Thứ Hai, 23 tháng 5, 2011

Ghé thăm các blog: 23/05/2011

BLOG ĐÀO TUẤN

Câu này là của ông Đặng Văn Khoa, còn gọi là “Hội đồng Khoa” trả lời nhà báo Đoan Trang 5 năm trước, ngay sau khi ông “tự nguyện” viết đơn xin rút khỏi cuộc bầu cử Quốc hội khoá XII.

Một người không thể đóng hai vai
Từ chối công việc với mức lương hàng ngàn USD để có  nhiều thời gian hơn cho công việc của một ĐBQH, “Thật sự mong muốn được đóng góp một cách trong sáng, không vụ lợi, không tham vọng chính trị” trong tư cách một đại biểu của dân. Nhưng khi phải viết đơn “xin rút”, ông Khoa đã đưa ra lý do lãng xẹt: Một người không thể đóng hai vai. Rằng: Bản thân và gia đình chưa thu xếp được. Cứ tin vào lý do “không có thời gian”- có ý nghĩa như một điểm tựa mà dù sao ông Khoa cũng đã nói ra, lại càng thấy ông là người có trách nhiệm. Và vì thế, 5 năm trước, dư luận có lý do để tiếc cho một đại biểu thực tâm, thực tài, mà họ gửi gắm.

Không một người “không có thời gian” nào lại tự ứng cử ĐBQH, dù lý do xin rút vì “Không có thời gian” lại là lý do phổ biến nhất trong việc họ xin rút. Một trường hợp “Không có thời gian” khác là ông Đàm Xuân Anh, 37 tuổi, thạc sĩ ngành kinh tế phát triển, giám đốc Công ty TNHH Thi Anh, người đã giành tới 97,56% số phiếu tín nhiệm của cử tri. Nhưng cũng như ông Hội đồng Khoa, ông Anh cũng “bất ngờ” xin rút. Và cũng với lý do thời gian: “Đang tham gia giảng dạy tại một số trường, vừa nghiên cứu khoa học, làm luận án tiến sĩ... nên không đủ điều kiện làm tốt nếu trúng cử ĐBQH”.


Có lẽ những lá đơn xin rút vì “không có thời gian” sẽ hợp lý hơn rất nhiều nếu người viết, và ký bên dưới, là một vị bộ trưởng, một chủ tịch tỉnh… Nhưng thực tế cho thấy chưa có bất cứ vị bộ trưởng nào xin rút vì lý do thời gian, vì “Một người không thể đóng hai vai”. Không lẽ công việc quản lý của một bộ trưởng vẫn cho ông 3-4 tháng họp Quốc hội. Hoặc các vị Bộ trưởng thì khoẻ hơn các ông hội đồng! Có lẽ lý do dễ thuyết phục nhất là vì họ đã được phân công.

Nếu muốn có một quốc hội thực sự chuyên nghiệp, thực sự đại diện cho nhân dân, muốn có một quốc hội phân biệt tương đối rõ ràng giữa lập pháp và hành pháp thì có lẽ nên giảm tối đa số đại biểu QH hai vai. Và khi cuộc bầu cử là thực sự dân chủ thì có lẽ sẽ không còn  những lá đơn xin rút vì: “Không có thời gian”, hay “Không đủ sức khoẻ”.

Tín nhiệm
Một người đương thời khác, cũng tên Khoa, năm đó cũng viết đơn ứng cử đại biểu QH. “Là người trong ngành, tôi thấy giáo dục có quá nhiều tồn tại. Do vậy, ra ứng cử để muốn nói lên tiếng nói trung thực nhất cùng Quốc hội khắc phục triệt để những bất cập, tồn tại đó...”- thầy Đỗ Việt Khoa từng phát biểu nhiệt tình và đầy tâm huyết. “Chẳng có ưu điểm gì nhiều ngoài tính trung thực, thẳng thắn, gần gũi thầy cô, học sinh, sẵn sàng online chia sẻ mọi vấn đề với các thầy cô và các em học sinh... Mặt khác, tôi còn biết sử dụng máy tính và Internet”- như lời ông tự nhận xét, ông Khoa cũng hứa sẽ “tăng cường tiếp xúc cử tri hơn”, sẽ thường xuyên trao đổi với cử tri qua mail, chat, sẽ “công khai địa chỉ nhà riêng để tiện trao đổi” bởi việc tiếp xúc cử tri là "điểm thiếu" của nhiều ĐBQH khóa trước.

Ông Khoa nói rất đúng bởi một một đại biểu mà không thường xuyên tiếp xúc với dân, không hiểu được tâm tư, nguyện vọng của dân, không gần dân thì đại biểu đó nên làm Bộ trưởng.

Kết quả như thế nào thì ai cũng biết. Ông Khoa được 0% tín nhiệm của các cử tri tại nơi công tác. Con số 0% này có nhiều điều đáng nói: Nếu các vị thực sự là những người đương thời chống tham nhũng, lại chống ở chính nơi mà mình công tác, xin ở nhà đắp chăn cho khoẻ. Ngay cả các vị đã trúng rồi mà còn muốn tái cử thì cũng nên nhớ một câu: Đánh đĩ 9 phương… Mà tốt nhất là không chống gì cả.

Rào cản này cũng ứng ngay với ứng viên tự ứng cử họ Cù khi ông bị đánh trượt từ vòng gửi xe.

Bởi thế, những chiến sĩ trên mặt trận chống tham nhũng mà tự ứng cử thì hầu như không có tí cơ hội nào, dù đó là người đương thời, dù được tặng huân chương. Nhiều khi đơn giản vì bà con thấy ghét, hoặc bị bảo phải ghét.

Theo quy định trong Luật bầu cử, việc tự ứng cử cực kỳ đơn giản. Bất kỳ ai muốn tự ứng cử chỉ cần nộp vào Ủy ban bầu cử Ðơn xin ứng cử kèm sơ yếu lý lịch và một bản tiểu sử tóm tắt. Không cần ký quỹ, cũng không cần thu thập chữ ký như quy định rắc rối và “phi dân chủ” của bọn khoai tây. Nhưng rõ ràng nhìn vào con số 1, trong hơn 360 người tự ứng cử, trúng cử đại biểu QH, cho thấy đường đến nghị trường của các ứng viên tự ứng cử không dễ tí chút nào.

Trên tường nhà ông Hội đồng Khoa treo một bức thư pháp “Đức tâm thánh thiện gia đình thịnh. Tài trí thanh liêm Tổ quốc hưng” do bà con cư xá Thanh Đa, phường 27, quận Bình Thạnh tặng.

Có lẽ, cần phải sửa hai từ “Tổ quốc”.


BLOG NHẬT KÝ CỦA NGỌC


Tôi không có dịp đi nước ngoài nhiều, nên không biết ở ngoài người ta có hệ thống chăm sóc sức khỏe cho lãnh đạo hay không. Nhưng nhìn từ góc độ y đức tôi thấy chuyện dành ra một tài khoản và ban bệ chỉ để lo chuyện sức khỏe cho lãnh đạo thật là vô minh.

Thời còn làm trong bệnh viện nhà nước tôi chứng kiến nhiều cảnh đau lòng. Thường dân không có thuốc phải nằm chờ chết. Cán bộ cao cấp thì được lệnh mua thuốc ngoại, giá bao nhiêu cũng được duyệt. Thường dân nằm la liệt hành lang bệnh viện. Cán bộ nằm phòng có máy lạnh. Đó là thời 79-85. Nhưng thời nay cũng chẳng có gì khác. Cũng như giữa giàu và nghèo, khoảng cách giữa dân và quan càng ngày càng lớn. Quan thì giàu, dân thì nghèo.

Người ta nói một chuyện làm một chuyện khác. Nói xóa bỏ giai cấp, nhưng lại tạo nên một giai cấp ăn trên ngồi trước. Nói là đầy tờ nhân dân, nhưng trong thực tế là cha mẹ nhân dân. Ngôn ngữ dưới thời XHCNVN không còn ý nghĩa thật của nó nữa.

Sài Gòn có bệnh viện Thống Nhất dành cho lãnh đạo. Nhưng ít ai biết rằng bất cứ tỉnh nào cũng có một khu trong bệnh viện chỉ dành cho lãnh đạo. Phải bao nhiêu tuổi đảng mới được nằm ở các khu đặc trị đó. Tôi không có vinh dự điều trị cho các vị lãnh đạo vì tôi đoán lý lịch của mình không “sạch” mấy (do học y thời trước 75). Nhưng tôi được biết đồng nghiệp điều trị cho các lãnh đạo than trời lắm. Họ nói các vị lãnh đạo coi bác sĩ chẳng ra gì, đối xử với bác sĩ như là cấp trên và cấp dưới. Chán lắm. Bực tức lắm. Nhưng nhiệm vụ và y đức thì phải làm, chứ chẳng ai ham làm trong các khu đặc trị cho lãnh đạo cả.

Thật ra, mấy khu đặc trị là những khu nguy hiểm trong bệnh viện. Dù trang bị tốt hơn các khu khác, nhưng tử vong vẫn cao trong mấy khu đặc trị. Lý do đơn giản là bác sĩ chẳng dám quyết định gì cả. Cái gì cũng hỏi cấp trên. Có lẽ nhiều người không biết, nhưng có ca phải hỏi ý kiến… cấp ủy. Không có hệ thống y khoa nước nào quái đản như nước ta, bác sĩ xin ý kiến cấp ủy để điều trị! Có cụ bị để nằm cho đến chết vì chẳng ai dám quyết định, ai cũng sợ trách nhiệm. Có lần tôi tham dự hội chẩn về một trường hợp và bị ám ảnh lâu dài về hệ thống y tế dưới thời XHCN. Ông cụ không phải là cán bộ cao cấp, nhưng là bố của một ông thứ trưởng, nên cũng được nằm khu dành cho lãnh đạo. Ông cụ bị cao huyết áp và tiểu đường, bệnh rất hay gặp. Người ta hội chẩn mãi, xin ý kiến mãi, thậm chí ông thứ trưởng bay vào Sài Gòn thăm bố. Chẳng ai dám làm gì! Ba tuần sau, ông cụ qua đời. Chính cái hệ thống phân biệt đối xử và giai cấp làm cho ông cụ chết.

Chính cái hệ thống đó đang giết người dân nữa. Đọc blog thấy có tin Thanh Hóa “đầu tư xây dựng trụ sở Ban Bảo vệ – Chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Thanh Hóa”. Có cái gì ghê tởm ở đây. Chúng ta biết rằng người dân Thanh Hóa đang đói. Gần 250.000 người đói. Vậy mà người ta thản nhiên xây tập trung tiền bạc vào việc chăm sóc sức khỏe cán bộ!

Thử nhìn qua hai hình dưới đây để thấy bản chất của chế độ:



Đâu chỉ Thanh Hóa mới lo chăm sóc sức khỏe cán bộ. Trung ương cũng thế. Chẳng những huy động, mà còn huy động toàn hệ thống. Thử đọc bản tin Huy động sức mạnh của toàn hệ thống trong công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ thì biết người ta muốn gì. Đọc bản tin đó gần chục lần tôi vẫn không giải thích được tại sao người ta lại vô cảm, ngạo mạn, ngang nhiên, trắng trợn như thế.

Trong khi bệnh viện các cấp quá tải, trong khi hai ba bệnh nhân phải nằm chung giường, trong khi bệnh nhân nằm ghế bố la liệt ngoài hành lang, mà có một giai cấp ngang nhiên huy động toàn hệ thống để chăm sóc cho một nhúm cán bộ đảng viên. Họ xem bệnh viện, bác sĩ, y tá, chuyên gia như là tài sản của riêng họ, muốn làm gì thì làm. Không hiểu trong lịch sử nước nhà, đã có một giai cấp thống trị nào chẳng những bất tài mà còn tàn nhẫn với người dân như hiện nay. Tìm hoài trong cổ sử mà chưa thấy. Tạm thời có thể nói đảng viên là giai cấp tàn nhẫn nhất với người dân trong lịch sử Việt Nam?



NGƯỜI BUÔN GIÓ


Thuở ấy nước Vệ xanh tươi lắm, cây cối màu mỡ, đất đai bằng phẳng, phì nhiêu, cánh cò bay lả lướt rập rờn. Non sông gấm vóc, trữ tình. Con người Vệ hiền hòa, chan chứa tình cảm. Họ sống cuộc đời tình làng, nghĩa xóm, trọng vua, kính thầy, yêu cha mẹ....

Sau khi khởi nghĩa dành được xã tắc, thấm thoắt nhà Sản lên ngôi đã vài chục năm. Đất nước tạm yên bình, binh khí xếp vào kho đến nỗi hoen rỉ, quân lính chây ỳ không lo tập luyện. Các quan lại bấy giờ sinh ra ham ăn chơi xa xỉ đến nỗi thành một thú nghiện của nhiều người.

Phàm muốn xa xỉ thì phải có tiền, mà phàm làm quan muốn có tiền nhiều thì tất phải làm điều không đúng đạo làm quan. Mà quan nước Vệ từ kẻ lương cửu phẩm đến nhất phẩm ai cũng có gia sản gấp hàng trăm nghìn lần lương bổng của triều đình. Từ đó cũng suy ra cái đạo làm quan nước Vệ đang ở hồi nào.

Bấy giờ của cải trong ngân khố đã trống rỗng, tài nguyên cạn kiệt. Nước Vệ kêu gọi bọn tư thương ngoại bang đổ tiền vào đầu tư đất đai, nhân đó hòng hớt được những khoản hối lộ khổng lồ để cho bọn tư thương nước ngoài được những miếng béo bở. Nhưng đầu tư ở đây được nước Vệ gọi là đầu tư có chọn lọc, hay nói cách khác là chọn nhà đầu tư. Nhà đầu tư phải ở nước có thân thiết với nước Vệ như nước Tề, phải biết cách hối lộ cho các quan Vệ. Những thứ này chỉ có tư thương nước Tề là hội tụ đầy đủ.

Ngày nọ tư thương nước Tề sang Vệ, quan Vệ dẫn đi chọn đất, đi từ vùng núi đến miền biển. Chả khác nào ngày xưa Cao Biền đi thám thính. Trên đường đi, tư thương nước Tề thấy dân Vệ nhìn mình thiếu thiện cảm, mới tỏ ý rụt rè, cân nhắc chuyện đầu tư, ý có vẻ muốn thoái thác rút lại ý đổ tiền đâu tư. Tể tướng nước Vệ biết chuyện, mới gọi họ vào phủ hỏi.

- Các ngài có e ngại gì nước Vệ chúng tôi không thật lòng chăng ?

Tư thương nước Tề nghĩ hồi lâu, ra vẻ đắn đo rồi nói.

- Xin kể câu chuyện này, ngày xưa có tên thương gia Mai Cồ hiệu là Phụ Lão ở xứ Cờ Hoa, ngày nọ theo lời kêu gọi của quan nước Cự Bá mang 2 nghìn lượng vàng sang đó đầu tư. Trên đường đi thăm thú làm ăn, Mai Cồ nhìn thấy toán cảnh binh bắt được người dân, người dân đó phanh bụng giật bộc phá tự sát, khiến cả đám cảnh binh chết theo. Mai Cồ suy ra triều đình  Bá Thịnh Xa của Cự Bá khó mà trụ được lâu. Mai Cồ tức tốc bỏ ý định đầu tư trở lại xứ Cờ Hoa. Y như rằng sau này không lâu Bá Thịnh Xa bị lật đổ.

Tư thương Tề ngừng lại lát mới tiếp lời.

- Chúng tôi không nghĩ các ngài không thật lòng, nhưng vừa rồi tôi có dạo vòng nước Vệ, thấy cái nhìn của dân Vệ mà bụng phân vân, xin ngài hiểu rõ lòng chúng tôi.

Bạo nghe xong , lặng thinh một hồi. Rồi đanh mặt, nghiến răng nói

- Các ngài cứ để ít bữa chúng tôi tính toán.

Tư thương Tề lui ra, Bạo đập bàn quát gọi bộ Hình lên hỏi

- Có nghe câu chuyện Tề thương gia vừa kể không ?

Đại thần bộ Hình tâu.

- Thần đã nghe.

Bạo.

- Nước Vệ thế nào mà để các nhà đầu tư phải ngại ngùng, phải làm sao để nước Vệ thành nơi hấp dẫn các nhà đầu tư. Nay không có tiền của họ đổ vào, thì lấy gì cho các ngươi ăn chơi xa xỉ đây. Không được để cho đứa nào cản trở những nhà đầu tư, kể cả cái nhìn nghe không.

Đại thần bộ Hình vâng lời lui ra.

Tháng sau ở châu Ái, công sai nhà Vệ dùng cung nỏ bắn chết người dân, cả phụ nữ lẫn trẻ em vì dám ngăn cản việc đầu tư của tư thương ngoại bang.

Ở phương Nam nước Vệ, có mấy thanh niên trẻ tuổi vì bênh người lao động khiếu nại bọn đầu tư bạc đãi người lao đông, bị bộ Hình bỏ tù đến cả gần chục năm.

Mùa đông năm Canh Dần, nhân sĩ Hải Hoàng vốn ghét Tề, vừa hết hạn ngục vì tội liên quan đến thuế má, chưa ra khỏi nhà lao đã bị vào nhà lao khác vì tội nói năng không đúng phép với nước Tề.

Mùa xuân năm Tân Mão, Cù tiên sinh cũng ghét Tề mà bị kết án khổ sai.

Trước đó Phạm cô nương ở mạn duyên hải nước Vệ, bất bình với quân Tề nhũng nhiễu, giết hại ngư dân Vệ ngoài khơi, Phạm cô nương không quản mình hạc, vóc mai lặn lội  đi tìm hiểu sự thật, bố cáo cho thiên hạ biết rõ. Nhà Sản chẳng ngại ngần tống Phạm cô nương vào ngục tối, hết đời xuân xanh.

Bạo mới cho người mang hồ sơ những vụ đó đưa cho tư thương nước Tề xem.

Tư thương nước Tề xem xong, đàn đàn lũ lũ kéo sang Vệ mua đất đai, dựng cơ nghiệp, cho cả vợ con, trai tráng thất nghiệp sang sinh sống làm ăn, tạo thành những làng ấp Tề tại nước Vệ. Lúc có hội hè, vào kinh thành yến tiệc với triều nhà Sản. Bạo rượu lâng lâng mới nhắc lại chuyện xưa.

- Giờ các ngài đã yên tâm rồi chứ.  Phải không bộ Hình?

Bạo đột ngột quát gọi.

Đại thần bộ Hình lật đật chay đến tâu.

- Năm nọ giữa kinh kỳ, hai Tề thương gia nắm chân một Vệ dân giộng đầu xuống đất đến chết. Dân Vệ đi lại nhìn thấy mà không ai dám nói nửa lời, cúi mặt mà đi. Giờ các Tề thương gia được tôn kính như Sài Thung thở  nào rồi. Cứ yên tâm mà làm ăn thôi.

Tư thương Tề nói.

- Dân Vệ đã thôi không ghét người Tề chúng tôi đã là điều tốt, nhưng nếu bộ Hình làm quá, e họ oán bộ Hình như người Cự Bá chăng ?

Bạo nhìn quan đại thần bộ Hình bảo

- Xin các ngài cho thư thả vài bữa chúng tôi có câu trả lời.

Năm ấy ở xứ Kinh Bắc công sai đánh chết người ở phủ, rồi ở kinh kỳ công sai cũng lôi người về phủ đánh chết, ở phương Nam có kẻ chết trong phủ công sai vì tự vẫn, rất nhiều kẻ đột tử, tự vẫn trong nhà lao, trong phủ công sai nước Vệ. Dân tình nhìn thấy áo nhà quan là khiếp đảm, vỡ mật, ai nấy cúi đầu mà đi, không dám nhìn thẳng mặt quan.

Tư thương Tề xem hồ sơ cười sằng sặc với nhau.

- Có câu chuyện Mai Cồ mà bao đứa cứng đầu nước Vệ phải đi tù, bao đứa dân lành phải chết để làm minh họa. Công sai nước Vệ quả tài gấp mấy bọn công sai nước Cự Bá.

Tư thương khác nói.

- Bá Thịnh Xa xứ Cự Bá nếu sống lại còn phải học Bạo tể tướng nhà Vệ nhiều về thuật cai trị, đúng là trùng dương sóng vỗ miên man, lớp sóng sau đè lên lớp sóng trước. Ấy cũng là lẽ đời, kẻ nào rút được kinh nghiệm thì kẻ ấy tồn tại được.

Kẻ khác nói.

- Thế này chả mấy nước Vệ không còn dân nữa, anh em ta nhỉ?

Cả đám ngửa cổ nâng cốc cười ha hả.

Nước Vệ giờ tan hoang, bụi mù mịt từ thôn quê đến kẻ chợ. Đâu đâu cũng thấy có mặt người Tề, họ xây dựng cái gì, dân cư chung quanh cũng không rõ.

Triều đình công bố những năm gần đây kinh tế đất nước phát triển tốt. Xe tứ mã nhập ngoại chạy đầy đường, nhà nhà cao ốc mọc lên như nấm.

Nước Vệ lại sắp hưng rồi !


BLOG TRẦN MINH QUÂN

Nếu lấy tiêu chí “tốc độ làm hoang mạc hóa sông hồ nhanh nhất” làm căn cứ để “thi thố” giữa các quốc gia thì rất nhiều khả năng Việt Nam ta sẽ là vô địch.

Nước sông Trà mỗi năm một xuống thấp, trơ đáy, những người khai thác cát sạn phải đào một mương nhỏ sâu 4 m để đưa ghe chở hàng vào bờ. Ảnh: Trí Tín.

Nếu có dịp đi dọc miền Trung vào những ngày nắng nóng này, chắc nhiều người sẽ không khó bắt gặp cảnh các con sông nằm trơ đáy, từng bãi cát trắng khô khốc như cuốn họng của con người trong cơn đói khát đang trông chờ vào sự xót thương của người qua đường.

Thực trạng các con sông đang thiếu nước, các hồ chứa nước ngọt đang bị xâm hại nghiêm trọng trên toàn lãnh thổ Việt Nam hiện nay đang đặt ra nhiều thách thức cho đời sống của con người ở hiện tại và trong tương lai.

Chỉ những ai từng sinh ra và lớn lên trên mảnh đất miền Trung mới thấy rõ cái sự thay đổi từng ngày trên các dòng sông. Cách đây chừng hơn chục năm, những con sông như sông Vệ, sông Trà Khúc ở Quảng Ngãi và rất nhiều con sông ở các tỉnh thành khác lúc nào nước cũng tràn đầy. Ngày ấy, dù đang trong những ngày hè nắng nóng nhưng các con sông quê vẫn đầy ắp dòng nước xanh ngát chảy hiền hòa, mang nguồn sống, sự mát mẻ, dịu ngọt về xuôi phục vụ đời sống người dân nơi đây. Ấy vậy mà chỉ hơn chục năm, một khoảng thời gian rất ngắn so với tuổi đời của một dòng sông, người ta đã khiến các dòng sông đang oằn mình hấp hối.
Không phải do hạn hán mà thủ phạm gây nên tình trạng khan hiếm nước ở các con sông miền Trung không gì khác chính là nạn chặt phá rừng. Nhiều mảng rừng già đã bị chặt phá sạch. Bên cạnh đó là nạn khai thác đất, đá vô tội vạ. Và trong một vài năm gần đây, với phong trào người người, nhà nhà mạnh ai nấy phá rừng trồng cây keo (tràm) bán làm nguyên liệu giấy đã một lần nữa góp phần kết liễu sự sống của các dòng sông.
Trong khi các dòng sông đang thoi thóp thì các hồ chứa nước ngọt cũng đang bị bức tử một cách thô bạo, không thương tiếc.

Trong thời gian qua, đã có rất nhiều bài viết phản ảnh thực trạng xâm hại và tàn phá hồ Ba Bể. Do cấp phép khai thác khoáng sản bừa bãi và không được sự kiểm soát của các cơ quan chức năng nên đã đẩy hồ nước được xem là một kỳ quan của Bắc bộ này vào chỗ ô nhiễm nặng, bị bồi lấp và nghiêm trọng hơn là đứng trước nguy cơ biến mất.

Hồ Ba Bể đang bị "ăn thịt" bởi bùn, đất từ các dòng sông, suối đổ vào. Ảnh: Thao Giang

Cũng liên quan đến hồ nước ngọt. Mới đây, báo chí phản ánh tình trạng hồ Dầu Tiếng, một trong những hồ nước ngọt lớn nhất Việt Nam, cũng đang đứng trước nguy cơ bị lấn chiếm nghiêm trọng. Trong thời gian qua, đã liên tiếp diễn ra những vụ cá nhân lấn chiếm lòng hồ. Các vụ lấn chiếm từ vài chục mét lòng hồ đến 5.000 m2 mà chưa có cơ quan chức năng nào lên tiếng, xử lý.

Ngoài ra, thực trạng các hồ nước ngọt bị xâm hại không chỉ xảy ra ở các vùng miền núi xa xôi mà cũng đã tồn tại và hiện vẫn đang xảy ra ngay ở thủ đô Hà Nội. Theo đề tài  nghiên cứu  “Sông hồ – nước và đô thị Hà Nội” phối hợp giữa Đại học KU Leuven với Viện Kiến trúc Quy Hoạch – ĐH Xây dựng Hà Nội, Trường ĐH Lâm nghiệp và Viện Kiến trúc Quy hoạch – Bộ Xây dựng thì từ năm 1955 đến năm 2000 thì diện tích hồ ở Hà Nội bị lấp khoảng 70%.

Một đặc điểm dễ nhận thấy là sự thay đổi đến chóng mặt của các sông hồ, mà nguyên nhân chính là do con người gây ra, thường không được các cấp chính quyền địa phương nơi xảy ra thảm họa này nhìn thấy mà đa phần đều là do một số người có lương tâm phát hiện và lên tiếng.

Trong một lần khảo sát thực tế tại hồ Ba Bể, GS Đặng Hùng Võ đã đặt câu hỏi: Hệ thống chính quyền ở đây đang vô thức hay vô cảm? Tương tự như vậy, trong vòng chưa đến 50 năm mà Hà Nội đã cho lấp hết khoảng 70% các hồ nước mà không ai là người Việt Nam lên tiếng ngăn chặn hay chỉ có một vài động thái yếu ớt, để rồi vì quá bức xúc với thực trạng này mà GS.TS.KTS Kelly Shannon đến từ Đại học KU Leuven (Vương quốc Bỉ) đã chua chát mà khen rằng: Hà Nội đang “cần mẫn” lấp hồ.

Quả thật, khoảng thời gian 10 năm với các dòng sông ở miền Trung, 20 năm với hồ Ba Bể hay 50 năm với các hồ ở Hà Nội là một khoảng thời gian rất ngắn so với tuổi đời của chúng. Khoảng thời gian ấy chỉ như một cái chớp mắt. Vậy mà chỉ trong một khoảng thời gian cực ngắn đó, con người đã làm thay đổi tất cả những quy luật tự nhiên vốn đã tồn tại hàng ngàn năm.

Những hậu quả nhãn tiền đã xảy ra. Miền Trung đang thiếu nước tưới tiêu, nước sinh hoạt trong mùa nắng và lũ lụt ngày càng hung dữ vào mùa mưa, các đô thị ngập chìm trong nước chỉ với một cơn mưa lớn… Tất cả đều là hệ quả của sự vô cảm với thiên nhiên mà ra.

Nguồn nước đối với đời sống xã hội không khác nào dòng máu đang chảy trong mỗi con người. Dòng nước cạn kiệt tức là sự sống đang bị xâm hại, báo hiệu một hiểm họa đang sắp diễn ra với con người.

Phải chăng chúng ta đang quá vô cảm hay quá tham lam với chính chúng ta, với con cháu chúng ta? Đây là một câu hỏi không dễ trả lời. Nhưng với những gì đang diễn ra, nếu không có những biện pháp ngăn cản kịp thời, trả lại cho tự nhiên những quy luật vốn có của nó thì chỉ chừng vài chục năm nữa thôi, chúng ta sẽ đối diện với nguy cơ thiếu nước ngọt thực sự.

Nếu lấy tiêu chí “tốc độ làm hoang mạc hóa sông hồ nhanh nhất” làm căn cứ để “thi thố” giữa các quốc gia thì rất nhiều khả năng Việt Nam ta sẽ là vô địch.



BLOG NGUYỄN QUANG LẬP
Trên bàn nhậu tuần qua- số 13


1. Tuyên bố chung về biển Đông của các bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN khẳng định toàn thể thành viên ASEAN “cam kết thực hiện đầy đủ và có hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên về biển Đông (DOC) và tiến tới việc hình thành bộ Quy tắc ứng xử biển Đông (COC)” để thúc đẩy hòa bình và ổn định trong khu vực. Tuyên bố cũng khẳng định quyền tự do đi lại trên mặt biển và vùng trời ở biển Đông là những nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi bởi luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982.”

Nhiệt liệt hoan nghênh tuyên bố chung này! Nhiệt liệt! Nhiệt liệt! Nhiệt liệt!  Nếu các nước khối Asean  xích gần nhau lại, coi nhau như anh em một nhà, không tranh chấp vặt, sẵn sàng vì nhau mà chín bỏ làm mười, cố kết trên dưới một lòng, thì Trung Quốc dù có ba đầu sáu tay cũng không làm được gì tốt.


2. Kết luận về thời gian Bác Hồ dạy học ở Phan Thiết là những kết luận của Đoàn chủ tịch Hội thảo “Nghiên cứu, xác minh giá trị di tích và tư liệu về sự kiện thầy giáo Nguyễn Tất Thành sống và dạy học ở Phan Thiết” (Bộ VH-TT-DL và Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức) vừa đưa ra một số kết luận làm căn cứ để tuyên truyền về Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi Người dừng chân dạy học ở Trường Dục Thanh. Tuy nhiên, không có một tài liệu nào nói rõ ngày tháng thầy Thành từ Duồng vào Phan Thiết. Bà Ngô Thị Mùi cho biết, khi còn sống, ngay cả bốn cụ là học trò của Thầy Thành cũng không nhớ rõ thời gian Bác vào Phan Thiết khi nào và đưa ra các mốc thời gian không thống nhất. “Đoàn Chủ tịch Hội thảo đã thống nhất và đề nghị các Bảo tàng Hồ Chí Minh và hệ thống các di tích về Hồ Chủ Tịch lấy thời điểm thầy Thành đến Phan Thiết là tháng 8.1910 và rời Phan Thiết vào Sài Gòn tháng 2.1911”- bà Ngô Thị Mùi cho biết.

Trong bài “Vậy nghe, ông cụ”, Mr.Do đã bình rất hay: Tôi rất thích cái “thống nhất và đề nghị” của đoàn chủ tịch hội thảo. Tức là khi bí quá về thời điểm thầy Thành tới và rời Phan Thiết, các đồng chí hậu sinh đã thống nhất cho ông Cụ một thời điểm cụ thể “để tuyên truyền”. Cứ cách làm này thì có vẻ như chuyện ông Cụ đi hay ở, làm gì ở đâu, được thế hệ con cháu quyết. Và không chỉ riêng vụ này…

 Chuyện thêm: Hôm rồi có dịp kỳ ngộ với một nhà nghiên cứu lão thành và đọc một công trình của ông về nơi cụ Hồ xuất bến ra đi tìm đường cứu nước. Công trình khẳng định cái bến đó là bến Sài Gòn, tức bến Bạch Đằng bữa nay ở quận 1, TP.HCM, không phải bến Nhà Rồng như lâu nay ta từng nghe nói. Công trình nghiên cứu rất ấn tượng, tập hợp và phân tích rạch ròi các con số, cứ liệu lịch sử để chứng minh. Chứng cứ lịch sử được nêu ra để chứng minh cái nào cái nấy chắc nụi và thuyết phục. (Đọc tác phẩm, chẳng những biết nơi anh Văn Ba lên tàu, mà còn biết cái cầu tàu đó dài mấy mét, rộng mấy mét, làm bằng gì…).

 Tôi mới hỏi nhà nghiên cứu: “Vậy theo bác thì tại sao lâu nay người ta cứ khẳng định là bến Nhà Rồng? Họ căn cứ vào đâu?”

 Cụ đáp: “Họ chẳng căn cứ vào đâu cả. Họ chỉ suy đoán và thống nhất với nhau như vậy thôi”.
Nhất trí! Nhất trí!


3.Ai sẽ về đích trước trong cuộc đua tốc độ bồi lấp sông hồ? là câu hỏi của nhà báo Trần Minh Quân khi nói về thực trạng các con sông đang thiếu nước, các hồ chứa nước ngọt đang bị xâm hại nghiêm trọng trên toàn lãnh thổ Việt Nam hiện nay . “Nếu lấy tiêu chí “tốc độ làm hoang mạc hóa sông hồ nhanh nhất” làm căn cứ để “thi thố” giữa các quốc gia thì rất nhiều khả năng Việt Nam ta sẽ là vô địch.” Trần Minh Quân viết: “Phải chăng chúng ta đang quá vô cảm hay quá tham lam với chính chúng ta, với con cháu chúng ta? Đây là một câu hỏi không dễ trả lời”.

Chời chời, có chi mà không dễ trả lời. Vô cảm+ tham lam+Dốt nát+ Quan liêu= Thảm họa. Rứa thôi, rứa thôi.


4. Ông Trần Thanh Chương cho hay có một kiểu quán triệt rất vui là quán triệt… trúng cử: “Các địa phương đang rục rịch chuẩn bị cho ngày bầu cử Quốc hội. Ở đâu không biết, riêng Nghệ An quê tôi việc tổ chức bầu cử không hiếm chuyện cười ra nước mắt! Lãnh đạo xứ Nghệ hay dùng cụm từ “quán triệt”. “Quán triệt vào HTX”, “Quán triệt dời dân vô rú”, “Quán triệt sinh đẻ có kế hoạch”… và bây giờ lại “Quán triệt… trúng cử”. Chuyện đang xảy ra ở Đại học Vinh. Cách đây mấy hôm một số vị lãnh đạo cấp tỉnh xuống làm việc với Đại học Vinh về vấn đề bầu cử. Không biết nội dung làm việc thế nào, chỉ biết sau đó ở Đại học Vinh, các đoàn viên thanh niên nhận được bản “Hướng dẫn nội dung sinh hoạt lớp, chi đoàn chuẩn bị cho bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016”. Điều 6 của bản HƯỚNG DẪN này được “quán triệt” như sau (nguyên văn – Tg):  6. Quán triệt đắc cử: Việc bầu cử, chọn ai, bầu ai là lựa chọn của cử tri. Tuy nhiên, các cấp ủy Đảng đã chỉ đạo để cử tri của Trường Đại học Vinh biết sự chỉ đạo của Đảng về bầu cử như sau:” “Hình bên là danh sách Bầu cử Quốc hội khóa XIII và danh sách Bầu cử HĐND tỉnh Nghệ An, lãnh đạo đã quán triệt ai trúng cử ai không. Ông Chương than thở: “Nhìn vào bản “quán triệt” này thiết nghĩ còn bầu cử làm gì cho tốn tiền tốn sức của nhân dân”.

Dân nhậu cả cười, nói ua chầu chầu, bác Chương ở nước mô về rứa hè, bác còn lạ hay sao mà kêu ca?
Quán triệt! Quán triệt!


5.Xung quanh cuốn sách ” tài năng và đắc dụng” đã có rất nhiều lời bình. Chỉ xin nhắc thêm  một câu hỏi của Lê Văn Nghệ trong bài”Từ háo danh đến xú danh“: Một quyển sách bất thường từ nội dung đến nhận thức như thế, lại được một NXB có uy tín cấp giấy phép, quả là điều khó hiểu. Nhân đây, chúng tôi cũng xin nói rõ, nếu là một con người bình thường, không hoang tưởng, không có triệu chứng về trí não thì khi ai đó vì lẽ gì đó ca ngợi mình, xếp mình “ngồi” chung với các danh nhân thì vì sự tự trọng và liêm sỉ, cũng nên biết cách thoái thác, rút lui. Nếu không, sự háo danh ở đây chỉ có thể gọi là “xú danh”. Có đúng vậy không? Chúng tôi xin dành câu trả lời cho ông Đặng Lê Nguyên Vũ.

Nhưng 42 trang trong sách “Tài năng và đắc dụng” không bằng bản tụng ca  Đặng Lê Nguyên Vũ – Kẻ “vĩ cuồng” của bác Lưu Trọng Văn: Đặng Lê Nguyên Vũ “Vĩ cuồng” ư? Đúng! Nhưng chỉ “vĩ cuồng” cái khát vọng làm sao đất nước Việt trở nên vĩ đại. Háo danh ư? Đúng, nhưng không hề háo danh cho mình mà lúc nào cũng hừng hực háo danh cho dân tộc, cho quốc gia.. Dân nhậu cười khì khì, nói đã “vĩ cuồng” “háo danh” vì dân tộc thì cứ tự mình dựng nghiệp lập danh, sao lại chịu núp bóng cây cao bóng cả, chui vào cuốn sách đó làm gì cho mang tiếng xú danh? Tài giỏi bao nhiêu mà hão tất có ngày hao, háo  tất có ngày hỏng. Sự đời xưa nay đều vậy cả, tiếc thay!


6. Những làng hoa nổi tiếng Ngọc Hà, Nghi Tàm, Quảng Bá đã mất, bây giờ đến làng cổ Cự Đà. Phóng sự Xoá sổ làng cổ Cự Đà Báo  Nhân Dân liên tục hai kì, báo Hà Nội Mới cũng kêu: Cự Đà – Làng cổ đang mất dần, cả hai tờ báo Đảng to đùng cùng kêu nhưng xem ra chẳng ăn thua với uy lực của đồng tiền thời đổi mới. “Chỉ từ nay đến cuối năm 2010, đầu năm 2011, toàn bộ hơn 330ha diện tích đất nông nghiệp của xã sẽ phải thu hồi nhường cho khu đô thị mới. Trung bình mỗi hộ sẽ nhận được khoảng 3-4 tỷ đồng tiền đền bù đất nông nghiệp, hộ nhiều ruộng tiền đền bù GPMB có thể lên tới 5-6 tỷ đồng. Có tiền, người dân rất có thể sẽ lại phá nhà cũ, xây nhà mới, bởi chưa có bất cứ một cơ quan chức năng nào “ra tay” bảo tồn quỹ nhà cổ ở đây.”

Đến báo Đảng kêu mà “chưa có bất cứ một cơ quan chức năng nào “ra tay” thì cũng lạ quá. Người ta xem thường báo Đảng hay báo Đảng đã mất thiêng?


7. UBND TP Hà Nội vừa chính thức thông báo bác bỏ việc xây dựng cầu cảng kiên cố trên hồ Tây theo đề xuất của UBND quận Tây Hồ. Nhưng tiếng kêu về sự băm nát Hồ Tây để kiếm lợi vẫn dậy đất. Trong bài “Xẻ thịt” hồ Tây: “Case study” cho đối thoại tham nhũng tài nguyên, nhà báo Phan Lợi đã viết:”Thực tế không phải từ chuyện này mà vấn đề khai thác và sử dụng tài nguyên quốc gia (như hồ Tây) gần đây đã liên tục được rung lên mạnh mẽ. Qua khảo sát sơ bộ các chuyên gia thấy rằng hiện việc quản lý tài nguyên lỏng lẻo ở mọi khâu, từ thăm dò, cấp phép tới quy hoạch, đấu giá và giám sát. Ở các quy trình đó, nhiều thủ pháp gian dối có điều kiện bộc lộ mà kết cục cuối cùng là lợi ích chỉ có một nhóm người được hưởng, còn hậu quả thì nhà nước và xã hội gánh. Hơn thế, sự thiếu trách nhiệm của một số cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến các địa chỉ và thời điểm cụ thể tuy đã được “chỉ mặt, đặt tên”, song việc ngang nhiên “xẻ thịt” hồ Tây để phục vụ việc tiêu dùng của một nhóm người có tiền dựa trên các tài liệu “quá date” thì chưa ai biết gọi tên là gì?!”

Là Tiền chứ là gì nữa. Ôi Tiền, chỉ có mày mới thực sự sống mãi trong sự nghiệp của chúng tao! Đó là tiếng kêu của giới quan liêu dân tham nhũng, phải vậy không ta?



BLOG VIẾT VỚI NHAU

Nhân một comment trong bài Hũ hèm Việt Nam về chuyện các cô gái Việt phải khỏa thân cho Hàn Quốc chọn, làm nhục quốc thể như vị này nói, xin kể thêm vài nét về hoàn cảnh của họ.

Trong bài này, tôi không dẫn chứng dài dòng, mà chỉ xin nói trích lược các ý mà các nghiên cứu, các phóng sự gần đây đã đề cập.

Phải thấy rằng những cô gái chủ động “bán trôn nuôi miệng” thì từ thời Hai Bà Trưng đến nay, lúc nào cũng có, nhưng không nhiều. Những cô gái “bắt phong trần, phải phong trần” thì nhiều hơn - thường là do hoàn cảnh đưa đẩy. Chưa nói đến chuyện làm gái, vốn rất đông, lên đến con số hàng triệu, riêng hàng trăm ngàn cô gái lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc, Hongkong… chưa hẳn họ vì tiền, mà đa phần là vạn bất đắc dĩ, phải “bán mình chuộc cha”.

Cũng như nói gái miền Tây làm “gà” khắp Việt Nam, lấn sang cả Campuchia, Singapore, Thái Lan, Lào…, nhưng thực chất, cũng chỉ có vài ba tỉnh như Đồng Tháp, Bến Tre, Cần Thơ… với những cô gái “thuần Việt” trắng trẻo, xinh xắn, chứ những tỉnh “lai Khmer” da ngăm đen thì thường chọn kế đi làm ô-sin, với sự đức độ và trung thành với chủ nổi tiếng.

Trung bình mỗi cô gái làm “gà” ở Việt Nam mà tôi biết được, có thu nhập tối thiểu vào khoảng 10 triệu đồng/ 1 tháng, trung bình mỗi ngày kiếm 300 ngàn đồng; mỗi năm làm 10 tháng, kiếm được khoảng 100 triệu đồng, gấp 5 lần GDP bình quân của Việt Nam (khoảng 1.000 USD một năm).

Số tiền làm ra này sẽ đi đâu? Phổ biến nhất là các cô giúp đỡ cho gia đình ở quê, nơi mà đàn ông chỉ có làm ruộng và uống rượu quanh năm, còn phụ nữ thì chẳng mấy khi học hành tử tế, chỉ quanh quẩn ở nhà.

Vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, miền Tây Nam bộ mấy chục năm qua, dù thụ hưởng chung một nền giáo dục (với chủ đích ngu dân), nhưng họ lại học hành yếu kém hơn các vùng miền khác, tỷ lệ đậu đại học rất thấp. Chỉ khoảng 5 năm qua, tỉnh Vĩnh Long với các chủ trương linh hoạt hơn, các học sinh ở đây (mà phần nhiều cũng là nam sinh) đã nổi lên vì học giỏi, nổi tiếng cả nước. Các cô gái ở miền Tây thường ít khi học xong lớp 9, hoặc lớp 12.

Phần còn lại của số tiền kiếm được, các cô hoặc tiêu xài theo kiểu đổi đời, hoặc dành dụm chờ ngày giải nghệ kiếm vốn lấy chồng, làm ăn.

Trong một vài tìm hiểu sơ bộ từ cha mẹ của các cô ở Đồng Tháp, với số tiền gởi về khoảng 5 triệu đồng một tháng, thì giúp ích được gì. Phải nói là rất nhiều, vì lúa gạo, rau cá đã sẵn có quanh nhà, số tiền này chỉ dùng cho mua sắm, từ phân bón, thuốc trừ sâu… cho đến xe máy, tủ lạnh, tivi, đầu đĩa… và cả bia rượu.
Nên nhớ rằng, miền Tây Nam bộ đang bị phân rã mạnh bởi các điền chủ mới phất lên từ miền Bắc vào, người Hoa ở Sài Gòn xuống. Họ tranh thủ mua từng tấc đất, có người sở hữu đến hàng ngàn công đất. Mỗi công đất ở miền Tây hiện nay có giá trung bình khoảng 30 triệu đồng, mà phần nhiều dân miền Tây thì thích xe máy hơn thích cày ruộng, nên túng tiền là bán ngay.

Có nhiều nhà nói mình gả con lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc… chứ thực chất là bán, với giá trung bình khoảng 5.000 USD một cô dâu. Nếu còn trẻ đẹp, trinh tiết, thì giá cao hơn chút đỉnh. Nhiều cô gái nói trong nước mắt, chữ hiếu phải đáp đền, chứ có biết tiếng đâu, về bên ấy chắc sẽ khổ. Mà 100 triệu đồng (tương đương 3 công đất) thì một gia đình 5-7 miệng ăn, với kiểu tiêu xài phóng khoáng, bao lâu thì hết? Cho nên, khi con gái biệt xứ vài năm, ở nhà đất ruộng vẫn cứ bán.

So với mấy cô lấy chồng xa xứ, “nước xa không cứu được lửa gần”, thì mấy cô làm “gà” loanh quanh các thành phố có vẻ giữ đất tốt hơn. Tuổi nghề trung bình của họ vào khoảng 12 năm (từ 16 cho đến 28 tuổi), nếu biết giữ gìn cẩn thận. Nếu khéo, họ có thể giúp gia đình giữ đất được trong khoảng 15 năm, lượng lúa và nông sản làm ra cũng đáng kể.

Ở Cần Thơ có một kiều nữ mà tôi tình cờ biết được, trong 14 năm làm nghề của mình, giải nghệ ở tuổi 30, cô đã cứu được 40 công đất của gia đình trước miệng lưỡi mồi chài của những tân phú hộ. Khi giải nghệ, cô còn dư được khoảng 1 tỷ đồng, không nghiện ma túy, chưa nhiễm HIV và mắc bệnh tình dục, chỉ có một đứa con không xác định cha. Giờ cô về quê lập kế mưu sinh, làm nông kiểu mới, với mảnh đất mà cha ông mình đã khai hoang lập ấp.

Cũng xin nói thêm, trung bình mỗi năm nông dân Việt Nam ăn khoảng 10 dạ lúa (khoảng 200kg gạo), mà một công đất thu hoạch trung bình khoảng 50 dạ/ 1 vụ (tương đương 1 tấn lúa). Nếu đo đúng “tầm điền”, 1 công bằng 12 tầm vuông: 2,60m x 12 = 973,44 mét vuông. Ở Sóc Trăng, một “tầm cấy” bằng 1,3 công tầm điền, tương đương 1.265 mét vuông.

Kiều nữ ở Cần Thơ cứu được 40 công đất trong hơn 10 năm, số lúa làm ra bao nhiêu, không cần tính cũng đã biết được.

Cho nên, giữa vô số những thị phi dành cho nghề bán trôn, thì ẩn tàng phía sâu vẫn là những câu chuyện nhức nhối. Khi mà có đến hàng triệu cô phải bán trôn để cứu nhiều thứ, chứ không phải nuôi miệng, thì không thể nói là do tự phát, mà là bị đời sống dồn ép đến bước đường cùng. Nếu nhà cầm quyền có chính sách tốt, người dân có đủ an sinh và việc làm, thì ở lứa tuổi 16-20 đầy mơ mộng, có mấy cô dám chọn cái nghề này.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét