Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2011

GIÓ MÙA ĐÔNG BẮC (Ch.21)

Trần Nguơn Phiêu

Chương 21

Trại Hè

Mỗi năm Triệu thường chỉ có được một tháng nghỉ hè sau thời gian phải đi thực tập ở các quân y viện. Việc thực tập ở các bịnh viện rất cần ích trong nghiệp vụ y khoa và Triệu thường được hướng dẫn thật tận tình. Chú tâm của chương trình đào tạo là giúp cho các y sĩ sau khi tốt nghiệp có thể bắt tay ngay vào việc, không bị bỡ ngỡ. Hai tháng thực tập vì vậy thường là hai tháng rất vất vả vì phải tập lãnh nhiều trách nhiệm và đảm trách các buổi canh gác.

Trong tháng nghỉ hè còn lại, Triệu hay cùng Duy Thảo tham dự một hay hai tuần các trại hè sinh viên để có dịp gặp gỡ bạn bè thường ở rải rác trên đất Pháp. Hè là mùa nóng nên các trại thường được tổ chức gần các ao hồ hoặc trên các núi cao. Những lần tổ chức ở cạnh các hồ như hồ Saint Féréol ở Massif Central thì việc tiếp tế cho trại ít gặp khó khăn vì nơi đây cũng là nơi nghỉ mát của dân chúng. Tổ chức ở các vùng núi, được cái lợi chẳng những khí hậu mát lạnh mà thường là nơi du khách ngại đường xa nên ít chọn để chân đến. Ðã hai lần Triệu có cơ hội đóng trại ở hồ Orédon ở núi Pyrénées. Nơi đây là một đập nước lớn trong chương trình thủy điện. Ðập nước đã làm tăng diện tích của hồ để có thể trữ nước tối đa. Ðường lên hồ rất xa và tương đối khó lái xe. Ðến mùa Ðông khi tuyết rơi dày đặc, thì các nhân viên làm việc ở nhà máy thủy điện kể như bị cắt đứt đường bộ vào nhiều ngày tháng. Nơi đây có việc tiện lợi là dự trữ thức ăn khá dễ dàng, không cần đến tủ lạnh. Ở bờ suối nhân viên xây nhiều thùng lớn để chứa thực phẩm. Nước lạnh do tuyết tan từ các đỉnh núi xuống đã giúp cho các nơi nầy lúc nào nhiệt độ cũng rất thấp.

Tuy gọi là mùa hè nhưng có nhiều hôm, đường lên núi bị sương mù bao phủ nên anh em lái xe xuống phố mua thực phẩm phải có người ngồi bên cạnh, nhô đầu ra ngoài để xác định vị trí lề đường giúp cho người lái không đưa xe ra giữa lộ! Có một buổi chiều, vài trại sinh chèo một chiếc bè nhỏ ra hồ đi câu cá. Gặp hôm sương mù xuống nhanh, mờ mịt mặt hồ. Sợ các anh trên bè lạc hướng, sẽ bị lạnh đói trong đêm, các bạn trên bờ phải đem xe xuống cạnh hồ, bật đèn pha và bấm còi liên tiếp để các anh trên bè biết hướng để chèo về bến.

Những ngày vui sống ngoài trời đã là cơ hội để nhiều anh chị em sinh viên tìm hiểu nhau và nhiều cuộc tình đưa đến hôn nhân đã được khởi điểm ở các trại hè này. Triệu đã có một lần giúp đỡ đẻ cho một chị bạn có thai trên bảy tháng nhưng đã sẩy thai trong khi dự trại. Thai đã ra dễ dàng cùng với trọn vẹn nhau nên khỏi phải lo việc sót nhau.

Duy Thảo thường được các bạn cử vào ban điều hành vì có nhiều kinh nghiệm tổ chức ẩm thực cho trại sinh. Vì phải cùng dự với Duy Thảo nên Triệu cũng tình nguyện giúp trong việc chuẩn bị thành lập trại và nhất là việc dọn dẹp sau khi hoàn tất. Ðất dựng trại là đất công nên xin phép dựng trại thường không có gì khó khăn với chánh quyền địa phương. Việc chánh yếu là sau khi bế mạc phải làm vệ sinh tổng quát để trả lại trại trong tình trạng tốt như lúc ban đầu. Ðây là việc phải chú trọng để có thể xin dựng các trại trong tương lai.

Do đó sau khi bế mạc trại, Duy Thảo và Triệu thường cùng một số ít bạn phải ở lại thêm độ một tuần để thu dọn khu đất dựng trại. Ðây là những ngày vắng vẻ, đìu hiu so với không khí rộn rịp của những ngày trại hoạt động nhưng Triệu rất thích vì có thì giờ tận hưởng cảnh trí êm đẹp của núi rừng. Triệu đã tìm được những giây phút vắng lặng để hòa nhịp sống với thiên nhiên.

Có một lần, sau khi đã hoàn tất việc thu dọn, Triệu và các bạn đã đồng tình cùng đi thăm vùng Principauté Andora. Giữa nước Pháp và Y Pha Nho, đây giống như một tiểu vương tự trị có tổ chức chánh trị, hành chánh riêng biệt. Vào thập niên 1950, ở Pháp, các phương tiện truyền thông vô tuyến đều do nhà nước quản lý nên không có phần quảng cáo. Andora là một nơi chỉ trông vào lợi tức các du khách, đài phát thanh Andora là đài được tài trợ do nhận các quảng cáo thương mại. Các chương trình phát thanh nhạc rất được dân chúng Pháp ưa thích. Ở Pháp thời bấy giờ, một đài phát thanh thứ hai sống nhờ quảng cáo thương mại là đài Radio Monte Carlo của Monaco, một công quốc nhỏ có quy chế tự trị khác, ở bờ Ðịa Trung Hải.
Ngoài việc bắt làn phát sóng Aqui Radio Andora (Ðây là đài phát thanh Andora), du khách thường tìm đến Andore vì nơi đây thực phẩm, hàng hóa không bị đánh thuế cao như ở Pháp hoặc Y Pha Nho.

Hôm Triệu rời vùng Hồ Orédon để đi Andora, giữa đường, vào buổi chiều lại gặp thời tiết sương mù dầy đặc. Lái xe hôm đó lại phải nhờ đến phương pháp có người ngồi cạnh tài xế, thò đầu ra khỏi cửa xe để xác định cho người lái biết vị trí lề đường, đề phòng việc lái xe ra giữa lộ! Lúc trời đã về chiều xe chỉ mới đến được đèo Aspet. Ðây là một trong những đèo cao ở vùng Pyrénées miền Nam nước Pháp. Mỗi năm trong sinh hoạt thể thao, Pháp vốn có truyền thống có cuộc đua xe đạp danh tiếng là “Cuộc đua vòng quanh nước Pháp”. Trong cuộc đua này một trong những đoạn đua gay cấn, đưa đến quyết định người thắng kẻ thua là chặn đường dài vượt đèo Aspet. Chỉ đến mùa có cuộc đua, nhiều du khách mới đến vùng đỉnh đèo này để có dịp chứng kiến một đoạn đua hào hứng. Vào các ngày thường thì đây là một vùng rất hoang vắng vì không có cư dân sinh sống. Khi Triệu và các bạn vượt đến đèo thì vì đường đi trắc trở mà trời lại bắt đầu tối nên tất cả đều đồng ý phải tìm nơi dừng xe. Một vài bạn đã từng biết rõ vùng này đã cho biết phải cố lên đến đỉnh đèo sẽ gặp một quán trọ nhỏ. Tất cả đều vui mừng khi tìm thấy quán ẩn hiện trong sương mù.

Ðây là loại quán trọ thường chỉ thấy ở Âu châu. Trông nom quán chỉ có hai vợ chồng một người Pháp đã hồi hưu. Tầng dưới là phòng khách và phòng ăn. Trên gác có độ sáu phòng ngủ nhỏ cho khách. Ðiện chưa được chuyền đến đây và quán có máy phát điện nhỏ do sức nước suối vận chuyển để sạc các bình điện dự trữ. Vì lạnh và đói nên bữa ăn tối của ông bà chủ quán được anh em chiếu cố thưởng thức tận tình. Vùng Pyrénées ở miền Nam nước Pháp vốn có tiếng là nơi có sản xuất paté gan ngỗng tuyệt vời. Các đầu bếp cũng thường dọn cho khách loại ức vịt (magret de canard) xào nấu ngon hơn cả thịt bò bít tếch. Chỉ riêng có vùng này mới có loại ức vịt danh tiếng. Vì ngỗng và vịt ở đây đã được nuôi thúc đến bội thực ngõ hầu có gan lớn để làm paté gan nên ức vịt rất mềm và béo. Về phó mát, vùng này có loại phó mát Pyrénées làm bằng sữa trừu. Vì là loại phó mát sản xuất theo phương pháp thủ công nên thường không có nhiều để bán trên thị trường đất Pháp. Chỉ khi về vùng này mới có dịp thưởng thức phó mát Pyrénées, một loại nhìn lớp ngoài toàn một màu đen xám xịt trông không có gì hấp dẫn nhưng khi cắt ra thưởng thức mới biết được hương vị đậm đà do sữa của trừu đã được nuôi bằng hoa đồng cỏ nội của miền núi Pyrénées.

Vì điện dùng ở quán trọ phát ra do các bình điện nên toàn quán chỉ dùng các bóng đèn nhỏ. Quán cũng không được sưởi đầy đủ nên đêm đó Duy Thảo phải chui rúc vào người Triệu để tìm hơi ấm. Trong ánh sáng mờ mờ của các ngọn đèn nhỏ, mắt Duy Thảo lại óng ánh lạ thường. Triệu và Duy Thảo đã không cưỡng được tiếng gọi yêu thương và từ đêm đó đã cùng gắn chặt cuộc đời của nhau.

Buổi sáng khi sắp từ giã quán trọ để lên đường, Triệu đã quyến luyến không muốn rời một nơi đã để lại trong lòng Triệu một kỷ niệm khó quên.

Ðèo Aspet

Aspet, Aspet, đây Aspet
Ðường núi quanh co,
Quán trọ bên đường,
Sương mù bao phủ.


Nhớ đêm nào qua đó,
Em nhìn anh, ánh mắt trĩu yêu thương,
Anh ôm em cùng nhau hòa nhịp sống.
Aspet, Aspet, ôi Aspet!

Ngày hôm đó, cả đoàn đã vượt biên sang Andore. Cách đất Pháp chỉ có một lằn ranh giới mong manh nhưng vì là nơi có hệ thống hành chánh khác, ngôn ngữ khác, các mặt hàng khác nên du khách cũng thấy lòng nao nao như bước vào một xứ lạ. Riêng Triệu thì mong đến đây để tìm thưởng thức món ăn mà Triệu vẫn thích nhưng muốn thật sự phải được người bản xứ nấu. Ðó là món cơm Y Pha Nho (Riz espagnole). Ở Việt Nam, miền Trung, Huế có món cơm hến nổi tiếng. Cơm nhờ có chan thêm hến, nước hến, rau thơm nên tuy giản dị, bình dân, nhưng có hương vị ngọt ngào đặc biệt. Cơm Y Pha Nho được nấu cùng một nguyên tắc như cơm hến Huế nhưng cơm còn được nấu chung với sò, hến còn để nguyên vỏ, tôm cua và thêm chút ít nghệ vàng. Nước nấu cơm như vậy đã nhờ được các chất ngọt của sò, tôm, cua, cá ... tiết thêm ra nên mùi vị rất đặc biệt, đậm đà hơn cơm hến giản dị của quê nhà... Gạo và sò, tôm, cua... đều được nấu chung trong một chảo trẹt (poele) đặt trong lò nóng, nên người Y Pha Nho gọi cơm loại này là poela thay vì Riz Espagnole là tiếng Pháp. Khi có được dịp sống ở Y Pha Nho, poela là món ăn Triệu thường chọn gọi. Y Pha Nho cũng là xứ sản xuất nhiều loại rượu ngon. Tuy nhiên vì là xứ tương đối có khí hậu nóng, nhất là vào mùa hè, nên rượu vang đỏ thường được đổ ra các bồn lớn, cho thêm vào nhiều lát trái cây như cam và táo cùng với nước đá lạnh. Rượu chuẩn bị như vậy được gọi là sangria, có mùi vị đặc biệt của trái cây tươi. Trưa nóng, ăn poela và uống sangria là những bữa ăn khó quên trong đời.

Vào thời Triệu còn là sinh viên ở Pháp, Y Pha Nho còn dưới chế độ tướng độc tài Franco. Chế độ quân phiệt này, sau Thế chiến thứ Hai kết thúc hầu như đã bị các nước Âu châu tẩy chay nên bị cô lập. Ðời sống kinh tế khá chật vật nhưng rất rẻ, so sánh với các nước khác, nhất là cho các du khách. Triệu, vì say mê học đàn guitare và vì giá sinh hoạt không mắc mỏ nên thường chọn qua bên Y Pha Nho khi có dịp nghỉ hè.
Lần đầu tiên lấy xe lửa vượt qua biên giới, cảnh trí đầu tiên đập vào mắt Triệu là sự hiện diện trên đường phố của quá nhiều cảnh sát, quá nhiều quân nhân mặc đồng phục. Phải ở lâu độ hơn một tuần sau mới quen được với hình ảnh khác biệt đó.

Triệu đã đến thủ đô Madrid để tìm đến tiệm sản xuất đàn guitare danh tiếng Ramirez, theo lời chỉ dẫn của vị thầy Pascan dạy đàn ở Bordeaux. Các danh cầm guitare lừng danh như André Segovia... đều sử dụng đàn Ramirez khi độc tấu. Ngày đầu tiên đến Madrid, Triệu đã cố tìm đến hiệu đàn Ramirez ở số 2, đường Conception Jeromina. Tưởng đâu sẽ đến một tiệm đàn to lớn, Triệu đã bỡ ngỡ thấy đây chỉ là một tiệm nhỏ bình thường nhưng chỉ khi bước vào trong tiệm mới nhận thấy giá đàn bực thấp nhất ở đây cũng phải trên ba trăm đô la, một giá rất cao vào thời buổi 1950. Các loại đàn tốt khác hiệu bán ngoài thị trường chỉ vào khoảng dưới năm mươi đô la mà thôi.

Ðặc điểm của tiệm đàn Ramirez là mỗi năm họ chỉ sản xuất lối hai trăm đàn để bán. Hỏi kỹ ra mới biết nơi đây đã chế biến được đàn có tiếng vì họ đã tìm chọn được loại cây thật tốt để làm mặt đàn (table d’harmonie). Ðây là một loại ván có nhiều sớ vân rất khít khao nên mặt đàn tuy rất mỏng nhưng rất rắn chắc. Loại ván tìm được phải cần lưu trữ nhiều năm cho thật khô mới đem ra sử dụng được vì sẽ ít co rút có thể làm thay đổi tiếng đàn. Họ đã không thể sản xuất nhiều vì loại cây được chọn rất hạn chế. Trong thời gian ở Madrid để học đàn, Triệu vẫn thường ngày lui tới tiệm vì trong thời gian hè, nhiều nhạc sĩ mọi sắc dân trên thế giới đã tìm đến đây thử đàn và mua đàn. Có nhìn thấy được những tay nhà nghề nầy chắt chiu cầm đàn mới hiểu được sự kính cẩn của họ đối với các đàn quý. Khi ôm đàn vào lòng lúc nào họ cũng dùng tấm vải nhung dầy che mặt sau đàn để không làm trầy lưng đàn. Các ngón tay phải gẫy dây đàn bao giờ cũng giữ tránh chạm làm hỏng mặt đàn.

Có ra được xứ ngoài mới biết nước Nhật có nhiều nghệ sĩ trong nhiều địa hạt được thế giới biết và kính phục. Trong những tháng lui tới tiệm đàn Ramirez, Triệu đã gặp trên mười mấy nhạc sĩ Nhật đến thử và chọn đàn. Hỏi ra mới biết họ đã đặt hàng từ nhiều năm trước. Nay họ đến để thử và chỉ lấy đàn khi họ vừa ý. Mỗi lần có người đến thử đàn như vậy, cả tiệm có khi chật nứt các tay đàn bản xứ đến nghe như những buổi trình diễn.

Người Y Pha Nho phần lớn rất thích nhạc và múa hát. Trong các khu xóm thường thấy các nhóm nhỏ quây quần chung quanh một hay hai người khẩy đàn guitare. Khi gập các bản flamenco vui nhộn, nhiều người đã tự động nhảy ra trình diễn theo điệu nhạc.

Trong những ngày sống ở Y Pha Nho, Triệu thích nhất mỗi đêm đến nghe nhạc ở các quán nhỏ có người nhảy trình diễn nhạc flamenco. Triệu đang theo học đàn guitare theo lối cổ điển nhưng không hiểu vì sao vẫn thích nghe và xem các nghệ sĩ biểu diễn đàn, hát theo lối flamenco. Flamenco là loại hát bình dân phát sinh từ thế kỷ thứ 18 do các gia đình du mục Tzigan đến định cư ở vùng Andalucia, miền Nam của Tây Ban Nha. Andalucia cũng đã có loại hát bình dân Tây Ban Nha nhưng những khúc hát xa lạ của người Tzigan đã hòa nhập với điệu nhạc nông dân địa phương thành loại nhạc flamenco.

Dân Tzigan là những du mục nguồn gốc có thể từ Ấn Ðộ hay Ba Tư. Trên khắp các nơi họ đến định cư, dân Tzigan đã bị bao nhiêu kỳ thị, bạc đãi. Lời ca flamenco vì thế thường là những lời than vãn nói lên tâm trạng của những kẻ tha hương, nỗi nhớ nhung, nỗi khổ tâm của những người bị tình phụ. Nhạc sĩ khởi đầu flamenco bằng những tiếng đàn rời rạc như mời gọi bạn tri âm. Người ca sĩ nhập cuộc với những lời than vãn ai oán xuất phát tự con tim khiến cử tọa hưởng ứng vỗ tay bắt nhịp, khích lệ động viên. Tất cả như bắt đầu cùng đi vào cơn mê tập thể với ca sĩ và nhạc sĩ. Ðó là những lúc nhập đồng được gọi là Duende của flamenco. Phải nhìn thấy gương mặt kiêu hãnh, ngước đầu với ánh mắt quắc thước của nam diễn viên hoặc những tiếng giậm chân hòa theo nhịp phách castagnette của nữ nghệ sĩ hay trông bàn tay phải của nhạc sĩ vỗ vào phím hoặc mặt đàn, mới cảm nhận được tâm hồn say mê nghệ thuật của người Y Pha Nho khi tham dự các buổi trình diễn nhạc flamenco.

Nếu ở Pháp có viện Louvres ở Paris chưng bày các tác phẩm nghệ thuật lừng danh trên thế giới thì ở Madrid cũng có viện bảo tàng Le Prado. Nơi đây chẳng những là nơi chưng bày các tác phẩm của các nghệ sĩ tài danh Y Pha Nho mà cũng là nơi tụ tập được nhiều công trình của nghệ nhân ngoại quốc. Y Pha Nho đã có một thời rất hưng thịnh trong lịch sử thế giới. Tàu chiến và quân nhân xứ này đã có một thời tung hoành trên nhiều lục địa Mỹ, Á và đã để lại nhiều dấu vết. Triệu đã bao lần đến Le Prado để chiêm ngưỡng tài nghệ các họa sĩ hay các nhà tạc tượng tài danh. Ðây là một cơ hội hiếm có. Thiên hạ thường bảo nhau: trên đời có ba nơi nên đi xem: viện Louvres ở Pháp, Le Prado ở Madrid và L’Hermitage ở Nga. Triệu đã đến được hai nơi. L’Hermitage thuộc xứ Nga dưới chế độ cộng sản, nên chắc không bao giờ đến được.

So với Pháp, Y Pha Nho nằm về phía Nam nên mùa hè rất nóng bức. Buổi sáng dân chúng thức rất trễ để tận hưởng khí hậu mát mẻ ban đêm. Các quán ăn thường chỉ dọn thức ăn sáng vào khoảng mười giờ. Những ngày đầu tiên đến Madrid, Triệu thức sớm để có nhiều thì giờ thăm viếng thành phố. Xuống quán ăn ngồi chờ, chỉ kêu được tách cà phê nhâm nhi. Ðến độ gần mười giờ mới thấy người phân phối bánh mì croissant đem bánh đến cho quán!

Ðến buổi ăn chiều thì dân chúng lại ăn rất trễ. Ðến mười giờ đêm các quán ăn mới thật sự rộn rịp. Vào khoảng chiều, phần đông thực khách thích vào các quán rượu uống giải khát vì trời còn nóng nực. Ở Pháp các quán rượu ở góc đường nào cũng có và dân nhậu vào quán chỉ để gọi rượu mà thôi. Ở Y Pha Nho, cũng giống như ở Việt Nam, dân chúng lại thích có món ăn để đi kèm với rượu. Các món này được dọn trong các dĩa nhỏ, mùi vị rất hấp dẫn và có tên gọi là tappas. Thay vì nhậu với tôm khô, củ kiệu như ở Việt Nam, các món tappas ở đây có khi là các cá nhỏ hoặc tép khô giòn, có khi là nhiều loại hạt đậu lăn bột hay các bánh bột chiên. Tìm được các tiệm có tappas ngon để thưởng thức trước buổi ăn tối là một cái thú của người sành điệu.

Ðược ở vào vị trí ấm áp hơn các nước Âu châu, người dân lại cũng cần cù lao động nên các vườn cây trái của Y Pha Nho đã được nổi danh với các loại cam ngọt vùng Séville hoặc loại nho thơm Malaga... Trong khi ở Pháp ít thấy dưa hấu ở các chợ thì ở Madrid, dưa hấu đỏ hoặc vàng được bày bán khắp nơi và được dân chúng ưa chuộng có lẽ vì thời tiết nóng bức miền Nam.

Nhắc đến xứ Y Pha Nho, không thể nào không nói đến sở thích của quốc gia này là các trận đấu bò. Xem phim ảnh về xứ này thường có các trận đấu bò nhưng phim thường chỉ có thể mô tả một vài phần nhỏ của sân. Phải có được dịp tham dự các trận đấu bò trên những đấu trường rộng lớn với cả ngàn người tham dự mới thấy cái hồ hởi mê say của dân chúng tham gia. Một phần sân có nóc che nắng được dành cho những khán giả nhiều tiền, ăn mặc sang trọng, tác phong chững chạc. Phần sân cho hạng cá kèo, phải ngồi bên chịu nắng mới thật là phần dân chúng năng nổ. Họ thật sự sống động, hòa hợp với những gì đang xảy ra trên sân, từ các động tác cầm kiếm uy nghi của người toréador ăn mặc rực rỡ đến những người kỵ mã phụ giúp phóng các lao nhọn dính lủng lẳng trên lưng con bò mộng hung hăng để làm cho bò bớt nhuệ khí cũng như bắt bò phải cúi chúc đầu xuống. Các động tác đó giúp cho người toréador biểu diễn trò lừa cho bò húc vào tấm màn đỏ múa sát bên mình và cuối cùng, để kết thúc, vai chánh toréador mới có dịp đưa lưỡi kiếm thần diệu vào chỗ hiểm khiến con bò mộng to lớn phải lăn ra chết trong tiếng hoan hô vang dội của toàn hội trường.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét