Thứ Hai, 16 tháng 5, 2011

HỒ CHÍ MINH VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (1)

VÕ NHÂN TRÍ

Khi bàn về cái gọi là “Tư tưởng Hồ Chí Minh” (TTHCM) đa số tác giả thường đề cập đến các khía cạnh chính trị nhưng ít ai đã động tới khía cạnh kinh tế của nó. Mặt khác, các tác giả nầy cũng bàn chủ yếu về hoạt động của ông Hồ Chí Minh trước năm 1958, tức là trước khi giai đoạn “cách mạng xã hội chủ nghĩa” bắt đầu.

Trong bài tham luận này, chúng tôi sẽ bàn về cả hai khía cạnh chính trị và kinh tế của “TTHCM” (1) và chủ yếu là những khía cạnh liên quan trực tiếp đến quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (XHCN) theo kiểu Mác Lê ở Việt Nam, bắt đầu từ 1958.

Trong phần kết luận, chúng tôi bác bỏ luận điệu của ÐCS viện lý “TTHCM” để hỗ trợ cho chính sách “đổi mới” hiện nay.

Theo gương ÐCS Trung Quốc đã đề cao “Tư tưởng Mao Trạch Ðông” Ðảng Cộng Sản Việt Nam (ÐCSVN) cũng bắt đầu từ năm 1991 trở đi, đề cao một cách giả tạo cái gọi là “TTHCM” tại Ðại hội 7 của họ (tháng 6/91) để có chút ít bản sắc dân tộc sau khi chủ nghĩa Mác Lê đã thất bại với sự sụp đổ của khối Liên Xô - Ðông Âu. Giả tạo là vì chính ông Hồ cũng đã từng nói: “Tôi không có tư tưởng gì ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lê cả” (2). Dưới đây chúng tôi sẽ lần lượt phân tích khía cạnh chính trị và kinh tế của “TTHCM.”

1. Khía cạnh chính trị của “TTHCM”
Về vấn đề này thì có lẽ cần nhắc lại trước tiên là trong Báo cáo chính trị đọc tại Ðại hội 2 của Ðảng Lao Ðộng Việt Nam (tiền bối của ÐCSVN) hồi tháng 2/1951 trong kháng chiến, ông Hồ đã hết sức ca ngợi và đề cao cả Stalin lẫn Mao.

Quan điểm của Stalin mà ông Hồ rất tâm đắc là: “ÐCS là công cụ của chuyên chính vô sản”, và “chuyên chính vô sản về thực chất được thay thế bởi chuyên chính của ÐCS”; hơn nữa, trong thực tế, chuyên chính của ÐCS có nghĩa là chuyên chính của một người: Stalin (3). Boris Souvarine đã từng cho rằng ông Hồ là “một đồ đệ tuyệt trần của Stalin”(4).

Về ảnh hưởng của Mao đối với ông Hồ thì chúng tôi chỉ muốn trích dẫn ở đây câu nói điển hình trong Báo cáo chính trị mà ông Hồ đã đọc tại Ðại hội 2 (tháng 2/51) vừa nhắc lại ở trên: “Cách mạng Việt Nam phải học ... nhiều kinh nghiệm của cách mạng Trung Quốc. Kinh nghiệm [này] và tư tưởng Mao Trạch Ðông đã giúp cho chúng tôi hiểu thấu đáo hơn học thuyết của Mác _ Ănghen - Lênin - Stalin. Những người cách mạng Việt Nam phải luôn luôn ghi nhớ và biết ơn Mao Trạch Ðông về sự cống hiến to lớn đó”(5). Và cũng tại Ðại hội 2 này, ông Hồ đã tuyên bố: “Ai đó có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Ðông thì không thể nào sai được”!!!(6). Một sự sùng bái đến độ mù quáng đến thế là cùng!


Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, 1950

Theo Phạm Văn Ðồng, “TTHCM” bao gồm 5 yếu tố chủ yếu sau đây: Chủ nghĩa Mác Lê (CNML); sự lãnh đạo tuyệt đối của ÐCS; chuyên chính vô sản (CCVS); con đường đi lên XHCN; và tinh thần quốc tế vô sản (7).

Các yếu tố này đã được nhiều người cả trong lẫn ngoài nước- phân tích rồi. Ở đây chúng tôi chỉ muốn nêu lên một vài khía cạnh mà thôi.

Có một số Việt kiều cho rằng ÐCSVN hiện nay cố ý nêu bật “TTHCM” là vì họ muốn thay thế chủ nghĩa Mác Lê đã lỗi thời bằng “TTHCM”, nhằm lừa phỉnh nhân dân dễ dàng hơn bởi vì nó còn có ít nhiều bản sắc dân tộc. Ðiều này không hoàn toàn đúng bởi vì chính cơ sở ý thức hệ của ông Hồ là chủ nghĩa Mác-Lê, và ông Hồ vẫn coi nó là “học thuyết đúng đắn nhất, cách mạng nhất,” là “kim chỉ nam cho hành động” kia mà (có lẽ cũng cần nhắc lại ở đây: cụm từ CNML là do chính Stalin sáng tạo ra hồi năm 1938). ÐCSVN thường hay khẳng định rằng “TTHCM” là “một sự vận dụng và phát triển sáng tạo của CNML vào điều kiện cụ thể của nước ta,” nhưng trong thực tế thì họ chỉ có rập khuôn một cách máy móc kinh nghiệm của Liên Xô và Trung Quốc mà không tính đến hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, do đó đã gây ra nhiều hậu quả vô cùng tai hại cho nhân dân (như cải cách ruộng đất, cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công, thương nghiệp tư doanh v.v... theo kiểu Mao chẳng hạn).

Về sự lãnh đạo tuyệt đối của ÐCS trong cách mạng Việt Nam thì chủ trương của ông Hồ, từ lúc đầu, là thủ tiêu bất cứ ai muốn cạnh tranh giành sự lãnh đạo đó. Ông Hồ đã từng tuyên bố: “Ðảng ta không những đã giành được quyền lãnh đạo cách mạng trong cả nước, mà còn đập tan được mọi âm mưu của giai cấp tư sản hòng tranh quyền lãnh đạo cách mạng với Ðảng ta”(8). Do đó, sau khi nắm chính quyền, Việt Minh (tức là ÐCS) đã tiêu diệt không những các đảng quốc gia(9) mà còn thủ tiêu các lãnh tụ troskit Việt Nam (như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh v.v...) mà ông Hồ gọi là “đàn chó troskít” và đã từng buộc cho họ tội “phản bội, gián điệp, tay sai đế quốc”, “những kẻ đầu trâu mặt ngựa”, “kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ”, “bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất”(10). Có lẽ cần nhắc lại đây câu nói nổi tiếng của ông Hồ trong một cuộc đàm thoại với Daniel Guérin, một nhà báo Pháp: Khi bình luận về cái chết của Tạ Thu Thâu, cựu cố vấn tros-kít của Hội đồng thành phố Sài Gòn, ông Hồ tuyên bố: “Ông ấy là một người yêu nước vĩ đại, và tôi thương xót (?) ông ấy”; nhưng liền sau đó, với một giọng rất cứng rắn, ông Hồ nói tiếp: “[Nhưng] tất cả những ai không theo đường lối của tôi đều sẽ bị bẻ gãy [tức là bị thủ tiêu-VNT]"(11).

Dưới thời đại ông Hồ, ÐCS thường nêu lên khẩu hiệu “Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Dân làm chủ”. Ai cũng thấy khẩu hiệu này là vừa mâu thuẫn vừa khôi hài, nhưng chẳng ai dám nói ra. Mâu thuẫn là vì: tại sao nhân dân làm chủ mà lại phải chịu sự lãnh đạo của đảng, thông qua sự quản lý (thực tế là cai trị) của nhà nước (do đảng dựng lên); như vậy là người dân ở trong tình cảnh một cổ hai tròng! Còn khôi hài là vì, về lý thuyết thì ÐCS nói một cách hoa mỹ và mỵ dân là dân làm chủ nhưng trong thực tế ai cũng thấy rõ là đảng làm chủ dân!

Nhà sử học và đảng viên Nguyễn Kiến Giang đã nhận xét như sau “... sự độc quyền lãnh đạo của đảng ... được thực hiện thành sự thống trị tuyệt đối của đảng trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, thậm chí ... cả đời sống cá nhân...; đảng có quyền quyết định tất cả...; và mọi người dân chỉ còn được phép nghĩ theo, nói theo và làm theo những quyết định của đảng, có khi chỉ là một cấp lãnh đạo, thậm chí một cá nhân lãnh đạo nào đó”. (12)

Ông Hồ còn nhấn mạnh là trong lối sinh hoạt của đảng (và nhà nước) thì nhất thiết phải dựa trên nguyên tắc tổ chức cơ bản là “tập trung dân chủ” (democratic centralism) (13). Ðấy là về lý thuyết chớ trong thực tế thì ai cũng biết chỉ có tập trung chớ không có dân chủ. Có người còn nói: “tập trung là căn bản, còn dân chủ chỉ là hình thức; nguyên tắc này bảo đảm sự tồn tại mãi mãi của một kẻ độc tài hay một nhóm độc tài toàn quyền thao túng công việc của đảng và nhà nước, độc tôn thống trị xã hội.” (14) Ðáng lẽ phải gọi nguyên tắc tổ chức này là “tập trung chuyên chính” (dictatorial centralism) thì đúng hơn!


Hồ Chí Minh nhảy xôn-đố-mì với cố vấn Tàu tại Việt Bắc.


Về vấn đề “chuyên chính vô sản” (CCVS) thì ông Hồ đã áp dụng triệt để khái niệm này của C.Mác, Lê-nin, và Stalin.

Ông Hồ đã từng nói: “Dân chủ cần phải có chuyên chính” (15) đúng theo định nghĩa của chuyên chính vô sản mà ÐCS nào cũng dạy cho đảng viên trong các lớp vỡ lòng. Dân chủ nói ở đây là phải hiểu theo định nghĩa của Lê-nin. “Chế độ dân chủ là một hình thức của nhà nước mà bản chất của nó là sự sử dụng một cách có tổ chức và có hệ thống sự cưỡng bức [coercion]... [đối với người dân]"(16). Cũng theo Lê-nin, nhân dân (phải hiểu ngầm là nhân dân lao động mà thôi) được quyền bày tỏ ý kiến của mình, miễn là trong khuôn khổ của đường lối, chính sách mà đảng đã vạch ra, chớ không thể đặt lại vấn đề. Về đường lối đó; nếu nhân dân ngoan ngoãn như vậy thì không có lý do gì mà sợ bị đàn áp (đó là dân chủ), còn nếu chống lại đường lối của đảng thì sẽ bị đàn áp ngay (đó là chuyên chính). Về lý thuyết thì đảng nói chỉ có chuyên chính với kẻ thù giai cấp, nhưng trong thực tế thì, theo nhận xét của anh Lữ Phương, một thiểu số cầm quyền (tập đoàn lãnh đạo ÐCS) đã thực hiện một sự chuyên chính nhằm “thống trị đại đa số dân cư: Không phải chỉ đối với đế quốc, tư sản phản động mà còn đối với cả nhân dân lao động, trong đó có cả giai cấp vô sản và những đảng viên bình thường nữa”(17). Như vậy là trong thực tế cái gọi là CCVS đã trở thành chuyên chính với giai cấp vô sản, chuyên chính với nhân dân. Một ví dụ: dưới thời đại ông Hồ có một quyết định của Bộ chính trị đã được “chính quyền hóa” bằng một nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 49/NQ/TVQH do Trường Chinh ký ngày 20/6/61 nó cho phép chính phủ bắt giam công dân vào trại tập trung được gọi là “trại cải tạo” mà không cần có tòa án xét xử ở khắp miền Bắc trong thời hạn ba năm; và khi hết hạn đó thì chính quyền có thể gia hạn và cứ thế kéo dài vô thời hạn.

Trong số nạn nhân đó không những có người thuộc đảng phái chống đối, sĩ quan và công chức “cũ” đã chịu quy phục chính quyền mới mà còn có những trí thức, nhà văn, nhà báo, giáo sư đã từng tham gia kháng chiến chống Pháp, cán bộ, đảng viên, quân nhân bất đồng ý kiến với chính sách của đảng. Hàng chục vạn người bị tù đày hầu như vô thời hạn; vợ con bị phân biệt đối xử tàn tệ; tình cảnh họ thật là bi đát. Bao nhiêu người khốn khổ đã phải bỏ mình ở các “trại cải tạo” này (18). Than ôi, nghị quyết 49 này lại được lập lại một lần nữa 36 năm sau, với một quy mô rộng lớn hơn, dưới tên gọi là nghị định 31/CP do ông Võ Văn Kiệt ký ngày 14/4/97. Cái CCVS mà ông Hồ chủ trương đã gây ra nhiều tội ác, và như nhà lão thành cách mạng quá cố Nguyễn Văn Trấn đã nói: “Tội ác chế độ này, từ 40 năm nay, thật nói không hết” (tác giả nhấn mạnh -VNT) (19).

Ðể hình dung được phần nào sự chuyên chính của ÐCSVN, thông qua bộ máy đàn áp khốc liệt của nhà nước, dưới thời đại ông Hồ và sau đó nữa, chúng tôi xin trích dẫn nhận xét sau đây của Thành Tín (bút danh của Bùi Tín, cựu phó Tổng biên tập báo Nhân Dân): “Ðó là một bộ máy đàn áp rộng lớn và tinh vi theo kiểu KGB lộng hành, bất chấp luật pháp và dư luận, chà đạp quyền tự do của công dân, khống chế con người và xã hội, tạo nên nỗi sợ thường trực và dai dẳng [cho nhân dân]...”(20)

Theo nhà văn nổi tiếng và rất dũng cảm Dương Thu Hương thì chế độ cộng sản ở miền Bắc là một chế độ “phong kiến và công an trị” (21) và bà này cho rằng chuyên chính vô sản và nguyên tắc tập trung dân chủ đã biến chế độ Hà Nội thành một chế độ “lạc hậu và man rợ” và “thiếu dân chủ” (22). Còn anh Nguyễn Chí Thiện, một nhà thơ và nhà văn đã từng bị cầm tù trong 27 năm trời, thì nhận xét chế độ Hà Nội như sau: “Ðảng là một tổ chức siêu phát-xít, cực kỳ hung hiểm”; “... họ đương xây một con đường lên cái chân trời Cộng sản mù mịt đó bằng thây người, bằng nước mắt, mồ hôi, rớt dải, cơ hàn, chiến tranh, lao tù, gian dối, thủ đoạn tàn bạo, bằng ngu tối, vô luân, vô sỉ, bằng nô lệ, kềm kẹp, bằng hủy diệt tất cả những gì mang tính người...” (23).

Jean Lacouture, một ký giả Pháp, thì cho rằng chế độ miền Bắc dưới sự thống trị của ông Hồ là “tàn nhẫn,” “hung tợn,” “có nhiều khía cạnh toàn trị”(24). Còn Olivier Todd, một nhà văn và nhà báo Pháp khác thì cho rằng ông Hồ “đã thiết lập một trong những quốc gia Stali-nít nhất trên thế giới” (25).

Yếu tố thứ tư mà ÐCSVN coi là “cốt lõi” của “TTHCM” là “con đường tiến lên CNXH” ở Việt Nam. Sao chép lại một cách máy móc học thuyết “cách mạng không ngừng” của Lê-nin và Mao Trạch Ðông, ông Hồ cho rằng, sau cuộc “cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân” tức là sau cuộc đấu tranh giành độc lập chống thực dân Pháp và cải cách ruộng đất- thì đến ngay cuộc “cách mạng XHCN,” và cả hai giai đoạn này gắn bó chặt chẽ với nhau và đều do ÐCS lãnh đạo (26).

Ngày 07/09/57, trong diễn văn khai mạc ở trường đảng Nguyễn Ái Quốc (Hà Nội), ông Hồ đề cập lần đầu tiên vấn đề “miền Bắc hoàn toàn giải phóng, ta đã bước vào thời kỳ quá độ tiến dần lên CNXH” (27). Nhưng vào đầu năm 1960, với ảnh hưởng của phong trào “đại nhảy vọt” của Trung Quốc (1958 - 62), ông Hồ đưa ra khẩu hiệu “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến thẳng lên CNXH” (chúng tôi nhấn mạnh VNT)(28). Trong hoàn cảnh đó, ông Hồ trong một bài báo viết hồi năm 1960, đã đưa ra chỉ thị là miền Bắc “từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH [mà] không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” (tác giả nhấn mạnh VNT) (29). Lúc đó, ông Hồ tin tưởng một cách tuyệt đối rằng cách mạng Việt Nam muốn thắng lợi triệt để thì không có con đường nào khác con đường cách mạng tháng 10 ở Nga: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công... nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do (?) bình đẳng thật (?)...(30). Có lẽ cũng cần nhắc lại ở đây là, cũng trong năm 1960, tại Ðại hội lần thứ ba của ÐCSVN ông Hồ đã tiên đoán là “CNXH cuối cùng nhất định toàn thắng khắp thế giới” (31), và “chế độ tư bản chủ nghĩa nhất định sẽ biến đổi thành chế độ XHCN” (38). Sự sụp đổ bức tường Bá Linh vào cuối những năm 80 đã phủ định hoàn toàn tiên đoán nói trên của ông Hồ như ai cũng thấy rõ.

Liên quan đến CNXH mà ông Hồ coi như là ngọn đuốc soi đường cho cả nước, ông này còn nhấn mạnh là “yêu tổ quốc ... phải gắn liền với yêu CNXH, vì tiến lên CNXH thì ... Tổ quốc ngày một giàu mạnh thêm” (33). Trong thực tế thì tình hình lại khác hẳn, như mọi người đã thấy!

Về việc “tiến thẳng lên CNXH”, chúng tôi muốn nhắc lại đây nhận xét của nhà sử học và đảng viên Nguyễn Kiến Giang: ông Hồ và ÐCSVN “đã phạm sai lầm ... khi đặt ra nhiệm vụ trực tiếp xây dựng CNXH ở miền Bắc sau 1954 khi vừa mới giải phóng; (...) khi đặt ra nhiệm vụ này, [ông Hồ và ÐCSVN] đã xuất phát từ một sơ đồ lý luận trừu tượng [lý thuyết “cách mạng không ngừng” - VNT] mà không xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể lịch sử của nước ta lúc đó” (tác giả nhấn mạnh VNT)"(34). Chính chủ trương “tiến thẳng lên CNXH” là “nguyên nhân” của cuộc “khủng hoảng toàn diện, khủng hoảng tổng thể của xã hội, khủng hoảng trên tất cả các lĩnh vực... : kinh tế và xã hội, tinh thần và đạo đức, tư tưởng và chính trị.” (35)

Về yếu tố cuối cùng của “TTHCM,” “tinh thần quốc tế vô sản,” thì chúng tôi xin miễn bàn đến vì nó không còn có tính cách thời sự nữa.

*

Khách quan mà nói thì không phải cái gì ông Hồ chủ trương về mặt chính trị đều là tai hại cho dân tộc hoặc sai lầm cả. Ví dụ như khi ông Hồ tuyên bố: “Hễ chính phủ nào mà có hại cho dân chúng thì dân chúng phải đập đổ chính phủ ấy đi và gây nên chính phủ khác.” (36)

Một ví dụ khác là khi rút ra từ chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn (ở Trung Quốc, trong những năm 20), ông Hồ đưa ra khẩu hiệu đấu tranh cho độc lập (cho đất nước) tự do - hạnh phúc (cho nhân dân) thì chúng ta chỉ có thể hoan nghênh mà thôi.

Trong bức thư gửi cho Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng hồi tháng 10/45 (tức là sau “Cách mạng tháng 8") ông Hồ đã khẳng định rằng “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (37). Ai mà có thể chống lại quan điểm chí lý này? Nhưng rất tiếc là trong thực tế, trong suốt cả thời gian nắm chính quyền, ông Hồ chưa bao giờ thực hiện lời nói trên đây cả! Về tự do chẳng hạn thì những sự việc kể trên liên quan tới CCVS, dưới thời thống trị của ông Hồ cũng như sau đó, chứng tỏ nhân dân ở miền Bắc chưa bao giờ biết tự do là gì trong thực tế, dù rằng trong các Hiến Pháp 1946 và 1959 các quyền tự do dân chủ được ghi rõ ràng, nhưng đó chỉ là “bánh vẽ” mà thôi (theo nhà thơ Chế Lan Viên). Còn về hạnh phúc thì người ta tự hỏi: làm sao nhân dân có được hạnh phúc khi, một mặt thì đời sống vật chất của nhân dân quá khó khăn trong những năm ông Hồ nắm chính quyền, mặt khác nhân dân chưa bao giờ hưởng được các quyền tự do dân chủ cơ bản như đã ghi trong các Hiến Pháp lúc đó? Ðúng như anh Lữ Phương đã nhận xét: “mô hình XHCN [do ông Hồ] mang đến cho dân tộc Việt Nam suốt bao nhiêu năm qua là điều quá rõ ràng: độc lập đã có, nhưng tự do, hạnh phúc thì không (tác giả nhấn mạnh VNT) (38). Ông Trần Ðộ cũng nhận xét như thế (39) và còn nói thêm: “Muốn có tự do, hạnh phúc phải có dân chủ” (40). Ông Nguyễn Hộ cũng nói như ông Trần Ðộ: “rõ ràng ở Việt Nam... chỉ có độc lập... chớ không hề có dân chủ tự do, đặc biệt về chính trị, tư tưởng...” (41).

Gần đây có người ở Việt Nam cho rằng để thực hiện lời tuyên bố chí lý của ông Hồ như vừa nêu, thì phải “tiến lên CNXH [vì đó] là con đường... đem lại tự do hạnh phúc cho mọi người” (42). Ðó là ngụy biện hoàn toàn vì kinh nghiệm trong bao nhiêu năm qua cho thấy là trong thực tế ở Việt Nam cũng như ở các nước đã từng đi theo con đường “xã hội chủ nghĩa hiện thực” -nhân dân chưa bao giờ được hưởng tự do và hạnh phúc cả!

Hiện nay, nếu ÐCSVN thật tình muốn “thực hành công cuộc đổi mới theo tư tưởng của Người [ông Hồ]” như họ từng nói thì họ hãy thực hiện đúng lời nói vừa nêu trên đây của ông Hồ!

1   2   3

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét