Thứ Ba, 19 tháng 4, 2011

CÂY NẠNG CHỐNG CHẾ ĐỘ THỨ NHÌ CỦA CỘNG SẢN: BẠO LỰC

CAM VŨ

Trong bài “Dối trá cuối cùng phải bại lộ” đăng trên Diễn Đàn Thế Kỷ cách đây ba ngày, chúng tôi đã đề cập đến sự dối trá, là một trong hai cây nạng chống giúp cho chế độ cộng sản đứng vững. Hôm nay xin nói nốt về cây nạng còn lại, là bạo lực.


Tự căn bản, mục tiêu của đảng cộng sản là làm một cuộc cách mạng triệt để, phủ nhận hết những giá trị của con người đã xây dựng được từ trước để xây nên một thế giới mới với những hình ảnh về sự bình đẳng tuyệt đối mà càng về sau cả nhân loại đều thấy là không tưởng và trẻ con. Nhưng vào buổi bình minh của nó, cuộc cách mạng vô sản ấy có lẽ nhờ vì bày ra quá nhiều ảo tưởng (như ảo thuật vậy) nên mang nhiều vẻ mê hoặc, cộng với sự tổ chức chặt chẽ nên đã đứng vững và bành trướng trên một thế giới vẫn còn nặng nề vì sự bóc lột dã man của chế độ thuộc địa và sự thành hình của thế giới tư bản (còn sơ khai) do cuộc cách mạng kỹ nghệ mang lại. Có thể nói cùng với sự cảm hứng ngây thơ của biết bao tâm hồn ao ước tự do và công bằng của thời ấy, đảng cộng sản thành công nhanh chóng ở kỹ thuật tổ chức, mà hai cây nạng chống chính cho chế độ là dối trá và bạo lực. Chính đảng cộng sản thì không bao giờ nhận là họ dối trá, họ chỉ nói họ có sự thật riêng của họ, dựa trên lập trường giai cấp vô sản, và phủ nhận tất cả sự thật như lương tri của con người từ trước vẫn thừa nhận. Nhưng trong con mắt của nhân loại ngày nay, “sự thật” của đảng Cộng sản tóm lại không có gì khác hơn là dối trá: họ vo tròn bóp méo mọi thứ chỉ nhằm phục vụ cho lợi ích của đảng họ mà thôi. Vế còn lại là bạo lực thì người cộng sản không bao giờ phủ nhận, họ luôn luôn đề cao “bạo lực cách mạng”.

“Bạo lực cách mạng” là cách nói để diễn tả thái độ và lập trường của đảng đối với những cá nhân, những giai cấp, những tổ chức không đồng thuận với họ và nói chung các tôn giáo, tức là tất cả những gì mà họ khẳng định là “kẻ thù của cách mạng”. Và đối với “kẻ thù” thì họ chỉ có một sách: dùng sức mạnh để “trấn áp”. Trấn áp là một từ đầy hình ảnh diễn tả đúng nhất cách đối xử với “kẻ thù”, là triệt để tiêu diệt, không cho chúng ngóc đầu lên, bằng đủ mọi hình thức của bạo lực, từ giết chóc, tù đày, bao vây đời sống xã hội và kinh tế, đày đọa con người đến chỗ cùng cực hầu không còn một chút sinh lực tinh thần và thể chất nào để mà chống đối.

Ở nước ta, giống như nhiều nơi khác trên thế giới, đảng cộng sản xuất hiện với rất nhiều ảo ảnh và một đội ngũ rất chuyên nghiệp về bạo lực và tuyên truyền (đồng nghĩa với dối trá), cùng với một tổ chức chặt chẽ cũng rất chuyên nghiệp mang tầm vóc và kinh nghiệm quốc tế, khác với các tổ chức cách mạng của người quốc gia chỉ với tình tự dân tộc và nói chung yếu kém về kỹ thuật tổ chức, huấn luyện. Khác với những đảng phái quốc gia không bao giờ có chủ trương tiêu diệt lẫn nhau vì hiểu tất cả đều xuất phát từ lòng yêu nước, đảng Cộng sản không bao giờ chia sẻ lập trường đó. Họ buộc người khác phải nằm dưới sự chỉ huy của họ để biến thành họ, nếu không sẽ tìm cách tiêu diệt. Tình hình nước ta từ năm 1945 đã chứng kiến cả một tấn thảm kịch của sự tiêu diệt này. Với kỹ thuật thượng thừa của kinh nghiệm cộng sản quốc tế, Hồ Chí Minh và đảng của ông đã tiêu diệt (giết chết hoặc đọa đày) biết bao người con ưu tú của đất nước, chữ ưu tú hiểu theo nghĩa vĩnh cữu về những gì họ đã đóng góp cho đất nước và dân tộc Việt Nam, chỉ kể một ít tên người tiêu biểu: Phạm Quỳnh, Khái Hưng, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Nguyễn Mạnh Tường, Phan Khôi... Đó là chủ trương chính thức của đảng cộng sản: tiêu diệt kẻ thù của đảng dù họ chẳng có tội gì với dân tộc, hơn thế nữa, dù họ là tinh hoa của dân tộc. Giờ này ai dám nói, kể cả những người cộng sản (còn lương tri, dĩ nhiên) những vị vừa được nêu danh là phản bội dân tộc? Để hiểu điều này, xin mời quý độc giả đọc lại đoạn trong hồi ký Gió Mùa Đông Bắc của bác sĩ Trần Nguơn Phiêu mới đăng trên Diễn Đàn Thế Kỷ khi nói về việc thủ tiêu phe Đệ Tứ ở miền Nam:

“Việc ám hại Tạ Thu Thâu ở Quảng Ngãi đã là bước đầu tiên thi hành chánh sách triệt tiêu hầu hết các đối thủ thuộc Ðệ Tứ, theo chỉ thị của Stalin đối với những người Cộng sản theo chủ trương của Trotsky. Ngày 10 tháng Năm năm 1939 Nguyễn Ái Quốc đã viết ba lá thư từ Trung Quốc gởi về cho các bạn đồng chí Cộng sản ở Việt Nam. Ba bức thư đều được ký dưới tên Line, gởi đi từ Kweilin với những lời lẽ, luận điệu y hệt như Stalin đã viết trên báo Prada ngày 14-2-1937: “Chủ nghĩa trốt-kít dùng phương pháp đấu tranh hèn hạ nhất, nhơ bẩn nhất, khốn nạn nhất... Nấp sau bóng tối, đàn chó trốt-kít tụ tập những kẻ đầu trâu mặt ngựa, những đứa không còn phẩm giá con người... Chúng làm gián điệp... Ðó là phương pháp hành động của bọn chó săn trốt-kít ”. Trong các bức thư, Nguyễn Ái Quốc cũng lập lại các chữ “đàn chó”, “nhơ bẩn”, “ghê tởm”, ”gián điệp”, “mật thám”, “tay sai cho phát xít” của Stalin. Chỉ có các chữ “đầu trâu mặt ngựa” được thay bằng “một lũ bất lương”. Hồ Chí Minh viết (2): “Bọn tờ-rốt-xkít... chỉ là những bè lũ bất lương, những con chó săn của chủ nghĩa phát xít Nhật và của chủ nghĩa phát xít quốc tế... Ðó là bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất..., bọn tờ-rốt-xkít ăn lương của tụi Nhật...”. Trong tờ trình Ban Chấp Hành Quốc tế Cộng sản năm 1939 (3), Nguyễn Ái Quốc viết: “Ðối với bọn trôt-kít, không thể có một thỏa hiệp nào, một nhân nhượng nào cả. Phải tìm mọi cách lột mặt nạ chúng như bọn tay sai của phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị”. Các bức thư trên đã đưa đến việc chấm dứt cuộc hợp tác Ðệ Tam - Ðệ Tứ trong việc đồng thuận chống thực dân Pháp trong phong trào La Lutte chống thực dân Pháp. Các nhân sĩ miền Nam, những người có óc bén nhạy chánh trị, đã quyết đoán là Nguyễn Ái Quốc, nhân viên trung thành phục vụ Ðệ Tam Quốc Tế đã bắt đầu thi hành các chỉ thị của Stalin ở Việt Nam!”
(2) Ba lá thư trong “Hồ Chí Minh toàn tập” (tập 3, trang 87-98-99-109-113). (3) “Hồ Chí Minh”, bản tiếng Pháp, tập 2, trang 22 (nhà xuất bản Ngoại văn, Hà Nội, 1962).

Đây là một bằng chứng rõ rệt cho thấy Hồ Chí Minh và đảng cộng sản của ông hành động theo chỉ thị của Stalin của Đệ Tam Quốc tế như thế nào. Tinh thần, tình cảm, kỷ luật của họ đặt ở bên Nga chứ không phải trong lòng dân tộc Việt Nam! Stalin gọi phe Đệ Tứ theo Trotsky là “bầy chó, là nhơ bẩn, ghê tởm, gián điệp, mật thám, tay sai cho phát xít” thì Hồ Chí Minh lặp lại in hệt không sai một chữ đối với những người đồng bào yêu nước của ông như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Hồ Văn Ngà v.v... Kể ra Hồ Chí Minh cũng khá thành thật khi nói mình chẳng có tư tưởng gì, vì đã có Stalin, Mao Trạch Đông suy nghĩ trước hết cả rồi. Cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” chẳng qua là do đàn em bịa ra để chống đỡ về sau này khi chế độ cộng sản sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào đầu thập niên 1990. Dù cho chẳng có tư tưởng gì mà chỉ nhai lại cho đến từng từ ngữ trong chỉ thị của đảng trưởng, về mặt bạo lực Hồ Chí Minh và đồng đảng Việt Nam của ông quả là những cán bộ vô cùng trung thành và xuất sắc của Stalin. Vì thế ta cũng không lạ gì sau khi Liên Xô sụp đổ, tội ác của Stalin được chính thức phổ biến trên toàn thế giới nhưng tại Việt Nam không ai được nói đến, và bức tượng của Lê Nin vẫn đứng trong vườn hoa tại Hà Nội. Tại sao sự tàn ác bất nhân của một tên tội phạm của nhân loại là Stalin lại bị cấm nói tới tại Việt Nam? Vì tên đồ tể đó chính là ông thầy trực tiếp của Hồ Chí Minh và đồng đảng của ông ta.

*

Hiện tượng công an của cộng sản Việt Nam ngày nay liên tiếp đánh chết dân, nếu nhìn trong toàn cảnh bản chất của chế độ từ trước đến nay thì là điều không lạ. Chỉ hơi lạ là việc tàn ác đánh chết người một cách dồn dập chỉ vì những cái cớ vặt vãnh, khiến người ta phải tự hỏi: tại sao thế?

Việt Nam đang ở trong thời bình, đang lo làm ăn xây dựng kinh tế với thế giới. Trong một khung cảnh như thế lẽ ra cuộc sống sẽ khá tích cực, hiền hòa và bình an. Việc giết chóc trong thời chiến tranh gay cấn như thời 1945, 46, 47 thì dù sao cũng còn cái lý để biện minh (Việt gian, phản động v.v...). Việc trấn áp phong trào Nhân văn Giai phẩm sau khi chiến tranh chấm dứt 1954 là cốt củng cố chế độ độc tài toàn trị, “xây dựng chế độ xã hội”, từ đó phát động chiến tranh chiếm đoạt miền Nam. Thế còn bây giờ, cả một “phong trào” công an áp dụng bạo lực trên dân chúng giữa xã hội tạm gọi là thanh bình, thì nhằm cái gì?

Câu trả lời thực ra không khó: nhằm trấn áp, trấn áp và trấn áp. Nhưng trấn áp cái gì, và tại sao?

Cái mâu thuẫn giữa xã hội và chế độ cầm quyền Việt Nam ngày nay là ở chỗ: xả cảng cho dân chúng được tương đối dễ thở trong công việc kinh doanh làm ăn, sinh hoạt tôn giáo, cộng với cuộc cách mạng Internet toàn cầu đã làm cho tinh thần đòi hỏi tự do của xã hội chợt bừng tỉnh. Dân không còn nơm nớp sợ hãi chế độ như trước kia nữa. Khi nhà nước còn nắm chắc cái bao tử của dân chúng với chế độ phân phối mọi nhu cầu theo tem phiếu, khi nhà nước bịt kín mọi ngõ ngách để chỉ thông tin theo một đường lối ngu dân, khi dùng chế độ hộ khẩu để kiểm soát mọi sự đi lại của người dân, khi ấy người dân luôn sống trong sợ hãi. Một người phải luôn luôn có hai bộ mặt, cuộc sống luôn là một vở kịch, về mặt công khai mọi người phải diễn xuất sao cho vừa lòng chế độ, nếu không tai họa sẽ tới ngay. Cứ đọc hồi ký phổ biến sau khi chết của các tác giả như Chế Lan Viên, Nguyễn Khải... là hiểu ngay cái thảm cảnh sống vật vờ, giả hình của biết bao con người trong một chế độ độc tài. Vậy thì một cách khách quan, chúng ta thấy được tâm lý của người dân tại Việt Nam ngày nay: ngày càng tỏ ra KHÔNG SỢ chính quyền. Mà đó là điều khiến một chính quyền độc tài SỢ nhất! Trước sự phát triển quyền sống tự nhiên của người dân, mà kết quả đương nhiên là phải đòi tự do ngày một nhiều hơn, chính quyền cộng sản phải nghĩ ra cách tái lập sự sợ hãi. Công an là lực lượng trấn áp trực tiếp trên người dân hàng ngày, vậy cần bật đèn xanh để lực lượng này có cơ hội tái tạo nên nỗi sợ. Bây giờ người dân không còn sợ bị bao vây lương thực, đã biết tin tức toàn thế giới chứ không còn bị “ngu” như trước, cái gì có thể làm họ sợ trở lại? Chỉ có cái chết! Ai cũng sợ chết. Nếu, chỉ với một đồn công an tại một khu phố thôi mà cũng có quyền giết dân vì những cái cớ vớ vẩn, thì chắc chắn dân sẽ phải sợ công an, và từ đó, sợ chế độ. Đây có thể là một suy nghĩ rất chiến lược của Bộ Công An, mà cũng rất có thể, Bộ Chính Trị, nhằm lập lại sự “ổn định” có cơ mất đi của chế độ. Đây là “bạo lực cách mạng” trong thời đại mới. Người của nhà nước có quyền giết dân ở bất cứ hoàn cảnh nào, chỉ cốt để tái lập nỗi sợ hãi.


Ðánh đập kiểu này thì còn chi là con người! Như con cừu non giữa bầy lang sói!
Đây là cảnh mà dân chúng Việt Nam hiện nay từ Bắc chí Nam có thể bị gặp phải bất cứ lúc nào.
Có chế độ nào mà cảnh sát công khai đối xử với người dân như con vật thế này,
nếu đó không phải là chủ trương của chính quyền?

Những ý trên đây chỉ mới là giả thuyết nhưng người viết tin là đúng. Thật ra người công an bình thường có căm thù gì một người đi xe gắn máy không đội nón bảo hiểm đến độ phải đánh người ấy chết? Thái độ dữ tợn đột nhiên trở thành như một thứ thuộc tính của cảnh sát công an đối với người dân chỉ có thể giải thích là do một chủ trương. Họ phải được học tập, huấn luyện trong các “nghiệp vụ” này. Nhìn những thao tác đánh đá của công an trong hình trên đây thì quả là rất thành thạo, chuyên nghiệp và vô cảm.

Cách thức công an Trung Quốc đối xử với dân của họ hiện nay cũng có những nét rất giống như Việt Nam. Nói cách khác, Việt Nam là bản sao của Trung Quốc, giống như trước kia ông Hồ Chí Minh đã là bản sao các chỉ thị của Stalin. Ngày nay đảng cộng sản Việt Nam phải sát cánh với Trung Quốc để tồn tại, như là một chư hầu ngoan ngoãn, đến độ những lời lẽ phản đối Trung Quốc đôi khi của phát ngôn nhân bộ Ngoại giao, những cử chỉ “hợp tác” nọ kia với Mỹ thỉnh thoảng xảy ra chỉ khiến người ta nghi ngờ chỉ là đóng kịch. Nếu không như vậy thì làm sao nhà nước có thể áp dụng bạo lực cách mạng đối với những con dân yêu nước biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lấn Việt Nam?

Và nay lại tiến thêm một bước dài, là cũng bạo lực ấy được mang ra để xử tử hình những người dân chỉ đáng bị phạt vi cảnh?

CAM VŨ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét