Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2011

NÓI CHUYỆN VỚI NGUYỄN ĐỨC QUANG - Tâm Thức Dân Tộc và Phong Trào Du Ca 1966 - 1975 (1)

Hoàng Khởi Phong (ghi)

1- Chúng tôi quen biết với nhau đến nay là 15 năm chẵn. Mới đó mà một thời gian dài như thời gian của nàng Kiều phải truân chuyên trong các thanh lâu đã bị bỏ lại đằng sau tuổi trẻ của chúng tôi. Mới đó mà cả hai chúng tôi nhẩy một cái từ những năm cuối của tuổi “tam thập nhi lập”, vọt tới tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh”.

Quả là cả hai chúng tôi đều lập chí rất sớm, từ trước khi bước vào tuổi ba mươi, nhưng bước vào tuổi năm mươi, chúng tôi rất mù mờ về thiên mệnh của chính chúng tôi, huống hồ thiên mệnh của nhiều con người, của một đoàn thể, của cả một dân tộc thì hoàn toàn nằm ngoài khả năng suy nghĩ của chúng tôi. Khi nói chúng tôi lập chí rất sớm, chúng tôi không có một chút kiêu ngạo nào. Bởi vì năm 22 tuổi anh đã có tác phẩm, một số không ít những ca khúc đủ hoàn thành tập “Trầm Ca”. Anh đã là một trong những nhân vật đầu não, thành lập và điều hành một đoàn thể sinh hoạt có ảnh hưởng suốt bốn Vùng Chiến Thuật. Phần tôi, bắt đầu viết văn, làm thơ từ năm 20 tuổi, có tác phẩm đầu tay vào năm 24 tuổi, tất nhiên tôi cũng có cái chí của tôi trên con đường văn nghiệp.

Lẽ ra chúng tôi có thể gặp nhau sớm hơn mươi, mười lăm năm, nhưng cuộc chiến đẩy chúng tôi mỗi người về một phương, thành thử trên cái phần đất miền Nam của tổ quốc, chúng tôi tuy cùng một hàng ngũ, cùng xê dịch như những con thoi mà không có cơ duyên gặp gỡ.

Mãi cho tới mười lăm năm sau, chiến tranh đã tàn, anh và tôi cùng đứng chung trong một chiến tuyến bị đổ vỡ. Chúng tôi cùng là những kẻ chạy trốn tổ quốc của mình. Tôi thoát đi được ngay từ khi phần đất miền Nam ngã quỵ, năm năm sau anh ra khỏi nhà tù, vượt biên cùng gia đình một vợ hai con, cư ngụ tại một địa chỉ có tên là Pulau Bidong một thời gian, trước khi chúng tôi gặp gỡ nhau nơi quê người. Mãi cho tới thời điểm đó, chúng tôi mới có cơ hội gặp nhau trong một góc nhỏ của xứ người. Góc nhỏ xứ người đó có tên là Little Saigon, anh tên là Nguyễn Đức Quang, và phong trào anh góp toàn bộ cái sung mãn của tuổi hai mươi có tên là “Phong Trào Du Ca”.


Anh tiếp tôi trong tòa soạn của tờ báo do anh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút: Tờ “Viễn Đông Kinh Tế Thời Báo”. Cả hai chúng tôi là những người ít chú ý tới hình thức, không câu nệ tiểu tiết. Câu chuyện ba mươi năm cũ dường như đã làm cho có một lúc nào đó, tuổi thanh xuân từ quá khứ vọng về, tràn đầy căn phòng. Trong phòng riêng của anh, chúng tôi bỏ giầy tháo vớ, gác chân lên bàn, tất nhiên để nói về tuổi trẻ của chính chúng tôi, thì nào có gì mà phải nghiêm trang đạo mạo. Bằng một giọng nói mạch lạc, anh nói về tuổi thơ của anh. Anh có một tuổi thơ khá đặc biệt, một tuổi thơ tiền định cho đời sống “Du Ca” sau này của anh. Khi nói về tuổi thơ mắt anh nhìn qua cửa sổ, như lạc vào một cõi xa xăm nào đó: “Nguyễn Đức Quang là tên thật do cha mẹ đặt cho...

2- ...Tôi sinh năm 1944, tại Sơn Tây. Nơi tôi sinh ra hình như có núi Tản, sông Đà, do đó trước khi tôi ra đời có một bút hiệu Tản Đà, một hào quang khá rực rỡ do cây bút này phát ra trong tiền bán thế kỷ 20. Đất này chính là một trong những địa danh phát tích của nước Việt. Sông và núi đó trôi trong dòng lịch sử Việt Nam, và đã sản xuất không biết bao nhiêu là anh hùng, liệt nữ, danh nhân. Nói như thế không có nghĩa là tôi hỗn, dám ví mình với các tiền bối. Tôi làm một số công việc trong đời sống của tôi. Định giá nó là những người đồng thời với tôi. Cũng có thể sau này khi nhắc tới phong trào du ca, những lớp người sau tôi có thể sẽ đánh giá những đóng góp của phong trào, và của riêng tôi với xã hội đương thời.

Trước và sau Tản Đà, cũng từ đất này dấy lên những tên tuổi lẫy lừng khác. Tôi xin kể những người sau thi sĩ của núi Tản, sông Đà và trước tôi, những người rất gần với chúng ta, những người mà bất cứ ai sinh hoạt trong lãnh vực văn học nghệ thuật đã có đôi lần nghe danh, biết tiếng: Một thi sĩ Quang Dũng với những bài thơ tiền chiến tuyệt tác. Một Phạm Đình Chương, người đưa thơ của Quang Dũng vào nhạc. Đây chỉ là hai ví dụ nhỏ của các danh sĩ cận đại đất Sơn Tây. Tất nhiên địa linh sinh nhân kiệt, nhưng mà bên cạnh những con người kiệt hiệt này, cũng không thiếu gì những con người khi nhắc đến làm cho người đồng hương xấu hổ. Thế cho nên tôi xin miễn nhắc đến những vị này, tuy họ có lưu tên trong sử sách.

Cha tôi là một công chức trong ngành giáo dục. Tôi không có ý đề cao cha tôi, nhưng có lẽ ông là người không thích những điều gò bó, nên thay vì làm một nhà giáo định cư tại một chỗ, có lợi cho việc học hành của chúng tôi. Tôi không hiểu vì sao ông xê dịch rất nhiều nơi. Tôi nhớ ngày tôi còn nhỏ xíu, tôi đã theo ông đi làm việc tại Chapa, tuốt nơi biên giới Hoa Việt. Thế rồi vài năm sau, một thời gian ngắn trước cuộc di cư vĩ đại của gần một triệu người từ Bắc vào Nam, cha tôi đổi vào làm Tổng Thư Ký cho Bộ Giáo Dục trong Sài Gòn, thành thử vô hình chung gia đình tôi di cư trước. Mới tháng Tư năm 1954, gia đình tôi đã có mặt tại Sài Gòn. Tôi không có cơ hội làm một chứng nhân nhỏ bé của biến cố lịch sử này. Thời gian này tôi theo học tại Trường Trung Học Tư Thục Huỳnh Khương Ninh, Tân Định. Tôi nhớ là trường này dậy chương trình Pháp, mà tôi chữ Tây, chữ U đâu có bao lăm, thành thử cứ chúi đầu vào học. Thật đúng là học như cuốc kêu mùa hè.

Năm 1958, cha tôi lại đổi ra làm Trưởng Ty Tiểu Học ngoài Côn Đảo. Lạ một điều là đi đâu ông cụ cũng lôi tôi theo. Năm đó tôi đã lên Trung Học được hai năm, mà tại Côn Đảo thì trường học chỉ có tới lớp Nhất, thành thử suốt ngày tôi lêu bêu nơi đầu ghềnh cuối bãi. Trong đời tôi có lẽ chưa có nơi nào bãi biển đẹp như Côn Sơn, đã thế hòn đảo lại không có gì là to, và lại không bị đi học. Thử hỏi tuổi thiếu niên đã có ai sướng hơn tôi trong giai đoạn này. Đến bây giờ tôi còn nhớ được vài địa danh tại hòn đảo ngục tù này.

Những địa danh này luôn luôn kèm theo một vài cố sự của các danh nhân Việt Nam, đặc biệt là những người chống Pháp, thông thường có ghi danh trong những trang sử cận đại, và bị lưu đầy ra ngoài này.

Suốt ngày tôi thơ thẩn, lang thang theo các tù nhân được làm việc bên ngoài khu giam. Tôi đã tần ngần tại một nơi gọi là Ma Thiên Lãnh, nơi có mộ chôn ông Nguyễn An Ninh. Tôi đã nghịch ngợm tại một địa danh là Hòn Đá Trắng, nơi các ông Nghè Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng đã từng đập đá làm đường, và một trong hai cụ (tôi không nhớ cụ nào) đã cảm tác bài thơ Đập Đá Côn Sơn. Cũng nơi này, xưa hơn một thời gian ngắn là chỗ lưu đầy các yếu nhân của Đông Kinh Nghĩa Thục như các cụ Huấn Quyền, Lê Đại, Dương Bá Trạc, Võ Hoành... Hai, ba chục năm sau, vào những năm của thập niên 40, đây cũng là chỗ mà Lê Duẫn, cùng hàng trăm đồng chí, những người tiền phong của Đảng Cộng Sản Việt Nam bị Thực Dân Pháp cầm tù tại đây. Lúc đó tôi là một thiếu niên hiếu động, tò mò nghe các tù nhân nói về đủ thứ tù nổi danh của hòn đảo này.

Cha tôi thấy tôi chơi suốt ngày, nên ông cụ mang mấy người tù thường phạm, có học lực cao về dậy tôi Anh và Pháp Văn (Trong số những người này có nhạc sĩ Hoàng Nguyên, lúc đó cũng bị tù vì hoạt động chính trị. Tôi không học Hoàng Nguyên, và sau này trời lại dun dủi để trở thành một người bạn thân với Hoàng Nguyên, vì cả hai chúng tôi cùng sinh hoạt trong ngành Nhạc).

Năm 1959 cha tôi đổi về Đà Lạt, đây là lần thứ hai, lần thứ nhất từ năm 1928 khi tôi chưa ra đời. Tôi theo học trường Bồ Đề cho tới năm 61 mới vào học tại Trường Trung Học Trần Hưng Đạo, một trường công lập lớn nhất của tỉnh Đà Lạt. Năm 1964 tôi đậu Tú Tài, và theo học Khóa I Chính Trị Kinh Doanh của Viện Đại Học Đà Lạt, khi ngành này vừa mới thành lập.

3- Đời nhạc của tôi có một bước rẽ quan trọng: Đó là lần gặp gỡ với anh Phạm Duy. Trước khi gặp anh Phạm Duy, tôi đã có soạn khá nhiều ca khúc. Tôi có một nhóm bạn học thật thân trên Đà Lạt, cùng ngồi một năm, chia sẻ với nhau từ những điều nhỏ nhặt trong lớp cho tới những điều lớn hơn như đời sống. Cái đó cũng không có gì là lạ, bởi vì Đà Lạt là một thành phố yên tĩnh quá. Chúng tôi đang ở vào cái tuổi thành niên, tương đối là những người mà xã hội Việt Nam tạm gọi là có học. Chúng tôi học hành với nhau, chơi đùa với nhau, ca hát với nhau và làm việc với nhau.

Dưới bóng của những cội thông già, cái mầm âm nhạc của riêng tôi, làm như được tiếng thông reo réo gọi, và dần dần hình thành trong tôi một con người sáng tác. Các bạn trong nhóm tôi không có ai sáng tác, chỉ có mình tôi làm nhạc, hát cho các bạn tôi nghe. Chỉ lạ một điều: Tôi không đi vào những con đường cũ của các nhạc sĩ đàn anh. Hầu hết những người làm thơ, viết nhạc đầu đời là những bài thơ tình, nhạc tình, và sống mãi với dòng nhạc đó. Phần tôi, sau những ngày tập tễnh với nhạc tình trẻ con, tôi quay hẳn sang một hướng khác không có mấy người làm. Nhạc của tôi sau này người ta gọi là nhạc cộng đồng, nhạc sinh hoạt, hay là một loại nhạc nào đó, một thứ tình cảm khác, một thứ tình cảm không phải chỉ dành cho hai người đang yêu nhau, mà là một thứ tình cảm thiết tha nói lên cái liên hệ giữa vùng đất và con người.

Nhóm chúng tôi tham gia nhiều công tác xã hội, Đầu năm 1965, chúng tôi dự phần vào một công tác dài ngày. Chúng tôi dựng 200 căn nhà cho đồng bào Thượng, nạn nhân chiến cuộc. Trại Suối Thông, lập ở Phi Nôm, và nhóm chúng tôi phải nằm tại đây trong hai tháng trời. Giữa năm 1965, nhóm chúng tôi tham gia một trại khác của sinh viên toàn quốc. Địa điểm sinh hoạt là Thạnh Lộc Thôn. Trại có tới hai, ba trăm trại viên, lập thành một địa điểm như một cái làng nằm trong tỉnh Bình Dương. Chính trong kỳ sinh hoạt này tôi được gặp nhạc sĩ Phạm Duy.

Dịp này nhạc sĩ Phạm Duy đến sinh hoạt với toàn thể sinh viên chúng tôi. Ông đang làm loạt nhạc mới mà ông gọi là 10 bài Tâm Ca, lúc đó mới chỉ xong có 7, 8 bài. Ông hát những ca khúc này, và tôi bị choáng ngợp bởi nhạc và lời của những bản Tâm Ca này. Ông hát một hơi năm bản, và trong giờ nghỉ của ông, tôi được anh em của nhóm tôi đẩy ra trình diễn một số ca khúc của tôi. Chỉ là vài bài ca sinh hoạt mà thôi.

Tôi bị nhạc của Phạm Duy hớp hồn như thế nào, thì ông ngạc nhiên về những ca khúc của tôi như thế. Sau đó hai bên gặp gỡ, với Phạm Duy, ông cho tôi là một khám phá mới. Nó khác hẳn những dòng nhạc của những người đi trước và cùng thời với ông. Do đó Phạm Duy đề nghị mỗi tuần gặp nhau một lần vào tối Thứ Năm, để hát cho nhau nghe những sáng tác mới. Nếu không có sáng tác mới thì đàm đạo chuyện văn nghệ. Tôi đã trình bầy cho Phạm Duy nghe toàn bộ những ca khúc trong tập Trầm Ca. Nội dung những ca khúc trong tập nhạc này, là đặt vấn đề thanh niên đối với vận mạng đất nước, đưa ra những suy nghĩ của tuổi trẻ như những sáng tác trong bài ”Nỗi Buồn Nhược Tiểu” hay ”Tiếng Hát Tự Do” hay “Lìa Nhau”, và ban Trầm Ca đã ra đời trong dịp này, với thành phần nồng cốt là phần lớn bạn bè ở Đà Lạt. Mà những người bạn này không bao giờ là ca sĩ, họ chỉ là những thanh niên thích sinh hoạt, yêu lý tưởng chung. Từ đó chúng tôi được đi hát với Phạm Duy.

Chúng tôi tạo được một ảnh hưởng khá lớn. Cuối năm 1965, nhóm chúng tôi được mời tham dự các sinh hoạt các kỳ trại, và đặc biệt là các khóa huấn luyện thanh niên, của các hội đoàn thanh niên tại khắp bốn Quân Khu. Giai đoạn này nghĩ lại là một giai đoạn lạ lùng nhất. Chúng tôi làm việc như điên cuồng, sáng tác, tập tành, đi trình diễn, đi huấn luyện. Chúng tôi không còn biết đến một điều gì khác ở cái tuổi 20 lúc đó. Tôi không hiểu nhóm tôi sống bằng cách gì, chỉ biết nghề của tôi là ”Vác Ngà Voi” và địa điểm hành nghề là khắp Bốn Vùng Chiến Thuật. Hễ có nơi nào ”Ới một tiếng”, là chúng tôi khăn gói lên đường. Về phương tiện di chuyển thì nơi nào ới, nơi đó chịu trách nhiệm. Còn ăn uống thế nào cũng xong, ngủ nghê chỗ nào mà chả được. Giai đoạn này một số bạn bè đã phải đóng góp cho nhóm của chúng tôi có một chút tiền dằn túi, mỗi khi đi xa.

Năm 1965, tôi mới 21 tuổi, mới xong năm thứ I Đại Học, ai cũng tưởng rằng đời mở ra cho chúng tôi những con đường thênh thang. Thế hệ chúng tôi quả là có muôn vạn ngả đường. Có điều chúng đồng quy tại vài điểm: Đó là các quân trường, bởi vì chiến tranh đã mỗi ngày mỗi trở nên khốc liệt. Những chuyến ăn cơm nhà, vác ngà voi đó bề gì cũng cho chúng tôi một cơ hội nhìn ngó lại mặt mày của chính chúng tôi, và đồng thời chúng tôi cũng có cơ hội được nhìn ngó cái mặt trái của chiến tranh, và của dân chúng Việt Nam ở những chỗ giáp vòng lửa đạn, và tận cùng khổ đau.

Chúng tôi đã nhìn thấy những ngôi nhà tan hoang, những thôn xóm trống trải, những làng mạc tiêu điều và đặc biệt là những đôi mắt vô hồn của con người, sau khi chiến trận như một cơn lốc tràn qua. Chính những chuyến đi này, đã thổi vào tâm hồn tôi những trận gió nóng hừng hực. Những sáng tác của tôi, nếu anh để ý thì hình như ít có những hoa và bướm, chỉ toàn là những tiếng kêu. Nhiều khi tôi muốn rú lên trong những ca khúc của tôi. Những thanh âm của sự khổ đau làm sao mà êm ả được. Trong những vùng tương đối có an ninh, nơi các thành phố tôi bắt gặp những hình ảnh đau lòng khác của chiến tranh: Những hố ngăn cách giữa giầu và nghèo, những bất công, những sa đọa của một xã hội trong thời chiến... Đó là một trong những lý do khiến những ca khúc của tôi có được những hình ảnh, tâm tình và những suy nghĩ mới sống động, sát với thực tế xã hội. Những hình ảnh đó hầu như ai ai cũng bắt gặp trong đời sống hàng ngày, nó quen thuộc đến độ nhàm chán, nhưng chưa có một ai dùng âm nhạc để ghi lại. Chính vì vậy mà nhạc sĩ Phạm Duy coi tôi là một khám phá mới.

Suốt hơn một năm trời đi và sinh hoạt như thế, tổng kết lại có hơn ba mươi tỉnh liên lạc với nhóm chúng tôi, tự động đề nghị giúp họ tiếp tục có điều kiện sinh hoạt, có bài hát, có trò chơi, có công tác xã hội, lập thành một đơn vị gì đó. Đó là một kết quả đầy xúc động, và bởi vậy chúng tôi không ngừng lại được. Những sợi dây liên lạc đầu tiên này chính là những mắt lưới chắc chắn, và nương vào đó phong trào du ca hình thành. Chúng tôi phải nghĩ đến một địa chỉ để liên lạc, một nơi chốn để sinh hoạt, một tổ chức nhân sự để điều hành guồng máy.

Giải quyết những vấn đề này xong thì phong trào du ca chính thức có giấy phép hoạt động từ năm 1966. Nhưng thật ra nó đã sớm có mặt với đời từ đầu năm 1965. Khi phong trào đã có một danh xưng, bên cạnh những người bạn của nhóm chúng tôi từ ngày còn ở Đà Lạt, như Đinh Gia Lập, Hoàng Kim Châu, Nguyễn Quốc Văn, Phương Oanh, Trần Trọng Thảo, ngay lập tức nó quy tụ được những khuôn mặt khác: Ngô Mạnh Thu, Đỗ Ngọc Yến, Hoàng Ngọc Tuệ... là vài khuôn mặt quen thuộc có mặt với du ca ngay từ khi trứng nước này.






Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét