Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2011

NƠI BẬC CỬA

Cao Thanh Phương Nghi

Gió lay tử biệt vòm tre vắng
Vọc nước sinh ly bóng nguyệt mòn

Nếu có một kẽ hở nào trên bức tường âm dương cách trở thì chắc hẳn nàng đã dòm qua để xem Thạch hiện giờ đang làm gì, ra sao.

Người Công giáo tin tưởng rằng sau khi chết những linh hồn thiện sẽ được lên thiên đàng, những linh hồn ác sẽ xuống địa ngục. Nàng theo đạo Phật. Từ nhỏ bà ngoại vẫn nói sau 49 ngày người chết sẽ đầu thai qua một kiếp khác, tiếp tục vòng luân hồi sinh diệt. Sao rối mù. Nàng chẳng biết tìm Thạch nơi đâu. Ra nghĩa trang, nhìn khoảng đất xanh rờn và phiến đá lạnh tanh ghi mấy dòng tên họ ngày tháng nàng thấy nó vô nghĩa thế nào. Ngay cả lúc cặm cây nhang xuống cỏ nàng cũng có cảm giác rằng Thạch không có ở đó.

Loanh quanh trong thành phố nàng lái xe về ngôi nhà thờ mà trước đây Thạch vẫn đến để xem lễ. Sáng chủ nhật giáo dân trong vùng đến đọc kinh, cầu nguyện. Họ đi từng nhóm nhỏ, ăn mặc rất chỉnh tề. Mẹ nắm tay con, chồng nắm tay vợ, có người cầm theo hoa và nến, khuôn mặt người nào cũng toát lên vẻ thành kính, mộ đạo. Tiếng chuông đổ xô nhau trên những bậc thang nhà thờ. Vị linh mục bước ra mỉm cười. “Cô vào xem lễ.” Nàng cúi đầu. Nàng không có đạo. Nàng cũng không thể nói rằng mình tới nhà thờ để tìm một người đã khuất.

Cạnh nhà thờ có một công viên nhỏ, ở giữa là hồ nước, vịt lội tung tăng. Thạch ngày xưa rất thích nơi này. Có một người vô gia cư quấn chăn sù sụ nằm ngủ dưới gốc cây. Một bà già người Mễ Tây Cơ ngồi xuôi xị trên băng đá, tay lần chuỗi. Bầy vịt mon men về phía nàng ý hỏi: “Chị có gì cho chúng em ăn không?” Nàng thở dài. “Tôi ra đây tìm người. Tôi không đem theo cái gì cả.” Gió lướt vi vu trên mặt hồ. Một chiếc thuyền giấy của trẻ con chơi trôi trôi trên nước. Những con vịt giương mắt chờ mãi cũng chán lạch bạch bỏ đi.

Nàng lái xe về căn nhà trước đây Thạch đã ở. Người chủ đang cho sửa chữa lại để bán. Nhà trống. Không có chiếc xe nào đậu. Toán thợ làm việc chắc đã nghỉ tay đi ăn cơm. Nàng bần thần nhìn hàng cây trúc đào đã bị phạt rụi và khoảng sân xi măng bể lớn từng mảng. Cỏ dại thừa cơ len vào vươn cao ngập ống quần. Dựa tường nhà là một thùng giấy đựng toàn vỏ chai bia và một cái xe nôi sứt cẳng gãy gọng. Nàng đẩy cửa bước vào, qua một hành lang tối và dừng lại trước căn phòng ngày xưa của Thạch.

Nàng đứng chân trong chân ngoài nơi bậc cửa. Không khí trong phòng lạnh lẽo, đồ vật tứ tung nhưng không vì thế mà xóa được hết những dư ảnh chập chờn của một linh hồn đã khuất vắng.

Nàng thấy cái giường gỗ bị xô lệch, bên trên dơ dáy, nhểu nhão từng vệt sơn lốm đốm. Có vẻ như toán thợ đang cạo lớp sơn cũ xuống để chuẩn bị phết lên tường một lớp sơn mới. Có nhiều những tờ nhật trình trải lót dưới sàn và đôi ba cây cọ lăn lóc. Những đầu cọ khô quéo và dính bết lại với nhau. Ở góc phòng là một thùng nước vôi, kềm, búa, cưa, đục, dây nhợ, đinh ốc… trăm thứ linh tinh. Chỗ cửa sổ nơi trước kia là tấm màn vải thì nay lòng thòng một cái khăn lông cũ xười dùng làm nùi giẻ. Cây quạt trần đã được tháo đem đi, để lại một cái lỗ có những đầu dây điện thò ra cong queo như râu mực. Ngoài ra là trống trơn. Nàng nhớ là trước đây trong phòng có cái kệ sách bên tay trái, bàn viết bên tay phải và quần áo thì treo đầy trong cái tủ khoét vào vách. Nay những bản lề khô rỉ không còn giữ được hai cánh tủ nữa. Nó lặc lìa lặc lọi, lủng lẳng, đòng đưa. Dấu vết duy nhất còn lại là một quầng đen trên sàn gỗ nơi trước kia là cây đèn cao cẳng có cái chụp bị thủng một lỗ bằng trái chanh.

Trong phòng là cái im lặng thê lương.

Nàng vẫn không bước vào. Nàng nhớ là mình từng nằm, ngồi, đi, đứng, nói năng, cười khóc, thở than, hớn hở, yêu, ghét, giận hờn trong căn phòng này. Một mùi hương hỗn tạp xộc vào mũi làm nàng hắt hơi. Mùi bụi, mùi sơn, mùi sinh ly, tử biệt…

Bỗng nàng giật thót người. Có một vật gì vừa rớt ra, ngã chạm vào người nàng rồi lăn lông lốc xuống sàn làm thành những tiếng động khan. “Cộp”. “Cộp”. Nàng nhìn sững. Thì ra đó là cái cây bằng gỗ, đầu tròn, dài khoảng một sải tay tự nãy giờ vẫn đứng khép nép trong góc tối của hai vách tường nên nàng không chú ý đến. Cái cây này trước đây vẫn được dùng để chận trên bệ cửa sổ đề phòng kẻ gian. Mỗi khi nàng tới chơi Thạch vẫn lấy cái cây ấy xuống để kéo cửa sổ ra cho mát. Nàng khom xuống nhặt cái cây lên để ngang tầm mắt. Tại sao cái cây này lại rớt ra? Có ai đụng tới hồi nào đâu mà rớt. Tự nãy giờ nàng còn chưa bước vào phòng kia mà.

Khóe mắt nàng nóng hổi. Nàng hiểu là người chết vẫn còn quanh quất nơi đây và dùng cái cách ấy để báo cho nàng biết. Nàng linh cảm như có một người vô hình đang đứng đâu đó trong căn phòng, cách nàng không đầy một khoảng tay với. Một luồng gió từ ngoài cửa sổ hay từ thế giới bên kia lùa vào phòng, vỗ phập phều lên những tấm nhật trình dưới đất nghe như tiếng quần áo sột soạt của một người đang bước qua bước lại. Nàng dựng cái cây vào vách, ngồi bệt xuống bậc cửa. Mắt nàng mở trao tráo. Hình như trên tờ nhật trình nổi lên những dấu giày? Phải vậy chăng? Nàng nhìn vào khoảng không trống rỗng trước mắt và làm như nàng “thấy”, “thấy” một người bước lại gần nàng, chạm vào vai nàng, băng xuyên qua người nàng rồi lướt đi mất hút về cái phía sang sáng ở đầu hành lang bên kia.

Nàng vẫn còn ngồi yên nơi bậc cửa. Loáng thoáng bên tai là tiếng máy xe, tiếng chân bước rầm rầm cộng với tiếng cười giỡn rối rít giòn tan của toán thợ vừa đi ăn trưa về.

5/2011

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét