Thứ Năm, 14 tháng 4, 2011

GIÓ MÙA ĐÔNG BẮC (Chương 5)

Trần Nguơn Phiêu

Chương 5

Phong trào Thanh niên


Trong ý định tìm cách hướng dẫn đánh lạc tâm lý quần chúng, để họ quên đi các biến chuyển thời cuộc, nhà cầm quyền thực dân Pháp đã bày vẽ nhiều hoạt động mới ở Ðông Dương.

Nối theo kinh nghiệm đã thành công ở Hà Nội năm trước, Sài Gòn cũng rầm rộ tổẩ chức một hội chợ triểẩn lãm tại vườn Ông Thượng để lôi cuốn dân chúng đến vui chơi. Ðây là một cơ hội để trình bày các phẩm vật sản xuất ở Ðông Dương với ý định tìm cách thay thế các sản phẩm từng phải nhập cảng từ Pháp, trước chiến tranh. Phần lớn các món hàng này đều thuộc về loại tiêu thụ thông thường như thuốc lá, nước ngọt, nước trái cây, quần áo dệt trong xứ... Các trò chơi vui nhộn thì được chú ý bày vẽ rất nhiều. Toàn thể họa đồ khu vực triển lãm được một kiến trúc sư Việt phác họa, một kiến trúc sư mà tên tuổi sẽ được nhắc nhở rất nhiều về sau: kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Chủ tịch Chánh phủ Cộng Hòa Lâm thời Miền Nam trong thập niên 1970!

Decoux còn chỉ định Ðại tá Maurice Ducoroy thành lập Tổng cục Thể dục, Thể thao và Thanh niên. Một trường Cao Ðẳng Thể Dục được thành lập ở Phan Thiết (E.S.E.P.I.C. tức École Supérieure de l’Éducation Physique de l’Indochine). Ðại tướng Dương Văn Minh khi chưa vào quân đội là người đã tốt nghiệp khóa đầu tiên của trường nầy.

Phong trào thể dục, thể thao nở rầm rộ để lôi cuốn thanh niên. Cuộc đua xe đạp nối liền Nam Vang, Vạn Tượng, Hà Nội, Huế, Sài Gòn với các tay đua Vũ Văn Thân ở Bắc, Lê Thành Các trong Nam là đề tài bàn tán hằng ngày trên các báo hoặc ở các quán rượu, quán ăn... Các tổ chức thanh niên được khuyến khích thành lập, nhằm phổ biến các lời kêu gọi của Thống chế Pétain. Học sinh các trường được hướng dẫn tham gia các buổi tập hợp đốt đuốc ngoài trời ở sân vận động Lareynière hay trước Thảo cầm viên vào buổi tối.

Thừa cơ hội này, việc tổ chức đoàn ngũ thanh niên đã được các tổ chức chánh trị âm thầm bắt đầu thực hiện. Các bài hát thanh niên cũng như các bản âm mhạc cải cách rất hiếm vào thời buổi ấy. Anh Trần Văn Khê, sinh viên đại học mới vừa học xong năm thứ nhất Y khoa ở Hà Nội về, ghé trường cũ để tiếp xúc với học sinh. Anh đã trình bày cho đàn em các bản tân nhạc hùng tráng: “Sinh viên Hành khúc” (Marche des Étudiants), “Bạch Ðằng Giang”, “Lên đường”... của Lưu Hữu Phước. Anh quảng cáo mời học sinh tham dự buổi ca, nhạc, kịch sẽ tổ chức tại Nhà hát Tây (Théâtre Municipal) do phân bộ miền Nam của Tổng hội Sinh viên Ðông Dương thực hiện. Các anh em trong toán của Triệu đã được Trần Văn Khê và các anh khác tuyển chọn để tập trình diễn các hợp ca Sinh viên Hành khúc, Bạch Ðằng Giang, Ải Chi Lăng... Lần đầu tiên, bản Con Thuyền Không Bến được ra mắt ở Sài Gòn do một nữ sinh viên là chị Sương trình bày. Chị Sương về sau sẽ là vợ anh Khê.

Anh em Triệu rất phấn khởi được góp phần đánh thức lương tâm giới thanh niên bằng những bản hùng ca, khiến học sinh bắt đầu hãnh diện với lịch sử và văn hóa nước nhà. Buổi trình diễn đầu tiên đã thành công rực rỡ và được nối tiếp bằng nhiều lần khác. Trong toán của Triệu có anh Phạm Văn Thanh là người có tiếng hâm mộ quân đội Nhật nên hôm trình diễn đã cạo đầu trọc lóc, bóng loáng khi tham dự hợp ca “Bạch Ðằng Giang”. Sau đêm ra mắt thành công đó, các anh em sinh viên đã nối tiếp tổ chức các buổi diễn kịch: Ðêm Lam Sơn, Con Thỏ ngọc, Tục Lụy của Lưu Hữu Phước. Khán giả Sài Gòn đã nồng nhiệt hoan hô luồng sinh khí văn nghệ mới.

Trong bóng tối, tổ chức Cộng sản đã theo dõi, nhận thức được trào lưu làm sống lại tinh thần yêu nước của quần chúng do các sinh viên trí thức trẻ thực hiện. Trần Văn Giàu do đó đã tìm cách móc nối với các sinh viên từ Hà Nội về. Những lớp huấn luyện chính trị cho các toán thanh niên thuộc đảng Tân Dân Chủ đã được tổ chức ở văn phòng tư của kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát ở số 68-70 đường Mayer (Hiền Vương). Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước, Trương Công Cán... thường vẫn lui tới nơi đây. Ngoài ra, một lớp huấn luyện khác, đông người hơn, cũng được Trần Văn Giàu đảm trách ở Thị Nghè ở nhà dược sĩ Trần Kim Quan cho toán Thanh niên Dân chủ của Tạ Bá Tòng, sinh viên đã từng hoạt động trong Thanh niên Cứu Quốc khi theo học ở Hà Nội.

Kỳ nghỉ hè năm đó, các học sinh Pétrus Ký hai tỉnh Gò Công và Tây Ninh đã cố tập luyện và đã trình diễn những buổi văn nghệ tương tự ở tỉnh nhà để phổ biến các bản hợp ca và tân nhạc đến đồng bào địa phương. Lưu Hữu Phước đã sáng tác một bài hợp ca riêng cho trường Petrus Ký bằng tiếng Pháp: “Hymne au Lycée Petrus Ký”. Bài này được sự chấp thuận của Giám đốc trường là Lejeannic. Vợ ông Lejeannic dạy nhạc nên đã giúp học sinh trình diễn đồng ca ở nhà Hát lớn Sài Gòn. Bản hát được in sau khi được Chánh sở Kiểm duyệt tên Marquis thông qua. Sau tháng 8 năằm 1943, nhân dịp tổ chức Trại Suối Lồ Ồ, bài Hiệu ca Petrus Ký, lời Việt mới được lén lút phổ biến.

Triệu và một số bạn hữu đã cùng nhau tổ chức các cuộc cắm trại ngoài trời. Các túi đeo sau lưng của các hướng đạo sinh rất hiếm vào thời đó vì giao thương với Pháp đã bị gián đoạn. Tuy nhiên ở đường Garcerie (Duy Tân), có một tiệm may đồ da rất khéo, đã theo mẫu các túi cắm trại nhập cảng từ Pháp để sản xuất trang bị cho hướng đạo sinh. Nhà sản xuất này đã làm việc không ngừng vì phong trào du lịch, cắm trại được phát triển ồ ạt. Trường đã đồng ý cho thành lập Ðoàn S.E.T. (Section d’Excursion et de Tourisme) với sự tán thưởng của các giáo sư Roumégous, Lê Văn Huấn, Lê Văn Cẩm... Ðoàn SET sau được đổi tên Việt thành Ðoàn Hùng. Học sinh được chấp thuận cho mang phù hiệu trường do giáo sư hội họa Hồ Văn Lái vẽ: một ngọn đuốc đỏ trên nền trời xanh dương, đường viền bên phải ánh đuốc có hình chữ S của bờ biển Việt Nam.

Theo chỉ thị từ Pháp của chánh phủ Pétain gởi cho chánh quyền thực dân ở Ðông Dương, phong trào “thanh niên khỏe” được Ducoroy phát triển mạnh mẽ trên toàn cõi Việt, Miên, Lào. Các cuộc tập hợp, diễn hành của thanh niên các trường Việt, Pháp kể ra tháng nào cũng có, khi ở sân Hoa Lư, lúc khác ở sân vận động Richaud hoặc Lareynière. Học sinh Việt lúc đầu thường phải đồng ca cùng học sinh Pháp các bài “Maréchal, Nous voilà” (Thưa Thống chế, có chúng tôi đây), sau lại nhân cơ hội, bắt đầu hợp ca các bài Việt: Lên đường, Sinh viên Hành khúc, Hiệu ca Petrus Ký...

Trường Petrus Ký có truyền thống tổ chức Lễ Tiễn Ông Táo, mỗi năm trước khi về nhà nghỉ Tết. Lúc trường còn ở Nancy, Lễ được tổ chức ở phòng ăn lớn. Khi về tạm trú cùng trường Sư Phạm ở Sở thú thì phải thiết lập sân khấu lộ thiên vì ở đây không có phòng rộng có khả năng chứa đám đông học sinh. Bắt đầu niên khóa 1941, trường có mở thêm ban Cổ điển cổ ngữ La tinh như các trường ở Pháp. Học sinh theo lớp Métropolitain này được chọn trong số thí sinh trúng tuyển cao của bốn trường công: Petrus Ký, Nữ Học Ðường, Mỹ Tho và Cần Thơ. Giám đốc Lejeannic thường hãnh diện khoe: lớp Métro này là thành phần ưu tú nhất của miền Nam. Giáo sư Pháp tên Champion là người phụ trách chánh cho các lớp Métro này. Qua năm sau, trường lại tổ chức thêm lớp Cổ điển Á Ðông. Lớp đầu gọi là 6è E.O.(Classique D’Extrême Orient) được giao cho giáo sư Phạm Thiều phụ trách. Vì thí sinh được tuyển lựa từ bốn trường công miền Nam nên lần đầu tiên có các lớp hỗn hợp nam, nữ ở cấp Trung học. Lúc trước chỉ có ở ban Tú tài mới có các nữ sinh như các chị Nguyễn Thị Sương, Mã Thị Chu, Phạm Thị Danh...

Vợ của Giám Ðốc Lejeannic là giáo sư âm nhạỳc, năm đó có đề nghị một màn kịch câm, nhân dịp Tết Ông Táo. Bà giới thiệu một nữ sinh lớp E.O. được bà dạy vũ, tên Lý, quê ở Chợ Ông Văn, Mỹ Tho, người gốc Minh Hương, má lúm đồng tiền, miệng cười duyên dáng rất đẹp. Triệu được chọn đóng vai một thi sĩ, ngồi vò tai, bứt tóc không tìm ra thi tứ. Bỗng dưng một cơn gió thổi qua làm lá vàng lả tả rơi và thi sĩ nhân đó, đã tìm ra thi hứng để ghi rối rít những vần thơ vừa chớm nở. Nhìn trong đám lá vàng bay, thi nhân chợt nhận thấy Nàng Thơ của mình hiện ra, nhảy múa theo một nhạc điệu vĩ cầm réo rắt. Thi nhân vội chạy đến níu Nàng Thơ nhưng đã trượt chân té bổ nhào, kết thúc màn kịch “Thi nhân và Nàng Thơ” trong tiếng cười vui nhộn của khán giả.

Câu chuyện Nàng thơ, Thi sĩ từ sau đó là đề tài các bạn thường nhắc đến để trêu chọc Triệu. Thường mỗi sáng, học sinh nội trú đứng trên lầu cao, nhìn xuống sân xem các học sinh ngoại trú dẫn xe đạp cất vào sân sau lớp học. Mỗi bận thấy Lý đi dưới sân, các bạn thường gọi lớn: “Nàng Thơ”, khiến Lý thẹn thùng phải có những bước đi lúng túng.

Năm học đó là năm kết thúc bốn năm nội trú của Triệu, năm thi lấy bằng Thành chung và ra trường. Một buổi chiều lộng gió, lá vàng bay tơi tả trong một góc sân đã thật sự khơi dậy một xúc cảm mạnh trong lòng Triệu khi nghĩ đến lúc phải xa lìa trường, xa lìa bè bạn. Nhà “thi sĩ” trẻ đã nhân lúc trào lòng, làm bài thơ kỷ niệm:

NHỮNG NGÀY QUA.

Gió đến chiều nay lá rụng nhiều,
Nhìn trời lòng bỗng vướng đìu hiu:
Ngày qua... đã bốn lần thu đến,
Lá cuốn bâng quơ giữa nắng chiều

Ðã mấy năm qua ở chốn nầy,
Cùng nhau vui sống tuổi thơ ngây.
Một mùa thi đến như thu đến,
Bày cảnh chia ly, én lạc bầy.

Hôm nay lá rụng nhuộm sân trường,
Bỗng thấy lòng như rộn nhớ thương.
Bâng khuâng mơ tiếc ngày vui cũ,
Bao phút đời chưa tẻ ngõ đường.

Thu đến nhủ tôi giấc mộng rồi,
Cuộc đời vui trẻ đã mờ trôi.
Hôm nay nhìn lá quay trong gió,
Chỉ biết ngồi êm tiếc mẫu đời!

Vào thời khoảng nầy chiến tranh Nhật, Mỹ đã bắt đầu bùng nổ. Hạm đội Nhật đã bất thần tấn công Trân Châu Cảng và thiêu hủy các phi cơ, tàu chiến của hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ đang thả neo ở đây. Cuộc tấn công mở màn chiến sự đã xảy ra vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, giờ Honolulu. Riêng phần Triệu thì vẫn ghi trong tâm khảm là sự việc đã xảy ra ngày 8 tháng 12 vì Nhật đã báo tin ngày thắng trận lịch sử này bằng nhiều bích chương to lớn, vẽ chiến hạm Nhật với hai họng súng đại bác đen ngòm, đặt trên dưới theo hình số 8. Giờ tấn công, theo quần chúng Nhật và người châu Á, là ngày 8, theo giờ Tokyo.

Thân phụ Triệu vốn có nhiều kinh nghiệm trong ngành quản lý các khách sạn lớn của Pháp, nay được đổi về Ðà Lạt để trông nom hai khách sạn Langbian Palace và Hôtel du Parc. Ông đã từng quản lý khách sạn Majestic ở Sài Gòn, sau được phái lên Cam Bốt lo cho các khách sạn ở Angkor Wat và khách sạn Bokor vùng bờ biển Kép.

Nhân đó, lần đầu tiên Triệu được lên thăm cao nguyên nhân kỳ nghỉ hè. Vào thời Pháp còn chiếm Việt Nam, từ Nam ra Trung hay Bắc phải có giấy thông hành! Triệu náo nức chuẩn bị hành trình, nhưng khi nửa đêm đến ga Tour Chàm (Phan Thiết) thì bị kẹt lại. Thiết lộ phải dành cho quân đội Nhật ưu tiên chuyển quân. Hành khách dân sự phải đợi đến ngày hôm sau mới có các chuyến dành cho dân chúng.

Trong chuyến tàu của Triệu có đoàn thanh niên cắm trại của một trường Pháp. Trong khi chờ đợi ngoài trời sân ga, họ đã cùng nhau ca hát những bản hành khúc vui nhộn. Nhưng về sau, trời càng khuya, tất cả đều mệt mỏi. Bỗng nhiên có một thanh niên người da ngâm đen, vừa đàn guitar, vừa hát bản “Tabou” của người Phi Châu rất trầm buồn. Bản hát như lời than vãn của một sắc dân trên đà diệt vong. Lời hát vang trong không trung lãnh thổ Chàm, một quốc gia đã có một thời thịnh trị, nay chỉ còn những tháp di tích sừng sững trong đêm, xa xa ngoài sân ga, đã khiến Triệu bùi ngùi nhớ đến hình ảnh các nông dân Việt bị thực dân Pháp xỏ tay nhau, chở từ Mỹ Tho lên ga Sài Gòn đưa đi tù, sau các ngày Nam Kỳ Khởi Nghĩa thất bại. Dân tộc mình nếu không tiếp tục đấu tranh, e sẽ có ngày bị xóa tên trên hoàn vũ chăng?

Trong khi có những băn khoăn đó, tình cờ từ trong đám đông những người ra ga đón thân nhân, có một bạn học cũ, tên Lai trước đã từng cùng học cấp tiểu học ở Biên Hòa, chợt nhìn ra Triệu. Vì còn phải chờ thêm một ngày, mà nhà anh Lai hơi xa nên anh đề nghị giới thiệu đến một chùa gần đó nghỉ qua đêm. Sáng hôm sau thức dậy, nhìn lên cổng chùa, Triệu mới biết tình cờ, mình đã qua một đêm trong khuôn viên“Lý Viên Tự ”!

Ðến Ðà Lạt, Triệu thích thú được sống cạnh bờ hồ nên thơ của thành phố. Ba của Triệu đã thuê được một nhà cạnh hồ, không xa với khách sạn Langbian. Nơi đây thuở trước nguyên là một biệt thự hai tầng, được chủ nhân sau biến thành một lữ quán có tên là Boite à Sardines (Hộp cá mòi). Trên tường các phòng, có những cảnh vẽ bằng phấn đen (fusain) rất đẹp, mô tả các hoạt động của thủy thủ, từ việc sinh sống trên chiến hạm đến những lúc đi bờ. Bến tàu, các ngọn hải đăng, chiến hạm rẽ sóng ra khơi là cảnh thường thấy trên các bức tường. Triệu được nghe ba Triệu cho biết là người chủ quán đầu tiên là một thủy thủ hồi hưu, đã quen biết bạn họa sĩ Hải quân danh tiếng này và đã nhờ vẽ hộ. Anh bạn này có thể đến quán ăn nhậu suốt đời, khỏi phải trả một xu phí tổn. Cả nhiều tháng năm, có lẽ vì Triệu đã ngắm nhìn các cảnh sống các thủy thủ nên trong thâm tâm lúc nào cũng cảm thấy vướng mắc bao nhiêu mộng hải hồ.

Một buổi chiều, Triệu có dịp đi dạo và ngồi nghỉ chân trên một băng nhỏ ở sân vận động ven hồ. Trời đã xế chiều. Một tiểu đội lính Việt, quân phục kiểu triều đình Huế, chỉ được thấy ở Trung, sửa soạn lễ Hạ kỳ. Cờ là cờ nền vàng, có một sọc đỏ theo chiều dài ở giữa. Ðây là “Cờ Bảo Ðại” như dân miền Nam thường gọi khi thấy cờ phất phới ở Ðà Lạt. Khi điệu kèn hạ cờ nổi lên, Triệu đã đứng lên nghiêm chỉnh chào lá cờ từ từ hạ mà trong lòng bỗng thấy có một cảm giác lạ thường. Triệu đã từng có nhiều cơ hội dự lễ chào cờ vào các buổi khai giảng niên học ở Petrus Ký. Trường thường nhờ một đại đội lính và một đại đội quân nhạc từ thành Ô Ma sang phụ trách nghi lễ thượng kỳ. Nhạc trỗi hùng hồn, sĩ quan chỉ huy tuốt gươm trần sáng loáng dõng dạc truyền lịnh bằng tiếng Pháp, nhưng Triệu không có cái cảm giác kỳ lạ, cảm động như lần đầu tiên được đứng nghiêm chào cờ của đất nước mình. Với cái cảm giác lâng lâng đó, Triệu về phòng ghi trong Nhật ký: “Hôm nay tôi đã cảm động tham dự một cuộc chào cờ nghiêm chỉnh nhất!”

Anh, Mỹ và Trung Hoa đã tuyên chiến với Nhật. Chánh quyền Decoux đã phải ký với Nhật một loạt các Hiệp ước quân sự về phòng thủ Ðông Dương. Thế là Việt Nam đã bị lôi cuốn vào cuộc chiến.


Quân đội Nhật đã lấn chiếm Mã Lai, Singapour, Borneo. Quần đảo Philippines lần lượt bị chiếm đóng. Manila mất ngày 2-1-1942. Bataan thất thủ sau ba tháng bị bao vây, 70 ngàn binh Mỹ bị bắt. Ngày 6 tháng 5 năm 1942, 60 ngàn binh Mỹ đầu hàng ở Corrigedor. Miến Ðiện cũng bị chiếm đóng cùng với Nam Dương Quần đảo.

Nhật kể như đã hoàn thành ý đồ Ðại Ðông Á của họ nhưng vào tháng 6, 1942, sau ba ngày hải chiến, Mỹ với ưu thế không lực đã chận Hải quân Nhật ở trận Midway. Bước tiến của Nhật Bản đã bị chùn lại từ đây trong khi quân Ðồng Minh đã đổ bộ ở Bắc Phi Châu để đánh đuổi Ðức, Ý.

Chiến cuộc từ nay đã bắt đầu xoay chiều. Quân Ðồng Minh mở thêm chiến dịch chiếm đảo Silicy. Phi cơ Mỹ đã bắt đầu oanh kích Hải Phòng và đường xe lửa xuyên Việt. Ngày 6-6-1944, quân Ðồng Minh bắt đầu cuộc đổ bộ lịch sử Normandie và từ đó tái chiếm nước Pháp. Ngày 24-8-1944, Sư đoàn 2 Thiết Giáp của tướng Pháp Leclerc tiến vào Paris. Ở Ðông Dương, vì e ngại quân Ðồng Minh sẽ đổ bộ lên căn cứ hậu cần quan trọng nầy nên quân Nhật đã bắt đầu chuẩn bị kế hoạch lật đổ chánh quyền thuộc địa Pháp.

Hồ Chí Minh bị Trung Hoa bắt giam cầm ở Liễu Châu, nay được Trương Phát Khuê cho phép lên đường trở về Việt Nam để thực hiện kế hoạch “Hoa Quân nhập Việt”.

Ở Mặt trận Âu châu, Quân đoàn 6 của Ðức đầu hàng Hồng quân Liên Sô ở Stalingrad. Ðệ nhị Thế chiến đã bước qua giai đoạn bắt đầu kết thúc.

Mỹ đã chiếm lại đảo Guam và ở Phi Luật Tân, quân Mỹ đã đổ bộ lên Luzon. Ðông Dương lại càng bị Ðồng Minh dội bom liên tục hơn. Trong đêm 5-5-1944, máy bay Mỹ định thả bom xuống khu bến tàu Khánh Hội nhưng bom lại thả trật vào khu nhà lá Xóm Chiếu, gây nhiều đám cháy khổng lồ, nhiều thiệt hại về nhân mạng. Học sinh được cho nghỉ hè sớm hơn hai tháng. Kỳ khai trường niên khóa 1944-1945, học sinh nội trú trường Petrus Ký được chuyển về Nữ Học đường. Các lớp học vẫn hoạt động tại trường Sư Phạm.

Triệu thi bằng Thành Chung bị loại ngay từ kỳ Pháp ngữ nên trở lại học năm thứ Tư nhưng phải ở ngoại trú. Sài Gòn lại bị phi cơ Mỹ giội bom suốt ngày 12-1-1945 xuống phi trường Tân Sơn Nhất và khu Bến tàu. Ngày 15-2-1945, sứ quán Anh đường Norodom (đại lộ Thống Nhất) cạnh trường lại bị đánh bom. Hiệu trưởng Taillade phải ra thông cáo cho bãi trường sớm để học sinh trở về gia đình để chuẩn bị tham dự lễ Tết Ất Dậu.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét