Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

Vấn đề tranh chấp biển Đông - Đài Loan toan tính điều gì?

Trương Nhân Tuấn

(2)

Ngân sách quốc phòng của Đài Loan năm 2002 là 261,9 tỉ Yuan (Nguyên hay đô la Đài Loan), theo thời giá lúc đó tương đương 8 tỉ đô la. Mặc dầu tình hình giữa hai bờ eo biển Formose ngày một căng thẳng nhưng ngân sách quốc phòng của Đài Loan lại giảm theo thời gian. Từ đầu thập niên 90 quốc hội dân chủ Đài Loan có nhiều thẩm quyền hơn, các vấn đề « an sinh xã hội » được đặt ưu tiên, vả lại kinh tế không được khởi sắc cho nên ngân sách quốc phòng bị cắt bớt. Ngân sách này, theo tỉ lệ % PIB, ngày một giảm. Năm 1985 ngân sách này chiếm 7,7% PIB (53% ngân sách quốc gia), năm 1990 chỉ còn 5,8% PIB (35% ngân sách quốc gia) tương đương 228,8 tỉ nguyên. Năm 2002 chỉ còn có 2,6% PIB (17% ngân sách quốc gia) tương đương 261,9 tỉ nguyên (8 tỉ $US). Ngân sách quốc phòng năm 2010 là khoảng 2,6% PIB. Nhưng chi phí cho nhân sự của bộ Quốc Phòng rất lớn, năm 2000 chiếm đến 43%, năm 2003 chiếm 47% ngân sách quốc phòng (do nguyên nhân tiền lương và hưu bỗng). Con số này những năm sau này càng lớn hơn trước. Việc này ảnh hưởng rất lớn đến chương trình hiện đại hóa quân đội cũng như việc củng cố hải quân và không quân bảo vệ đảo quốc. Hiện nay Tổng Thống Mã Anh Cửu có chủ trương « chuyên nghiệp hóa » quân đội, dự định giảm thiểu quân lực để giảm bớt chi phí về nhân sự, nhưng việc này chưa thấy thành công.

Như thế khuynh hướng tài giảm quốc phòng là xu hướng từ đầu thập niên 90 cho đến năm 2000. Từ năm 2000 đến năm 2010 chi phí không thay đổi, vào khoảng 2,6% PIB.

Về chi phí quân sự cho đảo Ba Bình có thể chia làm hai thời kỳ : thời kỳ 2000 đến 2008 và từ 2008 đến nay. Thời kỳ 2000 đến 2008, Tổng Thống Trần Thủy Biển thuộc đảng đảng Dân Tiến, vì có chủ trương « Đài Loan độc lập » do đó có những động thái cụ thể nhằm củng cố quốc phòng tại các đảo Trung Sa và Thái Bình (Ba Bình). Việc cho xây dựng phi đạo dài 1150m tại Ba Bình là một đầu tư quan trọng về chiến lược. Song song với việc này, một kế hoạch của đảng Dân Tiến, cho đến năm 2017, sẽ nâng con số tàu chiến tuần duyên (bảo vệ Ba Bình lên) 173 chiếc, trong đó có hai tuần dương hạm 3.000 tấn, với ngân sách là 28 tỉ NT, nhưng kế hoạch này đã bị chính phủ Mã Anh Cửu thuộc Quốc Dân Đảng bãi bỏ.

Trong khi đó, Quốc Dân đảng, do có khuynh hướng thống nhất với lục địa, cho nên lơ là chuyện phòng thủ. Những động thái gần đây của Đài Loan tại đảo Ba Bình phần nhiều mang âm hưởng chính trị, nhắm vào cuộc bầu cử sắp tới, hơn là toan tính chiến lược. Năm 2009 có đến 500 vụ « chạm trán » giữa tàu của Trung Quốc với tàu của Đài Loan tại vùng biển thuộc đảo Thái Bình (trong vòng 6 hải lý). Ngày 2 tháng 7 năm 2009, một tàu khảo sát cùng với 3 tàu hộ vệ của Trung Quốc đã ép một tàu cá của Đài Loan phải rời khỏi khu vực biển thuộc đảo Ba Bình. Đài Loan đã không phản đối gì về việc này. Theo một đại biểu thuộc đảng Dân Tiến cho biết, lý do im lặng của lực lượng bảo vệ bờ biển trên đảo Ba Bình, là vì họ không muốn làm ảnh hưởng đến quan hệ tốt đẹp giữa Trung Quốc và chính phủ Mã Anh Cửu. Một khám phá khác, quân đội phòng thủ trên đảo Trung Sa không còn viên đạn đại bác nào trong vòng một thời gian dài vào năm 2010. Việc này cũng do một dân biểu đảng Dân Tiến tố giác. Từ khi nắm quyền đến nay TT Mã Anh Cửu chưa thấy có động tác cụ thể nào có lợi lâu dài về chiến lược tại đảo Ba Bình.

Do đó, các động thái vừa rồi của Đài Loan liên quan đến các đảo Trung Sa, Ba Bình, phần nhiều do động lực chính trị của nhân sự các đảng cầm quyền nhằm khai thác khối cử tri có khuynh hướng độc lập, hơn là tuân theo một chiến lược quốc phòng hữu hiệu.

Về giả thuyết các yếu tố có thể lôi kéo Đài Loan vào chiến tranh đã ghi ở trên, giả thuyết thứ ba sẽ có thể xảy ra nếu trữ lượng dầu khí vùng Biển Đông được xác định là to lớn. Hiện nay giả thuyết thứ 3 có nhiều sác xuất sẽ xảy ra hơn cả.

Việc tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa ngày càng gay gắt do khuynh hướng bá quyền cũng như sự lớn mạnh về kinh tế và quân sự của Trung Quốc. Để tranh dành tài nguyên, Bắc Kinh có thể gây chiến tranh bất cứ lúc nào với các nước có tranh chấp trong vùng, nhất là Việt Nam và Phi Luật Tân. Việc phát động chiến tranh sẽ lôi kéo nhiều nước trong vùng vào cuộc chiến, mà phần nhiều xác suất sẽ có mặt của Hoa Kỳ, do đó Trung Quốc không muốn đụng độ vì nguy cơ thất bại. Bài toán của Trung Quốc do đó là làm thế nào để khai thác năng lượng ở các vùng biển thuộc Trường Sa mà không khơi mào chiến tranh? Vừa qua, đầu tháng 3 năm 2011, Trung Quốc cho tàu chiến uy hiếp tàu thăm dò của Phi Luật Tân đang hoạt động trong vùng biển thuộc bãi Cỏ Rong, cách bờ Palawan khoảng 200km. Trung Quốc cũng đã làm nhiều lần tương tự như thế với Việt Nam từ năm 1995 ở vùng Tứ Chính – Vũng Mây, hay làm áp lực với các công ty khái thác Exxon-Mobil và BP phải hủy bỏ hợp đồng khai thác với VN, năm 2008, mặc dầu các lô ở đây thuộc bồng trũng nam Côn Sơn, chỉ cách bờ biển VN có khoảng 250km. Phải chăng TQ đã tự tin vào sức mạnh quân sự của họ, nhất là tháng 11 tới, chiếc hàng không mẫu hạm (Thi Lang) sẽ đưa vào hoạt động ở vùng biển Đông? (Điều cần nhắc nhở Thi Lang là tên của một vị đô đốc hải quân tài ba đã giúp nhà Thanh tiêu diệt được tàn quân của Trịnh Thành Công tại Đài Loan và thâu hồi đảo này vào đế quốc Trung Hoa. Việc đặt tên cho chiếc tàu như thế là có tính toán mà mục tiêu nhắm vào Đài Loan.)

Tuy nhiên người ta không loại trừ một khả năng khác, Trung Quốc sẽ « có phần » của họ tại vùng biển Trường Sa mà không gây chiến tranh lớn lao. Đó là trường hợp TQ chiếm đảo Ba Bình hiện nay do Đài Loan chiếm đóng. Việc này có thể thành công nếu có sự thỏa thuận ngầm giữa Trung Quốc và Việt Nam, mà điều này có thể thành hiện thực nếu TQ nhượng bộ phần nào cho VN ở vấn đề Hoàng Sa. Giả thuyết này sẽ có lợi cho Trung Quốc. Với quyền chủ quyền tại Ba Bình, TQ có thể đòi hỏi một vùng biển ZEE khá quan trọng, vì đây là đảo lớn nhất Trường Sa. Trong khi Đài Loan với tư cách là một đảo quốc  không được nước nào công nhận, các đòi hỏi của Đài Loan về vùng biển chung quanh thì không thuyết phục, mặc dầu họ chiếm hữu thực sự đảo Ba Bình. Vì Đài Loan chỉ được xem như là một phần của lục địa. Những vùng lãnh thổ của Đài Loan sẽ dễ dàng được các nước khác chấp nhận thuộc Trung Quốc.

Sự lo ngại của Đài Loan do đó là có căn cứ, nếu tuyên bố của TT Nguyễn Tấn Dũng về một « thỏa thuận » đã được ký kết giữa VN và TQ, theo như nguồn tin của chính phủ Đài Loan công bố, là có thật. Đài Loan hiện nay kiểm soát các đảo Kim Môn, Mã Tổ, các đảo Bành Hồ, Wuchiu, Trung Sa (Pratas) và Thái Bình (tức đảo Ba Bình). Các đảo Kim Môn đối diện Hạ Môn, cách bờ lục địa chỉ vài hải lý. Các đảo Mã Tổ đối diện hải cảng Phúc Châu, chỉ cách bờ biển lục địa cũng chỉ có vài hải lý. Trong quá khứ, quân Tưởng Giới Thạch đã từng đụng độ nẩy lửa với giải phóng quân của Mao Trạch Đông tại các đảo Kim Môn và Mã Tổ, lần thứ nhất vào tháng 10 năm 1949, lần hai vào tháng 8 năm 1954 đến tháng 4 năm 1955 và lần ba vào tháng 8 năm 1958. Mỗi lần như thế hai bên dàn vài chục ngàn quân để chiến đấu. Cả ba lần quân họ Tưởng, dưới sự ủng hộ của Hoa Kỳ, đã đẩy lui được quân Trung Hoa lục địa. Quan hệ hiện nay giữa Đài Loan và Hoa Kỳ được nối kết qua hiệp ước « Taiwan Relation Act », theo đó Hoa Kỳ có thể bảo vệ và cung cấp vũ khí cho Đài Loan nếu đảo bị tấn công. Nhưng nội dung kết ước không có bảo đảm an ninh cho các đảo ở xa. Nếu Trung Quốc tấn công Ba Bình với lý do « thống nhất đất nước », có thể Hoa Kỳ sẽ đứng ngoài.
3/ Yếu tố chính trị : Trong lúc nhà nước Đài Loan (thuộc phe Quốc Dân đảng) ra tuyên bố và có một số động thái liên quan đến biển Đông, thì tại đảo quốc đang khai mào cho cuộc tranh cử tổng thống và quốc hội vào tháng 2 năm tới. Kỳ này bầu cử quốc hội và tổng thống sẽ được tổ chức cùng ngày. Hiện nay các ứng cử viên tổng thống của hai đảng Dân Tiến và Quốc Dân Đảng đang trong thời điểm vận động nội bộ để được đảng đề cử. Đảng Dân Tiến có 3 ứng cử viên trong khi phe Quốc Dân Đảng có đến 40 ứng cử viên. Các ứng cử viên thuộc đảng Dân Tiến vừa qua có tranh luận trước công chúng (qua màn truyền hình) về các chương trình của họ (sẽ áp dụng nếu đắc cử). Các cuộc thăm dò sau cuộc tranh luận cho thấy hai ứng cử viên có khuynh hướng « độc lập », người thứ nhứt chủ trương « Đài Loan là một con rồng trong biển xanh thay vì là một con cua bám vào sườn của Trung Quốc », người thứ hai chủ trương Đài Loan không nên phụ thuộc về kinh tế đối với Trung Quốc, được nhiều sự ủng hộ của quần chúng. Tỉ số dân chúng ủng hộ cho hai ứng cử viên này lên trên 90%. Trong khi ứng cử viên còn lại có khuynh hướng cộng tác về kinh tế với TQ thì tỉ số ủng hộ của quần chúng rất thấp. Nhưng qua các cuộc thăm dò này phe Quốc Dân đảng đã nắm được khuynh hướng chung của dân chúng hiện nay, đó là bớt phụ thuộc về kinh tế đối với Trung Quốc. Nhưng hậu quả của hiệp ước về kinh tế do chính phủ Mã Anh Cửu đã ký kết với Bắc Kinh hồi năm ngoái cho thấy sự lệ thuộc của Đài Loan vào Trung Quốc đã vượt mức báo động. Trong chừng mực, các động thái của Đài Loan đều bị Trung Quốc chi phối, kể cả vấn đề sinh tử là an ninh, quốc phòng.

Như thế, phản ứng của nhà nước Đài Loan về HS và TS vừa qua đã ảnh hưởng nặng nề âm hưởng chính trị, hơn là một quyết định chiến lược. Do đó, tính trung thực của bản tin cho rằng TT Nguyễn Tấn Dũng ký kết với TQ một thỏa thuận cơ bản về việc giải quyết tranh chấp biển Đông có thể thiếu trung thực. Vấn đề là hiện nay ai có khả năng, hay thẩm quyền, xác định là có hay không, thỏa thuận này ?

Cũng nên nhắc lại, Đài Loan từ năm 2000 đến 2010, tổng thống là ông Trần Thủy Biển, thuộc phe Dân Tiến. Đảng Dân Tiến thắng Quốc Dân Đảng liên tục hai nhiệm kỳ. Trong hai nhiệm kỳ này, về mọi mặt không có gì phải chê trách người lãnh đạo.

Trong khu vực, thời điểm thập niên 2000, ngoại trừ Trung Quốc, tăng trưởng kinh tế của Đài Loan tương đương với Hàn Quốc, từ 4 đến 6 % cho những năm qua, trong khi Nhật Bản chỉ tăng trưởng từ 1% đến 2%/ năm.

Tăng trưởng GDP năm 2007 của Đài Loan là 5,7%. Chỉ số thất nghiệp là 3,94% (tháng 3 năm 2008). Chỉ số thất nghiệp năm 2000, vào năm đảng DPP lên nắm quyền là dưới 3%. Trong 8 năm do đảng DPP cầm quyền, thất nghiệp chỉ tăng 1% là con số xem ra rất nhỏ so với các nước tiên tiến trên thế giới cùng thời gian này trước hấp lực mạnh của Trung Quốc về công nhân giá rẻ. Đài Loan ít bị ảnh hưởng về việc này so với các nước Âu-Mỹ, mặc dầu các xí nghiệp cần nhiều công thợ tại đây lần lượt đóng của để đầu tư sang Trung Quốc. Mức độ lạm phát của Đài Loan cũng tương đối thấp, tương tự Đại Hàn, đầu năm 2008 khoảng 3%, trong khi Trung Quốc chỉ số này lên đến hơn 8%.

Một nhà cầm quyền tài giỏi khác cũng khó có thể làm khá hơn ê kíp Trần Thủy Biển. Lý do chính đem lại thất cử của ứng cử viên Tạ Đình Trường thuộc đảng Dân Tiến là sự nhàm chán của người dân đối với đảng cầm quyền.

Phe Quốc Dân đảng, lúc đưa Mã Anh Cửu ra tranh cử, khẩu hiệu của phe này là chấn hưng kinh tế; việc này phục vụ cho ba đối tượng : 1/ người dân, 2/ phát triển cơ sở hạ tầng và phát triển công nghiệp 3/ đưa Đài Loan ra thế giới.

Nhưng sau khi thắng cử, chính sách « chấn hưng kinh tế » của họ Mã cho thấy có nhiều điều không thể thực hiện được. Đây là một khẩu hiệu thuần túy kinh tế. Mức độ phát triển kinh tế hàng năm của Đài Loan dưới thời Trần Thủy Biển vào khoảng 5%, là con số tương đối cao cho vùng Đông Á. Phát triển kinh tế của Đài Loan vào năm 2009, hai năm dưới sự lãnh đạo của Mã Anh Cửu, chỉ đạt vào khoảng 2,5%, ở dưới mức rất xa con số « qui chiếu » 5% của ê-kíp Trần Thủy Biển. Năm 2006 kim ngạch mậu dịch hai bên bờ eo biển Formosa đạt được 107,8 tỉ đô la, lục địa nhập siêu 66,4 tỉ. Năm 2007 khuynh hướng này giảm, 8 tháng đầu năm số nhập siêu của lục địa là 33,5 tỉ.

Trong khi đó, việc « đưa Đài Loan ra thế giới » cũng không có kết quả thuyết phục, ngoại trừ việc Đài Loan được đặt đại diện tại OMS (Tổ chức Y tế thế giới, thuộc LHQ), nhờ việc TQ không chống đối. Ông Trần Thủy Biển đã thất bại trong việc vận động cho Đài Loan gia nhập các định chế quốc tế, mặc dầu Đài Loan – như những quốc gia khác - có những vấn đề cũng như khả năng đóng góp cho các tổ chức, như OMS. Mã Anh Cửu đã thành công (ở điểm Trần Thủy Biển thất bại) vì Quốc Dân Đảng và đảng Cộng Sản Trung Quốc có cùng một quan điểm « một nước Trung Hoa ». Trong khi phe Dân Tiến có chủ trương độc lập. Do đó, phe lục địa vì vậy có khuynh hướng ủng hộ các ứng cử viên thuộc Quốc Dân Đảng.

Lo ngại sẽ thất cử ở các cuộc bầu cử về quốc hội và tổng thống kỳ tới, do việc không thực hiện được các cam kết với người dân, do đó chính phủ Mã Anh Cửu quyết định ký hiệp ước thương mãi với lục địa. Kết quả việc này làm cho kinh tế Đài loan tăng trưởng 10% trong năm 2010. Nhưng việc tăng trưởng này Đài Loan sẽ phải trả giá rất đắt, vì tình trạng lệ thuộc vào lục địa đã vượt qua mọi mức báo động.

Các cuộc thăm dò sau buổi tranh luận về chương trình hành động của các ứng cử viên Dân Tiến cho thấy khuynh hướng của người dân tại đảo. Vì thế, có lẽ động thái khá ồn ào vừa qua của chính phủ Mã Anh Cửu về việc HS và TS, chỉ là một « thủ thuật chính trị » nhằm vào việc lấy phiếu.

Một chi tiết quan trọng khác trong cuộc thăm dò sau buổi tranh luận giữa các ứng cử viên Dân Tiến, đó là khuynh hướng « độc lập » của dân Đài Loan không giảm, mặc dầu nhiều năm qua Đài Loan và lục địa đã có những thông thương ngoài kinh tế khá chặt chẽ. Tình trạng đàn áp dã man những tiếng nói đối lập hay tình trạng xã hội bất ổn của lục địa đã khiến dân Đài Loan muốn đi « con đường riêng » của mình. Nhưng thực hiện việc này sẽ rất nhiêu khê, khiến dân Đài Loan trả giá đắt về phát triển kinh tế, chưa nói việc phải đương đầu với lục địa về quân sự (do luật chống ly khai của TQ).

Cuộc bầu cử tổng thống Đài Loan năm 2008 có kèm theo cuộc « trưng cầu dân ý ». Trưng cầu dân ý có hai đề nghị chính (national proposal số 5 và số 6) được hai đảng QDD và DPP đưa ra, đó là : đề nghị 5/ mong muốn vào Liên Hiệp Quốc dưới tên mới là Đài Loan và đề nghị 6/ mong muốn trở lại Liên Hiệp Quốc dưới tên cũ là Cộng Hòa Dân Quốc (République de Chine) với tên gọi là Đài Loan. Kết quả đề nghị 5 được 5,53 triệu phiếu và đề nghị 6 được 4,96 triệu phiếu. Cả hai kết quả này đều đã không đạt được mức ấn định 50% số phiếu (8,66 triệu phiếu) nên bị loại. Nhưng để ý, cả hai đề nghị này thực ra có chung một nội dung : xin vào Liên Hiệp Quốc. Sự khác biệt của hai phe QDD và DPP là cái nhìn chiến lược. Như thế kết quả của cuộc trưng cầu dân ý cho thấy có khoảng 80% dân Đài Loan chủ trương đảo quốc này gia nhập Liên Hiệp Quốc.

Khuynh hướng này đến nay tăng lên 90%, nếu đồng nhất ý muốn « Đài Loan gia nhập LHQ » năm 2008 với ý muốn « Đài Loan là con rồng thay vì là con cua bám sườn Trung Quốc » hay « Đài Loan bớt lệ thuộc kinh tế với lục địa ».

Do đó, để không bị thất cử ở quốc hội và giữ được ghế tổng thống, phe Quốc Dân Đảng cần có những điều chỉnh « chiến lược » về các vấn đề liên quan đến lục địa. Vấn đề này hiện nay là gì nếu không phải là vấn đề tranh chấp biển Đông ? Nhưng sự lơ là của phe Quốc Dân Đảng từ nhiều năm qua, một mặt về ngoại giao do không thuyết phục được các nước tranh chấp khác để Đài Loan được xem như là một đối tác bình đẳng, mặt khác về an ninh quốc phòng do việc quá thân cận với Bắc Kinh, vấn đề phòng thủ không còn là ưu tiên ở các đảo Ba Bình hay Trung Sa. Các việc này không chỉ khiến Quốc Dân đảng trả giá đắt trong kỳ bầu cử tới, mà có thể làm cho Đài Loan mất quyền kiểm soát tại các đảo này.

4/ Kết luận : Cho dầu là động thái của chính phủ Mã Anh Cửu bất kỳ là gì, do ảnh hưởng chính trị hay do toan tính chiến lược dài hạn, vấn đề Đài Loan đối với Việt Nam không phải là một việc hệ trọng, như là « vấn đề » Trung Quốc. Hiện nay một cách rõ rệt, VN đang đu dây giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc với món hàng trao đổi là việc « hợp tác quân sự ». VN hy vọng TQ nhượng bộ trên vấn đề tranh chấp HS và TS. Việc VN « nghiêng » về phía TQ như hiện nay cũng có thể là do hệ quả của các cuộc cách mạng dân chủ ở các xứ Bắc Phi và Ả Rập. VN ra tay đàn áp, bắt bớ những người bất đồng chính kiến với một mức độ hung bạo và ngang ngược, khiến Hoa Kỳ và Châu Âu lên tiếng chỉ trích. VN có thể sẽ hợp tác sâu đậm hơn với TQ về vấn đề an ninh và quốc phòng, nhằm mục đích tìm sự ủng hộ cho chế độ. Điều này cũng răn đe Hoa Kỳ không được chỉ trích thái quá, khiến VN ngả vào tay TQ, là điều mà HK không muốn thấy.

Nhưng những toan tính này chỉ có tính cách giai đoạn, gà què ăn quẩn, chỉ nhằm cứu đảng CSVN trong cơn khủng hoảng mới, chứ không là một giải pháp dài hạn, chiến lược, có lợi ích cho dân tộc và đất nước VN. Nhưng hậu quả sẽ rất khủng khiếp, nếu VN ngả về phía TQ. Một sự sụp đổ hay khủng hoảng chính trị ở TQ sẽ đưa đến sụp đổ toàn diện ở VN, việc này có thể đưa VN về thời kỳ bán khai, man rợ. Trong khi đi với HK, với những tính toán dài hạn, về kinh tế cũng như an ninh quốc phòng, VN có thể bảo vệ chủ quyền của mình ở các đảo HS và TS vừa phát triển đất nước. Nhưng việc « đi » với HK đòi hỏi VN phải dân chủ hóa chế độ. Việc này có thể giới hạn bớt quyền lực của đảng CSVN. Nhưng nó không đem lại các hệ quả sụp đổ toàn chế độ như việc ngả về TQ.

Trương Nhân Tuấn

1   2

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét