Thứ Ba, 31 tháng 5, 2011

NHỚ NGHĨ VỀ SÀI GÒN

(Bài này nguyên có tên là ‘Bài Thuyết Trình Không Đọc’, được đăng trên tạp chí Thế Kỷ 21 số 180, tháng 4 năm 2004.)

PHẠM XUÂN ÐÀI

(Tiếp theo và hết)

Giở lại những trang viết cũ
 
Ðọc lại phần viết trên đây nói về việc Sài Gòn giống Paris, tôi sực nhớ đến những trang mình viết cách đây bảy năm, sau khi lần đầu tiên đi Paris về. Có lẽ nên trích vài đoạn, để xem lại những nhận xét còn nóng hổi của hồi ấy.

Tôi khám phá ra rằng tại một số nơi Paris rất giống Sài Gòn, khiến gây nơi tôi những hoài niệm rất bất ngờ. Một buổi chiều trời mưa, tôi che dù đi ở một phố nào đó tôi không nhớ, bỗng nhiên tôi thấy y hệt như tôi đang đứng chỗ ngã tư Lê Thánh Tôn với đường Tự Do, ngay trước quán La Pagode. Còn giống hơn là ngày ra khỏi tù cải tạo về Sài Gòn tôi đứng ngay chỗ góc phố đó, mà thấy như đang ở nơi xa lạ.
Ði vắng khỏi Sài Gòn mười ba năm kể từ năm 1975, khi quay về tôi ngẩn ngơ vì cái cảm giác “mất hết.” Sài Gòn không còn nữa, sau khi được liên tiếp “cải tạo,” mọi thứ trở nên xấu xí, tầm thường, mất cái thần sắc mà đô thị mến yêu ấy ngày xưa vẫn tỏa ra, như mùi hương bát ngát của một cây hoa, như vẻ duyên dáng của một người đàn bà. Không riêng Sài Gòn, từ sau năm 1975 cả miền Nam mất cái thần sắc ấy, mất nơi từng cá nhân con người, trong từng xóm làng, từng thành phố. Cái guồng máy gọi là cách mạng kia nó có biệt tài xóa đi rất nhanh cái mà tôi gọi là lớp men của sự sống vốn vẫn tồn tại nơi các xã hội lành mạnh, trong đó chứa đầy hơi hướng của tình người và của sự phát triển tự nhiên các khả năng tinh thần, tình cảm, mơ mộng và cần lao của con người. Nó xóa sạch không thương tiếc, khiến tất cả đều trần trụi, cắt đứt với quá khứ, cắt đứt với tương lai. Tôi đã về lại Sài Gòn đối diện với nỗi trần trụi ấy nơi đường Tự Do, nơi đường Lê Thánh Tôn, trước quán La Pagode, thấy đây không phải là Sài Gòn của ngày xưa nữa. Tôi có một người bác mà tôi rất yêu mến, năm 75 khi chào ông để đi cải tạo bác tôi vẫn còn khỏe mạnh minh mẫn, nhưng khi về gặp lại thì ông đã hoàn toàn lẫn, bác chào thằng cháu ngày xưa như một người xa lạ, không còn phân biệt được ai với ai. Ðứng trước bác tôi, tôi cảm thấy lòng quặn đau, biết vĩnh viễn không còn cách gì có lại người bác ngày xưa. Sài Gòn cũng thế, đã già sụm và biến dạng đi không ngờ, và cũng đã đi vào cơn mê lẫn, lờ đờ nhìn tôi không còn nhận biết tôi là ai, cũng như tôi không còn tìm ra một ngôn ngữ chung nào để tôi và cái đô thị mến yêu ấy còn có thể trao đổi nhận ra nhau trở lại. Từ ngày còn ở trong tù, khi biết có một bài hát mới hát rằng “em ra đi nơi này vẫn thế” tôi đã cười và lắc đầu nghi ngờ tính chất chân thật của lời nói ấy, đến khi về đến tận “nơi này” thì tôi thấy không còn phải nghi ngờ gì nữa. Ðứng giữa Sài Gòn mà tôi đã mất Sài Gòn. Tôi biết cảm giác đó không phải chỉ riêng tôi có. Vô số bạn hữu đã đau khổ, hụt hẫng, và phẫn nộ nữa, khi đối diện với một Sài Gòn xác xơ và trần trụi.



(Trích lại từ bài Ði Tây đăng trên Thế Kỷ 21 số 100, tháng Tám, 1997).


Nhà hát lớn


Nhớ lại hồi năm 1997, tôi đi Pháp với Trần Ðại Lộc, một người bạn chơi thân với tôi từ thời còn học trung học, lúc bấy giờ Lộc đang bị ung thư gan thời kỳ cuối, hai đứa rủ nhau đi chơi chung một chuyến, không nói ra nhưng đều ngầm hiểu là chuyến chót. Từ thời học chung ở Petrus Ký Sài Gòn cuối thập niên 1950 cho đến năm ấy, chúng tôi đã đi với nhau biết bao nhiêu lần, đến lần này biết là sắp chấm dứt cuộc chơi chung rồi, nhưng hai thằng vẫn háo hức, vui vẻ như thuở nào trước cảnh lạ đường xa, đi chơi chẳng chút u sầu. Chắc tại bản chất của Lộc và tôi như vậy, hay “ham dzui,” hãy biết thưởng thức những gì đang có trước mắt đã, chuyện gì sẽ tới tính sau. Ba tháng sau chuyến đi, Lộc mất, nhưng tất cả những gì tôi viết về nước Pháp, Lộc đều đọc và góp ý kiến rồi mới làm chuyến viễn du khác, một mình.

Báo Thế Kỷ 21 số 100 (có đăng đoạn trích trên đây) phát hành được ít lâu thì tôi có một người bạn mới, qua một bức thư gửi về Tòa soạn, đó là anh Nguyễn Hữu Chung ở Montreal, Canada. Bức thư của anh Chung được đăng vào mục Bạn Ðọc Viết số 102, như sau:

Ngày 9 tháng Chín 1997
Thân gửi Phạm Xuân Ðài,
Nếu bạn ở đây thì tôi đã khui một chai Champagne mời bạn. Cám ơn bạn đã làm cho tôi thấy lại Sài Gòn một cách rõ nét hơn, sau hơn 22 năm xa cách.
Anh chàng xứ Quảng đã thấy rõ Sài Gòn và thân thương Sài Gòn hơn cả triệu dân Sài Gòn khác. Với tư cách của tên đã từng sống chết với Sài Gòn, đã từng làm mưa làm gió ở đây, tôi cám ơn bạn.
Tôi thật sự đã gặp bạn trong bài “Ði Tây,” và tôi hiểu tại sao tôi đã thích đi Paris chơi hơn là đi Mỹ. Washington, New York, Los Angeles, San Francisco, chưa nơi nào làm tôi cảm hứng khi đi dạo. Ở những nơi đó không có hè phố, không có sinh hoạt đầy chất người, chỉ có sinh hoạt vô danh (anonyme).



Tòa đô chánh


Những điều bạn viết sau đây đã “đánh trúng huyệt”: “Sự giống nhau giữa hai đô thị phải vừa ở kiểu mẫu kiến trúc, vừa ở khí hậu văn hóa, và cái sau bổ túc và quyết định cho cái trước. Ðời sống văn hóa có tương đương mới tạo ra nét tương tự được. Nếu tiệm may thanh lịch Aux Ciseaux d’Art bên kia đường biến thành Cửa hàng May mặc quốc doanh, nếu người ta phóng uế vào các gốc cây bên đường và thi nhau lột vỏ cây đem về làm củi đun, nếu người ta mắc máy phóng thanh khắp các góc phố để cả ngày ra rả các khẩu hiệu tiến nhanh và tiến mạnh..., ở trong một thành phố Hồ Chí Minh như thế, tôi đoan chắc có đi Paris người ta cũng sẽ không nhận ra điểm tương đồng giữa hai thành phố đâu. Trái lại, chỉ nhận ra toàn cái xa lạ, như dương gian và âm phủ.”

Tôi cũng đã nghĩ tới điều nầy và nó đã làm cho tôi buồn nhiều vì tôi thấy ra rằng tôi đã mất hẳn Sài Gòn như tôi đã mất tuổi trẻ. Tôi đã đem tuổi trẻ sống bên lề xã hội nầy như bạn đã đem tuổi trẻ chôn trong tù. Bây giờ tuổi trẻ chẳng bao giờ trở lại cũng như Sài Gòn sẽ chẳng bao giờ thấy lại với những con người ngây ngô của nó, với cái không khí nửa chợ nửa quê, nửa mới nửa cũ, nửa tây nửa ta của nó. Chính vì vậy mà chẳng những tôi chưa tìm về Sài Gòn, tôi còn rất ghét những ai về đó trở qua nói rằng Sài Gòn bây giờ vui lắm, nhiều Honda, nhiều khách sạn... Mấy người đó không cảm nhận cái khí hậu văn hóa của nơi mà họ đến, cũng như nhiều người không hề nghe tiếng chim khi chim hót trên cành.
Nguyễn Hữu Chung (Montreal, Canada)


Bạn Nguyễn Hữu Chung đã từng làm dân biểu nhiều khóa tại Quốc Hội Ðệ Nhị Cộng Hòa, và đúng như bạn nói, đã “từng làm mưa làm gió” ở Sài Gòn, lại cũng vừa từ giã chúng ta vào tháng Hai 2004 vừa qua tại Montreal, cũng lại vì bệnh ung thư. Hóa ra, hai người bạn của tôi, có dính líu xa gần đến chuyến “đi tây” ấy đều đã ra đi về miền Tây phương cực lạc. Ôi, chúng tôi đều là những người của Sài Gòn xưa, đã sống những ngày trai trẻ ở đó, đã từng “làm mưa làm gió” mỗi người một cách, bây giờ đã đến lúc, kẻ trước người sau, từ giã cõi đời. Thế hệ chúng tôi có Sài Gòn riêng, từ 1954 đến 1975, không giống thời Pháp thuộc, càng không giống thời cộng sản cai trị. Cái Sài Gòn ngưng đọng hai mươi năm ấy, nay không còn nữa, những cư dân của nó thời ấy đang dần dà ra đi. Trong một nghĩa nào đó, tất cả những gì thuộc Sài Gòn ấy đều đã bị bức tử, dù là đi di tản ngay 75 như Chung, vào tù như Lộc và tôi, bị bức tử cả cái khí hậu văn hóa phơi phới của nó.

Trong hai mươi năm ấy, ít nhất thế hệ chúng tôi đã có 15 năm trưởng thành trước khi miền Nam và Sài Gòn bị khối cộng sản nuốt chửng. Cái thắng và cái thua của một trận thế hẳn phải có nguyên do chính xác của nó trong cái nhìn lịch sử toàn cục. Ở đây trong lòng tưởng nhớ Sài Gòn ta chỉ nhìn cái chết của Sài Gòn đang lúc giữa độ thanh xuân, giống như cái chết giữa độ thanh xuân của cả một thế hệ chúng tôi, như Nguyễn Hữu Chung nói đến trong bức thư. Sài Gòn thủ đô của nước Việt Nam Cộng Hòa trước khi chết đã đặt để các nền móng căn bản cho một nước Việt Nam tương lai, về văn hóa, kinh tế, chính trị, như một di chúc viết sẵn, mà trước sau gì rồi dân tộc Việt Nam cũng sẽ đi theo, nếu không nói là từng bước đang đi theo. Chủ nghĩa cộng sản trong một thời điểm lịch sử có thể có sức mạnh man rợ của hung nô, nhưng một khi hung nô phải sống với loài người văn minh thì dần dần phải tập nhiễm đời sống văn minh. Sài Gòn thủ đô của chúng ta đã sắp sẵn khuôn mẫu của cuộc sống văn minh ấy, từ nếp sống đô thị, tinh thần khai phóng, và nhất là tinh thần tự do. Sài Gòn cũ đã chết, nhưng những tinh túy đã kết tinh không thể tan biến, trái lại còn đó như một dưỡng chất bàng bạc nuôi sống cuộc tranh đấu của bao nhiêu người trong hiện tại.

Chỉ riêng đời sống văn hóa văn nghệ của Sài Gòn với quan niệm tự do của nó đã để lại những ảnh hưởng tích cực cho cuộc sống về sau. Tha hồ cho những vụ “truy quét” sách vở miền Nam sau tháng Tư năm 1975, tha hồ cho những đợt bắt bớ khủng bố giới văn nghệ sĩ, tha hồ cho những bôi xấu một cách thô bỉ vô văn hóa đời sống tinh thần của miền Nam, cái nhân bản, cái đẹp thật sự mà chúng ta đã tạo ra vẫn tồn tại âm thầm trong cuộc sống và chiến thắng nếp văn nghệ tiền chế đẫm mùi nô dịch và tuyên truyền của phe thắng trận. Kẻ thắng trận đã đụng phải một nền văn minh cao hơn, và họ phải chấp nhận sự đồng hóa, dù họ không bao giờ muốn như thế, vì cái lộ trình “tiến lên chủ nghĩa xã hội” của họ đã sẵn rồi, bài bản đã học thuộc mấy mươi năm từ miền Bắc rồi. Họ có thể làm tan hoang một Sài Gòn hoa lệ, có thể đề ra nhiều biện pháp cào bằng đời sống cho mọi người đều đói khổ như nhau để ép mọi người vào cuộc sống trại lính - kịch bản bất di bất dịch của chủ nghĩa cộng sản tại bất cứ xứ sở nào - nhưng gặp phải Sài Gòn hình như họ cảm thấy mọi sự không dễ. Dù tên Sài Gòn bị tiêu diệt để đổi thành thành phố Hồ Chí Minh, nhưng người Sài Gòn vẫn sống với tâm tình của Sài Gòn cũ. Bên dưới cuộc sống “cách mạng” ồn ào bề mặt có một đời sống ngầm phong phú, đa dạng: họ vẫn nghe những bản nhạc yêu thích ngày xưa, họ vẫn đọc sách cũ, vẫn kín đáo gìn giữ những giá trị trước kia đã làm nên miền Nam: giữ gìn truyền thống tình thương yêu và giáo dục trong gia đình, lòng từ thiện đối với xã hội, những sinh hoạt tâm linh thuộc các tôn giáo... Họ biết chế độ mới đang ra sức phá hủy những thành tựu thuộc về cuộc sống cũ để áp đặt những loại giá trị hoang đường kiểu như “tính đảng, tính giai cấp”... và họ lặng lẽ tổ chức phòng thủ đẩy ra ngoài cơ thể của cuộc sống họ những vật thể lạ lùng quái đản ấy, không để chúng làm bẩn bầu không khí truyền thống trong lành cố hữu của Sài Gòn. Và thời gian đã trả lời cho câu hỏi “ai thắng ai?” đầy ngạo mạn và hãnh tiến của người chiến thắng đặt ra trong những ngày đầu chiếm đóng, đặt câu hỏi nhưng cũng hàm ý trả lời rồi: thì chúng ta, cộng sản, thắng kẻ thù chúng ta là tư bản, chứ còn ai vào đây nữa?!

Thời gian đã trả lời rằng một nền văn hóa cao hơn sẽ đồng hóa những gì thấp kém hơn nó. Những gì người ta làm trong thời “đổi mới” thì đối với dân Sài Gòn cũng như toàn thể dân miền Nam chỉ là những bước tập tễnh để quay lại với những gì xưa cũ tại miền Nam, hoặc rộng hơn, với nếp sống vẫn có của dân tộc và nhân loại mà thôi. Nhưng đặt ra chữ “đổi mới” là để tự huyễn hoặc mình và đánh lừa kẻ khác rằng đây là sự chủ động sáng tạo của chính mình chứ chẳng phải học đòi một cái gì của “kẻ thù” (!), mặc dù trong thực chất đó chỉ là bước đầu của một sự đầu hàng. Một hệ thống ý thức hệ vô nhân đầu hàng cái nhân đạo vẫn sống với loài người từ xưa đến giờ mà thôi, chẳng có gì khác cả. Mới chiếm đóng Sài Gòn được mười năm, mới đóng cửa để bắt đầu thao tác một ít màn dã man đốt sách, cướp bóc của cải, nhà cửa, đẩy hàng loạt người đi về những nơi không thể sinh sống được, mở hàng loạt nhà tù để lùa vào đủ thành phần lành mạnh của xã hội - những kẻ giỏi kinh doanh làm ăn, những nhà văn nhà báo nhà nghệ sĩ tự do đã đem lại cho đời biết bao tác phẩm đẹp đẽ... - những kẻ chiếm đóng đã cuống quít nào “mở cửa,” nào “cởi trói,” nào “phá bỏ bao cấp, đổi mới tư duy” v.v... Thì đấy, nền tảng Sài Gòn xưa còn đấy, từ xưa Sài Gòn có đóng cửa bao giờ đâu, có trói ai đâu, có đè nén và nô lệ hóa tư duy của ai đâu... tài nguyên trí tuệ và vật chất cùng tâm hồn Sài Gòn cũ vẫn còn đấy, quý vị có phá phách thì nó cũng chỉ kịp hao hụt chút đỉnh thôi, nếu biết tạo lại những điều kiện bình thường của một cuộc sống tương đối văn minh thì Sài Gòn sẽ tái sinh, thì hòn ngọc cũ bị bỏ lăn lóc lại có thể sáng chói lên trở lại được nhờ ở tiềm năng tự do và sáng tạo sẵn có trong cơ thể của nó.

Sài Gòn có một truyền thống báo chí khá tự do và phong phú, có từ thời còn là thuộc địa của Pháp. “Nhựt trình” đối với dân Sài Gòn là một nhu cầu hàng ngày, để được cung cấp tin tức, bình luận, thông tin thương mại và cả giải trí. Chúng ta đã có một nền báo chí tư nhân khá lành mạnh, làm nền tảng cho quá trình xây dựng dân chủ cho miền Nam. Sau cuộc chiếm đóng 1975, bầu trời u ám hẳn vì mỗi sáng mỗi chiều vắng bóng báo chí tự do, cái phần sinh hoạt vô cùng linh động đem lại vẻ tươi tắn và trí tuệ cho cả Sài Gòn. Với báo chí quốc doanh, ngày nào trời cũng xám xịt những sản phẩm tiền chế hệt những đám mây đen che hết ánh sáng của dân chúng. Người Sài Gòn lầm lũi đi trong một cảnh tranh tối tranh sáng.

Mãi đến khi đổi mới, một vài nét xưa mới được hồi phục, mặc dù ý niệm “tự do báo chí” vẫn là một cái gì húy kỵ. Nói chung, tập thể làm báo Sài Gòn trong thời kỳ này là những người trẻ tuổi, tuy một số trong chiến tranh có theo cộng sản, nhưng là những người đã hấp thụ nền giáo dục và khí hậu văn hóa miền Nam, khi đã được tương đối tự do, họ đã biểu lộ những cung cách sáng tạo và độc lập khác hẳn lề lối ngoan ngoãn buồn tẻ của dân “làm báo đảng” chuyên nghiệp trên đất Bắc. Ðó cũng là một truyền thống làm báo được phần nào tiếp tục tại Sài Gòn, một truyền thống bắt nguồn kể từ thời xa xưa khi đất Nam Kỳ còn là nhượng địa của Pháp với những cây bút đanh thép Phan Văn Hùm, Nguyễn An Ninh, Phan Khôi... đến thế giới báo chí muôn màu muôn vẻ của thời Việt Nam Cộng Hòa. Vả lại di sản văn hóa văn nghệ phong phú của Sài Gòn vẫn sống còn trong mạch ngầm của nó, âm nhạc, tiểu thuyết, phim ảnh, cách ăn mặc, cách nấu nướng, lề thói ăn chơi, phong cách sống v.v... như một cái vốn quá dồi dào để có thể tô điểm tức khắc cho một Sài Gòn vừa thoát ra khỏi sự đè nén tối tăm của nền văn hóa vô sản để làm cuộc đổi-mới-trở-về-với-cái-cũ.

Sài Gòn của chúng ta sẽ không có một cái tên nào có thể thay thế được, trước sau gì cái tên Sài Gòn cũng sẽ trở về với thành phố thân yêu ấy. Bốn năm trước tôi đã đi tới thành phố Saint Petersbourg của nước Nga và đã biết được một điều kỳ diệu: bảy mươi năm sau khi thành phố ấy đổi từ tên Petersbourg thành Leningrad (từ tên Lenin, tay trùm cộng sản của Nga), từ đầu thập niên 1990 đã trở lại với tên cũ, không những thế, tất cả tên các con đường trong thành phố cũng quay lại tên cũ giống hệt như Tolstoi đã ghi trong các tác phẩm của mình. Dân tộc Nga là một dân tộc vĩ đại, họ đã đi hết con đường sai lầm của mình, và không ngần ngại chuyển về chính đạo muôn thuở của nước Nga cũng như của loài người. Rồi người Việt Nam cũng sẽ làm công việc ấy, vứt bỏ cái tên của tay trùm cộng sản Việt Nam, để trả lại cho Sài Gòn những gì là Sài Gòn, chắc chắn với một thời gian ngắn hơn nước Nga nhiều.

Tôi không muốn bắt chước Bà Huyện Thanh Quan than thở trước những đổi thay

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Ðến nay thấm thoát mấy tinh sương

khi nhìn thành Thăng Long biết bao mến yêu của bà cũng như của bao tầng lớp sĩ phu khác không còn vị trí then chốt thuở xưa nữa. Chúng tôi mất Sài Gòn với tâm trạng khác người xưa, đau đớn vì cuộc chiến đấu cho lý tưởng tự do của mình đã thất bại, nhưng lại tin chắc lý tưởng ấy trước sau gì cũng phải trở về lại với đất nước Việt Nam và thành phố thân yêu ấy. Sau 13 năm đi cải tạo trở về tôi đã gặp một Sài Gòn hoen ố và gớm ghiếc của thế giới cộng sản. Ấy là khi chủ nghĩa cộng sản chưa sụp đổ và chưa có bàn tay, tri thức và tiền bạc của thế giới văn minh nhúng vào. Bây giờ thì đã khác, Sài Gòn đã thay da đổi thịt, cuộc đồng hóa của văn minh với man di đã bắt đầu. Bài học đã qua thời kỳ vỡ lòng, nhưng bắt buộc phải tiếp tục tiến đến những trình độ cao hơn: tinh thần dân chủ tự do phải được tôn trọng và phát triển. Ðó chính là bản chất của Sài Gòn. Khi tinh thần đó thực sự được thắp sáng bừng lên thì Sài Gòn sẽ tự gọi trở lại tên cúng cơm của nó là Sài Gòn, chẳng khác nào Petersbourg lại trở về với Petersbourg.

PXĐ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét