Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2011

Ghé thăm các Blogs: 06/04/2011

BLOG ĐINH TẤN LỰC





Đinh Tấn Lực - Ngày 1/5/2011, tức đã qua ngày hôm sau của lễ Quốc Tế Lao Động ở đây, TT Hoa Kỳ Barack Obama ngắn gọn thông báo trên truyền hình Mỹ là tay trùm khủng bố Osama bin Laden đã vĩnh viễn … nghỉ chơi. Các hãng thông tấn quốc tế bình luận tới tấp, vạch trần cả sự tốn kém bao nhiêu tỷ đô la và bao nhiêu nghìn sinh mệnh cho 2 cuộc chiến ở A Phú Hãn và Iraq.


Rõ là bọn Mỹ này chống khủng bố cực đoan quá mạng!



Non 10 năm trước đó… Nhân cơ hội Việt Nam và Cuba quên đổi gác canh chừng nền hòa bình thế giới, ngày 11/9/2001, hai tòa cao ốc thương mại ở New York đã bị chảy thép và tan thành đống gạch vụn, dưới sức nung của 2 quả bom xăng to đùng, khi mấy chiếc máy bay phản lực chở khách đâm sầm vào tựa hồ đám quân cảm tử ôm bom tự sát lao đầu vào mục tiêu. Sau khi ngắm cảnh tượng kinh hoàng lịch sử đó qua truyền hình, vào ngày 7/10/2011, ngài Bin Ladin chủ xị đã ôn tồn phán rằng: “Ở bên Mỹ, đầy tràn sự sợ hãi, khắp từ Bắc xuống Nam, khắp từ Tây qua Đông. Cảm ơn Thượng đế về điều đó”.


Thiệt tình! Đám quân cảm tử có lỡ leo lên máy bay đâm đầu đốt cháy cao ốc của bọn đế quốc Mỹ là bởi vì nó không còn chọn lựa nào khác cho anh hùng và “ngoạn mục” hơn, chứ nào phải vì bởi chúng cực đoan?

Ngược lại, chỉ dăm chiếc phi cơ hàng không dân dụng, cộng với hai tòa nhà tháp tài chánh, cùng một góc nhỏ của Lầu năm góc và chưa tới 4000 thường dân ngừng thở… thì có đáng gì so với một quốc gia giàu mạnh đứng đầu thế giới, mà cả nước Mỹ lại phản ứng hận thù/cực đoan đến mức tốn người tốn của làm vậy trong suốt 2 cuộc chiến dai dẳng, kể từ trận Tora Bora mở màn bằng loại bom nhiệt tới nay? Thậm chí, còn nhân đôi giải thưởng bắt sống Osama bin Laden lên mức 50 triệu USD (tức là tương đương với 50 giải Nobel Hòa Bình gộp lại)?


Lạ một điều là bọn truyền thông khắp nơi của bọn tây chỉ cắm đầu vô bàn chuyện công đạo, chẳng thấy ai bên đó nêu bật câu hỏi đậm tính triết lý của bậc trí giả đông phương rằng: Cực đoan (như bọn Mỹ) đến thế là lợi hay hại, lợi hay hại chứ???


Nghĩa là, vin theo nền tảng lý luận đạo đức kách mệnh chủ đạo cực kỳ ôn hòa của bộ chính trị nhà ta, thì cho dù cái thảm họa của nhân loại có ghê gớm đến mấy, cũng chẳng nên đột ngột chấm dứt nó bằng cái phương thức …cực đoan như thế!


Hầy, đại bộ phận người Việt hải ngoại (NVHN) mắc chứng cực đoan mãn tính, chính là bởi bị lây bệnh từ đấy chăng?


Lắm kẻ suy già đoán non là …ắt phải thế. Chứ không thì bộ chính trị/dàn tuyên huấn/hệ báo đài nhà ta ở đây đã chẳng phải tốn ròng 36 năm chỉ làm mỗi việc phân tích/tổng hợp/đúc kết mức độ cực đoan của (“bọn đĩ điếm lưu manh tự cải giống thành bò sữa!”) NVHN.


Không riêng gì hệ 4T chính quy, thỉnh thoảng, chen lẫn với tính hào hùng đến kinh hồn bạt vía của các câu “chuyện bây giờ mới kể”, như vụ ám sát vị giáo sư sắp sửa nhậm chức thủ tướng Nguyễn Văn Bông hồi trước 1975, chẳng hạn… là đây đó một vài bài phê bình thật sát (và thật tinh vi) về tính cực đoan ngoan cố nói trên.


Như một thứ toa thuốc Cực Đoan Trị Liệu Pháp của những người bạn đồng điệu “tương lân/tương cầu” tặng nhau.


Vâng.


Nếu không đồng điệu thì đã chẳng ai phí sức khuyên “phe ta” đừng “giận quá mất khôn” mà tần ngần đứng đó sau 36 năm cực đoan ôm lấy “con số không tròn trĩnh”.


Nếu chẳng tương lân/tương cầu thì đã chẳng ai toi công phân tích khuyết điểm của “phe ta” ở hải ngoại là “những kẻ ít học” và “do hiểu biết về chính trị chưa đủ”, trong lúc thành tích của “bọn nó” chỉ cần 15 năm là cướp xong chính quyền, thêm 20 năm nữa là đạp nát đường mòn dọc biên để đốt cháy Trường Sơn mà dứt điểm quân đội miền Nam, và đã liên tục hoàn thành biết bao “kỳ tích phi thường” đến trời long đất lở trên toàn quốc suốt 36 năm sau đó!


Chứ không à?


Chỉ cần vài tuần sau khi quân đội miền Nam thi hành lệnh buông súng của lãnh đạo chế độ cũ, hầu hết sĩ quan “ngụy” đã tự đốn tre/nứa xây dựng cho họ những trại tù lao cải.


Chỉ cần vài tháng sau khi chính quyền miền Nam sụp đổ, gia đình/cha mẹ/vợ con của lính tráng miền Nam đã có ngay cái đuôi “ngụy quân/ngụy quyền” rạch ròi trong lý lịch.


Chỉ trong vòng một năm sau mùa Xuân đại thắng, lãnh đạo ta đã úm ba la toàn bộ miền Nam cho bình đẳng với cái hệ thống tem phiếu thực phẩm của miền Bắc.


Chỉ cần đúng một năm sau khi “giải phóng” miền Nam, bộ chính trị ta đã giật nước cuốn trôi toàn bộ Mặt trận Giải phóng Miền Nam và Thành phần Thứ ba.


Chỉ cần vài năm sau chiến công lẫy lừng thế giới lưỡng cực, VN ta đã vang danh về cách phân loại nhân dân từng là chiến sĩ và mẹ chiến sĩ: thiếu đói, đói, và đói gay gắt.


Chỉ cần vài năm sau ngày hòa bình, VN ta đã thu vàng, bẻ cổ gần hết tượng Phật xứ Kăm và đẩy lùi hàng chục vạn quân bá quyền phương Bắc.


Chỉ cần vài năm sau thống nhất, lãnh đạo ta đã bán bãi tiễn đưa hàng triệu nhân dân đẩy ghe ra biển để bỏ phiếu bằng mạng người mà chọn lấy tự do hay là chết.


Chẳng cần bao năm sau khi ủi sập cổng dinh Độc Lập, VN ta đã thay da đổi thịt với những nhà thơ làm kinh tế, còn các kinh tế gia trước đó thì làm thơ mà gắng thở.


Chẳng cần bao năm sau lệnh đầu hàng của chính quyền miền Nam, VN ta đã tháo cũi cho mọi người, ai ai cũng có thể làm chính sách, luật pháp, văn chương và giáo dục.


Chẳng cần bao năm sau chiến thắng, VN ta đã tiến vững chắc lên một nền ngoại thương ăn xin và một nền nội thương “ôm” toàn phương vị.


Chẳng cần bao năm sau ngày đại thành công, VN ta đã chạm ngưỡng phát triển ở mức “còn cái lai quần cũng …bán”, với cả một hệ gái gọi của riêng giới ăn mày.


Chẳng cần bao năm sau thắng lợi/thắng lợi/đại thắng lợi, mà VN ta có khả năng đong đếm các lãnh vực chưa xuống cấp dễ dàng hơn phần đã xuống cấp tận cùng.


Chẳng cần bao năm sau khi giai cấp tiên tiến nhất của công nhân nắm quyền, thì bất kỳ ai lên tiếng bảo vệ quyền lợi cho công nhân xứ ta đều bị vô tù.


Chẳng cần bao năm sau khi thống nhất đất nước, lãnh đạo ta đã thống nhất ngay tiến trình khấu bái dâng đất/biển/đảo cho thiên triều hảo hán ân nhân thời chiến.


Chẳng cần bao năm sau khi lãnh đạo hoàn tất sứ mệnh “giải phóng” nửa nước, thì nhân dân cả nước đều có cùng cái khả năng bị gãy cổ vì chạm phải dùi cui của công an.


Chẳng cần bao năm sau thời đoàn kết/đoàn kết/đại đoàn kết, VN ta đã nhanh chóng quá độ từ khẩu hiệu vì mọi người sang chủ nghĩa makeno.


Chẳng cần bao năm sau khi dứt điểm bọn tham nhũng cũ của miền Nam thì VN ta được xếp hạng đầu bảng thế giới, và bất kỳ ai tố cáo tham nhũng cũng đều xộ khám.


Chẳng cần bao năm sau khi tóm gọn quyền bính, lãnh đạo ta cũng tiện tay tóm gọn tài nguyên cả nước, và toàn quyền/tùy tiện chia chác nhau tới hàng chục ngàn tỷ đồng.

Chẳng phải đấy là những kỳ tích phi thường đó ru?


Mình đồng da sắt gì mà NVHN dám lên tiếng đua đòi?


Dân miền Nam, đặc biệt là đám trôi dạt ra hải ngoại, thiệt là tầm bậy quá!


Kẻ thắng có toàn quyền tàn bạo. Biển một chiều đã giăng khắp mọi nẻo đường.


Người thua thì nào có quyền gì, sao còn mở miệng đòi thay cũ đổi mới, để bị nhét vào đó hai từ cực đoan?
Rõ lắm rồi! Chế độ này sẽ tiếp tục phát huy và chào mừng những kỳ tích phi thường như kể trên hoặc hơn thế nữa, ngày nào người trong nước còn giữ cái chủ nghĩa makeno, và cái nhãn mác “cực đoan” còn dính trên lưng của NVHN.


Suy rộng ra, công tác kín đáo trà trộn vào hàng ngũ “địch” để nhân danh “vì một ngày mai hẹn hò với dân chủ” mà tiếp tục dán nhãn cực đoan vào mặt nó, chính là những nỗ lực đã được bộ chính trị nhà ta xếp vào hạng mục “chuyện sau này mới kể”.


Kỳ tích phi thường kế tiếp là cái lằn ranh gữa nhân dân trong/ngoài nước còn cao hơn tường thành, chắc hơn tường đá, nóng hơn tường lửa và kín hơn tường trình.


Không lý nào BBT blog RFA không rõ là bộ chính trị ta đã từng điều một Phạm Xuân Ẩn nhiều năm tiêu lòn trong lòng địch khi xưa?


3-5-2011
Blogger Đinh Tấn Lực






BLOG BÙI TÍN


Bùi Tín viết riêng cho VOA Thứ Ba, 03 tháng 5 2011


Tiến sĩ luật
Cù Huy Hà Vũ








Vụ xử án luật sư Cù Huy Hà Vũ là sự kiện rất nóng trong tháng 4 vừa qua. Đã có hơn 1.000 trí thức, cán bộ, luật sư, sinh viên ký kiến nghị đòi trả lại tự do cho anh. Chính quyền các nước Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Thụy Điển…và nhiều tổ chức quốc tế tỏ rõ thái độ bất bình, phê phán cuộc xử án là phi pháp, đi ngược lại cam kết của chính phủ Việt Nam là xây dựng chế độ pháp trị công minh. Vụ xử án đã nâng cao thêm vị thế của bị cáo và hạ rất thấp tư thế của nền tư pháp và chế độ chính trị của đảng CS Việt Nam.


Nhà nghiên cứu giáo dục kiêm dịch giả Phạm Toàn công khai chỉ trích phiên tòa là mang tinh chất lưu manh, vì dùng quyền lực để hiếp đáp một công dân yêu nước, với một mức án 7 năm tù giam và 3 năm quản chế rất tàn ác.


Nhà thơ Hoàng Thanh Trúc nổi cơn giận dữ trước vụ án bất lương, bật lên những câu thơ cảm khái gửi cho viên thẩm phán Nguyễn Hữu Chính chủ tọa Hội đồng xét xử:
Chúng là người, nhưng sao nhìn giống ngợm
Lũ đười ươi xa lạ giữa chốn người
Không nghĩa nhân, không chút tình dân tộc
Chỉ biết còng lưng biết phận tôi đòi
Chúng ngồi đó, khoác áo xiêm công lý
Mặt ngây ngô như những kẻ sắm tuồng
Vào vai quan viên thân phàm ác quỷ
Miệng lưỡi ca ngôn ngữ lũ ma vương
Chúng là người, cũng cha sinh, mẹ đẻ
Cũng đói – ăn, cũng khát - uống, như người
Nhưng khác người, chúng không còn liêm sỷ
Khúm núm dạ vâng, theo đóm ăn tàn!


Viên thẩm phán Nguyễn Hữu Chính hãy ngâm nga cho kỹ bài thơ này và nhớ chuyển cho viên thẩm phán nào sắp chủ tọa phiên tòa phúc thẩm xử luật sư Cù Huy Hà Vũ.


Em sinh viên Nguyễn Anh Tuấn đang học năm thứ 3 của Học Viện Hành chánh Hà Nội có một kiểu phản ứng riêng, độc đáo đối với phiên tòa.


Em theo dõi rất kỹ vụ án này, vì vốn là người ngưỡng mộ trí tuệ và nhân cách của luật sư Hà Vũ. Trong máy điện toán của em có lưu giữ trong bộ nhớ một số bài viết của anh Hà Vũ. Em cho rằng nếu anh Hà Vũ bị tù thì hàng vạn, hàng chục vạn người tàng trữ những bài viết của Hà Vũ, tán đồng quan điểm chính trị của Hà Vũ như: chuyển hệ thống độc quyền đảng trị sang hệ thống đa đảng đa nguyên, từ đảng trị sang pháp trị, từ quan hệ quốc tế Bắc thuộc trên thực tế sang liên minh với thế giới dân chủ văn minh, thì hàng vạn, hàng chục vạn người ắt cũng phải vào ngồi tù 7 năm như anh Hà Vũ.


Thế là anh bạn trẻ thảo đơn tự thú là mình có tội, tàng trữ tài liệu chống chế độ, yêu cầu Viện kiểm sát Nhân dân Hà Nội hãy ra lệnh truy tố và đưa anh ra xét xử đàng hoàng, công khai. Lý lẽ của anh rất xác đáng. Mọi công dân là bình đẳng. Cùng phạm tội như nhau thì phải bị trừng phạt như nhau.


Anh cho rằng nếu chính quyền không truy tố sinh viên Nguyễn Anh Tuấn, không mở phiên tòa xét xử anh như đã xử Ls Hà Vũ thì anh là người vô tội, do đó Ls Hà Vũ cũng phải được coi là người vô tội và phải được tự do ngay.


Thế là chính quyền bị dồn vào thế kẹt cứng. Trả lời ra sao cho lá đơn có vài trăm chữ của em sinh viên 20 tuổi trẻ mà thông minh, dũng lược dấn thân độc đáo như vậy. Họ đành lặng im, coi như không có chuyện gì hết.


Chắc chắn Bộ Chính trị biết rõ chuyện này, rất lo sự phản ứng như thế này lây lan trong giới trẻ, vì họ không có cách nào đối phó. Nỗi lo sợ đang ở giữa thời kỳ đổi ngôi. Như ở Bắc Phi vậy.


Họ chỉ mong với thời gian, mọi chuyện sẽ yên. Nhưng sóng gió vẫn nổi lên, giông bão còn nổi lên. Các trang internet truyền đi, hàng trăm blogger truyền đi, các paltalk mở tranh luận, mạng Dân làm báo với những tay gõ phím cừ khôi Nguyễn Bá Chổi, Thiên Sầu Nguyễn Thanh Tú, Lê Bi, Đoan Trang, Võ Đông Hà, Paulus Lê Sơn…, rồi mạng Anh Ba Sàm, rồi ngoài nước, các đài phát thanh VOA, RFI, BBC, RFA…truyền đi rất nhanh, rất rộng về hiện tượng Nguyễn Anh Tuấn, bức ảnh điềm đạm kiên nghị của anh, lá đơn của anh, với bao nhiêu là bình luận, ca ngợi, khuyến khích và bài học thu nhận được ở anh...


Các bạn sinh viên trường Y dược, trường Văn hóa, trường Bách khoa Hà Nội, cùng các bạn trẻ các trường Luật và Sư phạm trong Sài Gòn đang bàn luận về hiện tượng Nguyễn Anh Tuấn. Theo tin từ trong nước, các bạn sinh viên nam nữ chú ý nhiều đến cách dấn thân độc đáo, thông minh, sâu sắc của bạn Anh Tuấn, chú ý đến động cơ của anh như anh viết trong đơn tự thú: «tôi làm điều này để bảo vệ nền pháp quyền non trẻ của đất nước tôi», và «tôi không thể tiếp tục thỏa hiệp với nỗi sợ hãi và sự hèn nhát của bản thân mình».


Lá đơn tự thú kết luận: «… sẽ rất là hổ thẹn nếu tôi im lặng, bàng quan trước những bất công đang rõ ràng hiện hữu».


Các bạn trong nước cho biết chỉ có rất ít người cho rằng anh Tuấn «muốn làm cho mình nổi tiếng », «dại dột làm chính trị», «khéo mà mang vạ vào thân», nhưng số đông rất quý mến việc làm của anh, tỏ thiện chí, khuyến khích và sẵn sàng bảo vệ anh nếu anh gặp nạn. Anh đã tạo nên một sự kiện chính trị hấp dẫn, sôi nổi, làm náo động cả giới trẻ, sẽ còn kéo dài với thời cuộc.


Giữa lúc lãnh đạo đảng và nhà nước chỉ mong muốn thanh niên lao vào ăn chơi, nhảy múa, hội hè, thi hoa hậu, đua nhau mua sắm, tiêu xài, ăn diện, lo kiếm tiền bằng mọi cách, thì vẫn còn không ít thanh niên, học sinh, sinh viên, bạn trẻ quan tâm đến đất nước và nhân dân, tìm cách dân thân cho tương lai dân tộc.


Đây là dấu hiệu rất tốt về sức khỏe chính trị của dân tộc ta, thế hệ nào cũng có những con người yêu thương đất nước mình, quý trọng nhân dân mình, sãn sàng dấn thân cho nghĩa lớn, nêu tấm gương sáng lôi cuốn thế hệ mình tham gia sự nghiệp chung và cấp bách cứu dân, cứu nước.





BLOG VĂN CÔNG HÙNG



Dạo này nhiều người mang tai ách vì... dùi cui quá, thậm chí có kẻ thối mồm còn nói chúng ta có nền văn hóa... dùi cui.


Mình phản đối lối nhìn ẩm ướt này, nhưng quả là không thể không giật mình vì hiện trạng dùi cui đang lên ngôi giữa thời đại thanh bình tươi sáng của chúng ta hôm nay.


Ra đường không đội mũ, dùi cui gãy cổ, đi ăn, dùi cui, lên máy bay cũng dùi cui... chao ơi, sao mà dùi cui đắc dụng thế không biết.


Hiện lại đang có vụ một công an gọi điện gạ tình vợ một nạn nhân bị chết trong trụ sở công an huyện. Nghe đồn là anh này tự tử bằng một sợi dây sạc điện thoại. Có lần mình đã thử dùng tay kéo mạnh một phát, sợi dây giãn ra rồi đứt, thế mà một anh công nhân treo cổ chết được, đại tài. Nghiêm trọng hơn là một ngài thiếu tá liên tục gọi điện thoại cho vợ nạn nhân xui bán đất chạy cho chồng và... vào khách sạn xin cái mà em không muốn cho. Giờ chàng này chối, bảo nói giỡn, hơ hơ, giỡn kiểu... Úc.


Cũng mấy ngày nay thấy ngài chánh văn phòng công an Bình Dương rất điềm đạm tiếp báo chí, nhưng suốt mấy ngày chả thấy cung cấp được thông tin gì, cứ toàn là chúng tôi sẽ xử lý nghiêm, đang xác mình, nếu đúng có sai sót sẽ xử lý nghiêm minh.


Nhưng anh công nhân kia thì đã chết rồi. Cũng như vụ mấy cậu thanh niên đi tù vì bị tố hiếp dâm, ra tù rồi vẫn kêu oan...


Chao ơi, nghĩ lại buồn. Cũng là từ dùi cui mà ra.


Nhưng tôi phản đối ai đó nâng cấp dùi cui lên thành... văn hóa.


Cũng tại chúng ta hay phong văn hóa cho mọi sự vật hiện tượng: Văn hóa cồng chiêng, văn hóa ẩm thực, văn hóa công sở, văn hóa ăn mặc, văn hóa đọc, văn hóa yêu, văn hóa hôn...


Nhưng không thể văn hóa dùi cui, nhé.




BLOG NGUYỄN VĂN TUẤN


Cách đây đúng 40 năm một chính khách miền Nam tên là Nguyễn Văn Bông bị ám sát chết.  Khoảng 10 năm trước câu chuyện ông bị ám sát được tiết lộ, và nay câu chuyện đó được tiết lộ một lần nữa trên Dân Việt qua lời thuật của chính người chủ mưu (“Tôi ám sát người sắp làm thủ tướng Sài Gòn”). Đặt trong bối cảnh ngày nay khi Việt Nam đang chống khủng bố, câu chuyện này thật là ... khó nuốt (hay nói theo tiếng Anh là distasteful). Khó hiểu nổi tại sao báo chí Việt Nam có vẻ thích ca ngợi những chuyện bạo động như thế này.


Ngày 30/4/2011 có đến hai bài báo đáng chú ý.  Bài thứ nhất là “Chân dung nữ du kích từng mưu sát Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu” đăng trên Dân Trí kể về chuyện mưu sát ông Nguyễn Văn Thiệu.  Nhưng bài đó không “nổi” bằng bài “Tôi ám sát người sắp làm thủ tướng Sài Gòn” đăng trên Dân Việt kể lại tình tiết chung quanh việc giết chết Giáo sư Nguyễn Văn Bông.  Ngày mà nói theo nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt là có triệu người vui bên cạnh triệu người buồn mà có những bài báo mang tính bạo động, chết chóc như thế thì quả là khó đọc, nhất là trong lúc Việt Nam đang chống khủng bố. Nhưng bài báo thứ hai khơi dậy lịch sử của một thời đầy biến động ở miền Nam có liên quan đến nhân vật Nguyễn Văn Bông.


GS. Nguyễn Văn Bông
(1929-1971)







Có lẽ cần phải có vài dòng về thân thế của ông Nguyễn Văn Bông.  Ngày xưa, khi tôi lớn lên thì chỉ nghe nhiều về ông, chứ chẳng biết chi tiết thân thế ra sao, nên bây giờ phải nhờ đến wikipedia vậy.  Theo wikipedia, ông sinh ngày 2/6/1929 tại Gò Công (Tiền Giang) trong một gia đình lao động. Ông nổi tiếng là một học sinh học giỏi và tự lập.  Năm 12 tuổi đã tự làm những nghề như sửa xe đạp, phụ đánh máy, quét dọn trường học để kiếm tiền đi học (vì cha mẹ li dị).  Ông tự đi du học bên Pháp, tốt nghiệp với bằng tú tài, cử nhân luật từ Đại học Sorbonne (1956), tiến sĩ chính trị học (1960), thạc sĩ công pháp quốc tế (1962). Ông về nước dạy học, và sau này giữ chức viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh (thời ông Thiệu). Cuối năm 1968 ông làm chính trị, thành lập Phong trào Quốc gia cấp tiến, một tổ chức đối lập với chính phủ của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.  Ông bị mưu sát lần đầu vào năm 1968, nhưng đến lần 2 (1971) ông bị ám sát chết lúc mới 42 tuổi.  Gs Nguyễn Văn Bông qua đời để lại vợ mới 30 tuổi, hai trai và một gái.  Sau 1975, vợ ông là Lê Thị Thu Vân, còn gọi là “Cô Út” (người ông gặp ở Paris) bà tái giá với một nhà ngoại giao Mĩ là Lacy Wright, và lấy tên mới là Jackie Bông Wright.  Sau này bà có viết và xuất bản một cuốn sách giống như hồi kí có tựa đề là Autumn Cloud: From Vietnamese War Widow to American Activist (Mây mùa thu: từ một góa phụ chiến tranh đến một người hoạt động xã hội).


Lúc mới nghe tin ông bị ám sát, phu nhân ông là bà Thu Vân tố cáo thủ tướng Trần Thiện Khiêm là thủ phạm giết hại chồng bà. Lời tố cáo này xuất phát từ suy luận rằng Gs Nguyễn Văn Bông đã nhận lời làm thủ tướng trong chính phủ Nguyễn Văn Thiệu (và thế là ngăn chận bước đường công danh của ông Trần Thiện Khiêm – người sau này là thủ tướng).  Thế nhưng bà Thu Vân đã sai.  Người ám sát Gs Nguyễn Văn Bông là ônng Vũ Quang Hùng, tức tác giảbài viết dưới đây.  Ông Vũ Quang Hùng, theo như một nguồn tin, lúc đó là sinh viên năm thứ ba Đại học Khoa Học Sài Gòn (tức Đại học Khoa học Tự nhiên ngày nay) và là thành viên của tổ trinh sát vũ trang của Ban An Ninh T4.  Còn người ngồi sau xe honda là Lê Văn Châu như trong bài báo tường thuật là trung úy quân đội VNCH nhưng đồng thời cũng là cơ sở của An Ninh T4.  Nhưng chi tiết về cuộc ám sát thì chỉ mới tiết lộ gần đây, nhất là qua bài báo tuần này.  Theo lời kể trên Dân Việt thì hai người trinh sát giết ông bằng cách ném cái cặp da chứa chất nổ và lựu đạn dưới gầm xe của ông đang ngừng tại đèn đỏ ngã tư cao Thắng – Phan Thanh Giản.  Giáo sư Nguyễn Văn Bông chết tại chỗ cùng những người thân cận ông (3 vệ sĩ và 1 tài xế).


Không thấy trong bài viết tại sao người ta phải giết một vị trí thức như thế.  Trong bài báo trên Dân Việt, những lí do đưa ra để hạ sát ông (như có uy tín lớn, tranh đấu cho chính quyền dân sự) không thấy thuyết phục chút nào, mà chỉ có những lời kể về kế hoạch thủ tiêu ông.  Không biết các bạn thì sao, chứ tôi đọc bài này dù chỉ là muốn tò mò tìm hiểu nhưng vẫn thấy nói theo tiếng Anh là distasteful quá.  Người đọc thử đặt mình trong vai trò con hay bà con của Giáo sư Nguyễn Văn Bông, người đọc sẽ nghĩ gì?  Cướp đi sinh mạng của một người là một hành động khó mà ca ngợi được, huống chi đây là một việc giết người có toan tính cẩn thận.


Câu chuyện ám sát Gs Nguyễn Văn Bông làm tôi nhớ đến chuyện ám sát dân biểu John Newman ở Sydney.  Câu chuyện hơi dài, nhưng tôi tóm tắt theo cách hiểu của tôi.  Ông Ngô Cảnh Phương (sinh năm 1954) là một người Việt tị nạn ở Úc, sau một thời gian làm ăn, ông cũng khá thành công và có tiền.  Ông tham gia chính trường địa phương, trở thành đảng viên của Đảng Lao Động, và có ý định ra tranh cử dân biểu.  Đối thủ của ông là John Newman (một di dân từ Đông Âu), đương kim dân biểu, cũng là người của Đảng Lao Động.  Hai người không ưa nhau.  Nhưng ông Ngô Cảnh Phương có xu hướng thắng thế hơn Newman, và vì thế ông Newman rất sợ mất ghế.  Đêm 5/9/1994, John Newman bị bắn chết tại nhà sau khi tham dự một phiên họp của chi bộ đảng Lao Động, trở về. Cảnh sát nghi ông Ngô cảnh Phương lúc đó là nghị viên của Hội Đồng Thành Phố Fairfield (nghị viên cũng giống như chức hội đồng huyện vậy) là người chủ mưu cuộc ám sát.  Sau nhiều điều tra, tốn rất nhiều tiền, đến ngày 13/3/1998, cảnh sát bắt ông Phương và hai người khác là Đào Quang và Trần Văn Tuấn.  Sau đó là một loạt phiên tòa với nhiều tình tiết bất thường, ngày 29/6/2001 ông bị tuyên án tù chung thân vì tội mưu sát, nhưng Đào Quang và Trần Văn Tuấn thì được tha bổng  Cần nói thêm rằng, cảnh sát không hề tìm được bằng chứng để kết tội ông Phương, họ chỉ kết tội ông mưu sát, còn kẻ cầm súng bắn thì cho đến nay vẫn chưa biết là ai!  Năm 2004, nhiều người Úc bênh ông Phương trưng bày bằng chứng và đòi hỏi phải xử lại, nhưng tòa vẫn kết án ông Phương.  Đến năm 2008, những người Úc ủng hộ ông Phương một lần nữa đệ đơn kháng án, và tòa lại phải xử tiếp, và đến năm 2009 thì vẫn y án.  Câu chuyện cho thấy ở Úc (hay bất cứ một nước nào có luật pháp nghiêm chỉnh cũng vậy) giết người hay mưu sát là một tội rất nghiêm trọng.  Không thể biện minh việc mưu sát bằng lập luận đối lập chính trị.


Chính trường Việt Nam thì có rất nhiều vụ mưu sát và ám sát.  Cả hai phe đều dính dáng vào những hành động giết người.  Cơ quan tình báo CIA cũng thế.  Nhưng có cái khác là CIA thì giữ kín mít những chi tiết giết người của họ, còn Việt Nam thì có vẻ “vô tư” công bố những tình tiết giết người!  Đạo đức làm người không cho ai gây hại đến người khác huống chi là giết người.  Đọc qua lời kể trên Dân Việt của người chủ mưu, chúng ta dễ dàng thấy đội ám sát lên kế hoạch rất kĩ, chính xác đến từng giây phút.  Tính chính xác của họ thật đáng nể.  Nhưng chỉ có điều tính chính xác đó đáng lẽ nên phục vụ cho khoa học thì tốt hơn là để cướp đi sinh mạng của một người trí thức.


Ở nước ta có một nghịch lí: những sự kiện đáng được bạch hóa nhưng lại không được; ngược lại có những sự kiện không cần bạch hóa (vì rất dễ làm đau lòng nhiều người) nhưng lại được bạch hóa như là một cách xưng tụng!  Có những điều nên để cho đi vào quên lãng chứ không nên nhắc đi nhắc lại như là một kì tích.  Khơi lại sự việc ám hại người chỉ làm đau lòng thân nhân của người kém may mắn.  Người bị sát hại đã về bên kia thế giới, và người sát hại cũng chắc qua tuổi lục tuần và gần đất xa trời, tức ở độ tuổi bao dung hơn.  Chỉ hi vọng những tình tiết giết người như thế không còn xuất hiện trên báo chí nữa.  Một khi sát hại được dùng như là một phương tiện để đạt được mục tiêu, thì mục tiêu đó chẳng có gì là cao cả.


NVT


Giáo sư Nguyễn Văn Bông qua lời kể của tác giả Trần Văn Chi
Những ai may mắn gần gũi với Nguyễn Văn Bông chắc còn nhớ lúc mới về Sài Gòn, còn ở tạm tại một khách sạn nhỏ trên đường Kỳ Ðồng, ông thạc sĩ độc thân, đẹp trai hồn nhiên mặc chiếc áo thun rách 3 lỗ ra tiếp đón bà con bạn bè đến mừng! Nguyễn Văn Bông mộc mạc, thiệt thà, đơn giản, là con người “trước sao, sau vậy”. Rồi ông được mời giảng dạy chánh thức tại đại Học Luật Khoa Saigon, đến 15 Tháng Mười Một năm 1964 được cử làm viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Nguyễn Văn Bông vẫn vậy.


Ðối diện với ông trên bộ ghế salon bằng gỗ cũ kỹ tại căn nhà của ông do nhà nước cấp, trước trường Nữ Trung Học Gia Long vào thập niên 70, tôi nói chuyện với ông như người anh em, người đồng hương, người “bạn tri kỷ”, dầu tôi với ông cách biệt tuổi tác và địa vị.


Ðó là cái lớn của Nguyễn Văn Bông mà tôi ít tìm thấy nơi những tri thức cũng như chánh khách mà tôi hân hạnh tiếp xúc lúc bấy giờ.


Làm viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, nơi đào tạo những con người lãnh đạo đất nước, những ông chủ quận, chủ tỉnh, quan chức cao cấp... nhưng Nguyễn Văn Bông không coi mình là quan chức. Ông trước sau chỉ là người thầy, người anh, người bạn với mọi người kể cả học trò của ông.


Ông Nguyễn Văn Bông từ Pháp về nước lúc tình hình chánh trị ở miền Nam Việt Nam đang trong thời kỳ xáo trộn: 18 trí thức nhóm Tự Do Tiến Bộ bị đàn áp, do ngày 26 Tháng Tư năm 1960 nhóm này cho phổ biến tuyên ngôn yêu cầu chánh phủ cải tổ; Phật Giáo chống lại chánh sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền Ngô Ðình Diệm lên cao điểm với vụ tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Ðức tại ngã tư Lê Văn Duyệt- Phan Ðình Phùng lúc 11 giữa trưa ngày 11 Tháng Sáu năm 1963...


Nguyễn Văn Bông dầu được chánh quyền mời về, nhưng ông không e dè đăng đàn thuyết trình đề tài “Ðối lập chánh trị trong chế độ dân chủ” ngày 1 Tháng Tám năm 1963, nhân buổi lễ khai giảng năm học, trước cử tọa gồm viện trưởng, khoa trưởng, giáo sư cùng hàng ngàn sinh viên. Không kể nội dung bài thuyết trình, thái độ của người thầy Nguyễn Văn Bông đã làm cho sinh viên cùng đồng sự của ông nể trọng, kính phục. Ðó là đức độ kẻ sĩ. Và mấy ai làm được?


Ông không chọn thái độ ở ẩn như Phan Văn Trị, từ quan như Vũ Văn Mẫu. Lối xuất sử của Nguyễn Văn Bông làm cho ông trở thành con người nổi trội bấy giờ.


Sau Cách Mạng 1 Tháng Mười Một, ông đảm nhận các chức vụ viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, cố vấn cho Tối Cao Pháp Viện, ủy viên Hội Ðồng Quản Trị Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam. Tới lúc này ông Viện Trưởng Nguyễn Văn Bông vẫn thường về quê, tìm món khô “hắc cấy”, món ngon đặc sản Vàm Láng của ông. Nghe ông thích thú kể chuyện con hắc cấy, chuyện làm gỏi da cá đuối mà tưởng chừng đang nói chuyện với lão nông, hay người đánh cá. Cung cách Nguyễn Văn Bông đã thâu hút mọi người và làm mọi người đến với ông. Rồi ông được mời hoạt động, làm chánh trị, bởi anh em thấy ở ông cái đức độ của con người lãnh tụ thật sư, có tấm lòng, có cái Tâm. Ông làm chánh trị như nhà tu hành thiền.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét