thế thì kiến thức của các thầy/cô đâu mà không phát hiện ra lỗi đạo văn và đạo ý tưởng của trò? Vì đây là một trong những nhiệm vụ cơ bản của các giáo sư tiến sĩ trong nghĩa vụ của mình được ngành giáo dục giao phó.

Chúng ta, những người lớn, không thể đổ lỗi do trò, hay đổ lỗi cho các hàng quán photocopy. Chúng ta cần nhìn lại tư duy giáo dục nước nhà để xem ai đã góp phần làm nên hậu quả đáng buồn này? Đó mới là người có trách nhiệm giáo dục - nơi là lò đúc những nhân tài của đất nước. Và đứng trên tư duy nhân quả vấn đề này đã có nguyên nhân sâu xa của nó.

Nhân tài đất nước phải được một lò đúc vô vụ lợi, không đánh tráo khái niệm vì mục đích của bất kỳ ai, bất kỳ nhóm người nào. Tư duy giáo dục mỗi cấp học là đào tạo ra những con người có óc sáng tạo, không sáo rỗng và đi theo lối mòn của người xưa.

Lâu nay chúng ta vì mục tiêu chính trị đã đánh tráo một số khái niệm và đẩy nhiều thế hệ từ những năm 1940s đến nay thiếu óc sáng tạo, chỉ biết đi sao chép của người khác từ tư tưởng đến thực hành. Để rồi hậu quả là một hình thái xã hội què quặt không đúng với những qui luật của khoa học. Và cái suy thoái kinh tế kép đang hoành hành xã hội, mà không có phương thuốc cứu chữa.

Lòng yêu nước và tự hào dân tộc của mỗi công dân không mượn ai phải đánh tráo khái niệm và chỉ dạy. Mà lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc có từ trong điệu ru của mẹ, từ tiếng võng kẽo kẹt trưa hè, từ chùm khế ngọt, từ mái tóc mẹ búi sau đầu, từ gừng cay, muối mặn, và từ... mà thơ ca, điệu vè, lịch sử, văn hóa hun đúc từ thuở nằm nôi đến tuổi bạc đầu. Có thể kể ra rất nhiều đánh tráo khái niệm nó làm di hại đến hôm nay tiêu biểu sau đây.

Không biết vô tình hay cố ý mà các nhà soạn sách giáo khoa đem những bài toán cấp I với tính con số giặc bị tiêu diệt? Không biết vô tình hay cố ý mà các nhà tư tưởng biến môn kinh tế chính trị học Marx Lenin thành triết học để thui chột tư duy và đánh vào nỗi chán chường của các thế hệ Việt với môn khoa học là vua các môn khoa học - triết học - để rồi tư duy các thế hệ từ đó đến nay không còn độc lập, không còn sáng tạo, mà chỉ còn biết nhai lại.

Không biết tự bao giờ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trở thành Trung Quốc - tức là nước trung tâm của mọi nước - mà không là Trung Hoa? Theo hiểu biết của tôi thì, Trung Hoa Dân Quốc do Tôn Dật Tiên thành lập ngày 01/01/1912 sau cuộc cách mạng Tân Hợi. Rồi sau đó chính thể của ông Tưởng Giới Thạch mang cái tên này theo ra lập quốc ở Đài Loan. Nếu vì cái tên Trung Quốc bắt nguồn từ chữ Trung Hoa Dân Quốc thì Trung Hoa đại lục ngày nay cũng không thể gọi là Trung Quốc. Một sự đánh tráo khái niệm.

Và cũng không biết tự bao giờ, biển Đông trở thành biển Nam Trung Hoa (South China Sea)? Ngày tôi còn cắp sách đến trường phổ thông trước 1975, tôi chưa bao giờ nghe đến danh từ "biển Nam Trung Hoa". Chỉ sau này nghe đến nó. Lại một kiểu đánh tráo khái niệm. Mà hậu quả của nó là biến biển Đông của chúng ta trở thành của Trung Hoa. Hãy trả những khái niệm trở về đúng với sự thật của lịch sử nhân loại và của địa lý mà nguyên bổn của nó đã và đang có: Trung Hoa và biển Đông. Và tôi mong rằng những khái niệm này được phương tiện truyền thông đại chúng và sách giáo khoa dạy trong hệ thống giáo dục sử dụng nó là thường quy.

Văn hóa nền của một dân tộc không mất đi, nhưng sẽ bị sai lệch và chuyển hướng do thể chế chính trị định hướng cộng đồng thông qua quyền lực thứ tư - truyền thông đại chúng - và giáo dục mà thành. Tư duy của cộng đồng cũng vì đó mà phát triển theo hướng của các chính trị gia đưa ra.

Tôi tha thiết mong mỏi các nhà tư tưởng Việt hãy trả giáo dục và truyền thông về đúng nhiệm vụ giáo dục của nó, mà không có bàn tay vô hình của các chính khách. Hòng đưa dân tộc Việt có một trí tuệ mẫn tiệp trong những thân thể cường tráng, thì mới hy vọng những tha hóa trong học thuật mới rút vào bóng tối. Nếu không, đây sẽ lại là Tái Ông thất mã, làm Việt Nam luôn trong tình trạng khủng hoảng con người - mà đặc biệt là khủng hoảng con người lãnh đạo - Đó là hiện trạng của đất nước trong hơn một thập kỷ nay.

Asia Clinic, 14h42', ngày thứ Hai, 30/5/2011


BLOG ĐẢO TUẤN


Sau hàng chục vụ bắt bớ, giam giữ trái phép ngư dân, ngang nhiên ra lệnh cấm đánh bắt cá trên các vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam, có vẻ việc tàu Trung Quốc vào rất sâu trong lãnh hải Việt Nam thực hiện các hành động phá hoại, ngăn cản các hoạt động bình thường và đe doạ sử dụng vũ lực đang cho thấy tính chất leo thang trong các hoạt động xâm lấn biên giới biển của họ.

Video clip, do các thuỷ thủ tàu Bình Minh 02 quay lại vụ tàu hải giám Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Việt Nam được đăng tải trên Petrotimes, tờ báo chính thức của ngành Dầu khí, cho thấy những con tàu hải giám, một loại tàu cảnh sát của Cục Hải dương Trung Quốc đã tới rất gần các con tàu dân sự Việt Nam. Khoảng cách giữa các tàu Trung Quốc tới Bình Minh 02 và các cáp thu địa chấn chỉ là 500m, khoảng cách bằng nửa tầm bắn súng trường, trong khu vực lọt hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Bình Minh đã liên lạc nhưng không nhận được câu trả lời. Kéo còi cảnh báo nhưng bị phớt lờ.

Và sau đó, tàu Trung Quốc thẳng tay phá hoại cáp địa chấn bất chấp sự ngăn cản của hai tàu Việt Nam là Đông Nam và Vạn Hoa. Một hành động khiêu khích và sử dụng vũ lực không thể gọi khác. Và sau đó, tàu Trung Quốc ngang nhiên cho rằng Bình Minh đã “xâm phạm chủ quyền lãnh hải Trung Quốc”. Vụ việc hôm 26-5 là vụ việc nghiêm trọng nhất từ trước đến nay bởi ngoài hành động phá hoại theo kiểu vừa ăn cướp vừa la làng thì đây cũng là lần đầu tiên tàu Trung Quốc kéo cờ, dàn trận, công khai vào rất sâu lãnh hải Việt Nam. Vị trí tàu Trung Quốc phá hoại cáp địa chấn nằm hoàn toàn trong vùng lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam, thậm chí chỉ cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) khoảng 120 hải lý. Nghiêm trọng nhất là chỉ sau đó chưa tới 48 giờ đồng hồ, trong thông cáo chính thức, phía Trung Quốc vẫn lớn tiếng cho rằng: Phía Việt Nam đã tiến hành hoạt động thăm dò dầu khí tại vùng biển do Trung Quốc quản lý. Và vì vậy, sự vi phạm chủ quyền hôm 26-5 không phải là hành vi mang tính cá biệt mà là một chủ trương mang tính nhà nước.

Trong nhiều năm qua, với yêu sách đường lưỡi bò, một yêu sách bị tất cả các quốc gia phản đối, Trung Quốc liên tục cử các tàu hải giám xâm phạm các vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam , trong thông cáo mới nhất đã cho rằng: “Trung Quốc kêu gọi giải quyết các tranh chấp liên quan bằng biện pháp hòa bình, nhưng chính hành động của Trung Quốc đang làm phức tạp thêm tình hình ở Biển Ðông”.

Trong vụ khiêu khích hôm 26-5, tàu Bình Minh 02 bất chấp nguy hiểm đã tri trì tại chỗ, thậm chí thu hết các dãy súng trên tàu không để Trung Quốc lấy cớ khiêu khích đồng thời kiên quyết cho rằng họ đang trên vùng thuộc chủ quyền Việt Nam. Nhưng đó là những giờ khắc các thuỷ thủ tàu Bình Minh 02 mô tả đó là vô cùng căng thẳng. Họ sợ dù không làm gì sai. Có thể, ngày mai, các con tàu của Việt Nam, những ngư dân Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục ra khơi, đôi khi vì nhiệm vụ, vì miếng cơm manh áo hơn là những tinh thần dân tộc hay yêu nước gì đó mà họ được phong, nhưng thứ mà họ mang theo sẽ là sự sợ hãi. Sợ vì không biết điều gì sẽ xảy ra khi họ một mình trên biển.

Cũng là lần đầu tiên, sự phản ứng được công khai trên báo chí Việt Nam, dù nội dung vẫn lại chỉ là một thông cáo không có gì mới hơn từ phía Bộ Ngoại giao. Nhưng nếu chúng ta chỉ lên tiếng xác nhận chủ quyền mà không có những hành động cương quyết để bảo vệ chủ quyền thì trong tương lai không loài trừ trường hợp tàu vũ trang Trung Quốc sẽ bắt bớ, giam giữ, đòi tiền chuộc đối với những con tàu của Việt Nam, đang hoạt động trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam như những câu chuyện đau xót ngày ngày vẫn xảy ra đối với các ngư dân. Giải quyết bằng biện pháp hoà bình không có nghĩa chỉ là bằng những lời tuyên bố xuông.

“Chúng tôi mong rằng Trung Quốc sẽ thể hiện vai trò có trách nhiệm của một nước lớn, thực hiện đúng tinh thần tuyên bố của lãnh đạo Trung Quốc”- Người phát ngôn Bộ Ngoại giao nói. Nhưng đối với nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền của một nước nhỏ, rõ ràng chúng ta cũng phải làm gì đó chứ chỉ phẫn nộ thôi thì chưa đủ. Mấy ngàn năm nay cha ông ta chưa bao giờ giữ nước chỉ bằng sự phẫn nộ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét