Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2011

Văn bản Nguyễn Ái Quốc (1)

Bài 2: Nguyễn Ái Quốc, lai lịch và văn bản

(1)

Lời nói đầu:
Khi khảo sát về Nhân Văn Giai Phẩm, đặc biệt Phan Khôi, chúng tôi phải tìm hiểu tại sao, sau khi ở Pháp về, Tây Hồ tìm gọi và trao lại "di sản tinh thần" cho Phan Khôi. Sự tìm hiểu này dẫn đến giai đoạn Phan Châu Trinh ở Pháp, và vai trò của ông trong nhóm Ngũ Long. Đi sâu hơn nữa, đọc những bài báo tiếng Pháp ký tên Nguyễn Ái Quốc, chúng tôi khám phá ra một sự thật: những bài báo này phải do những người rất am tường tiếng Pháp, thâm hiểu văn hoá và triết học Tây Phương, lại có văn tài, mới có thể viết được. Về mặt ngữ văn, bất luận những ai không học trường Pháp từ nhỏ, cả những người học trường Việt (như chúng tôi) dù có ở Pháp đến 50 năm, cũng không thể viết được như thế; bởi không có cái nền cơ bản về tiếng Pháp, không nắm bắt được lịch sử và sắc thái (nuances) của mỗi từ, của các thì (temps, modes) trong cách chia động từ, và nhất là lối chơi chữ của người Pháp. Đại để cũng giống như: một người mới học tiếng Việt vài năm không thể viết được như Phan Khôi. Sự ngạc nhiên này dẫn đến việc khảo sát văn bản Nguyễn Ái Quốc. Loạt bài này đã đăng trên RFI, ở đây chúng tôi bổ sung thêm một số điểm.
Paris 20/2/2011
Thụy Khuê


Bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập, 12 cuốn (nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000), 8410 trang, gồm:
- 80 % diễn văn, công văn chính thức, do các bí thư viết, văn phong thay đổi tùy theo sách lược chính trị mỗi thời và bút pháp từng người.
- 5% chú thích.
-15% còn lại là văn bản (gần 1000 trang), có thể chia làm hai phần: Phần dịch từ tiếng Pháp những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc và phần tiếng Việt gồm những bài ký bút hiệu khác.

1- Phần tiếng Việt, gồm những bài đăng trên báo ở Việt Nam, ký C.B (tập 7 và 8; C.B là viết tắt của Của Bác, theo Bùi Tín), Trần Lực (tập 9 và 10) và Chiến Sĩ (tập 11). Loạt bài tiếng Việt phản ảnh một tư chất: thực tiễn, ngắn gọn, dễ hiểu, không lý thuyết, không lý luận, không khôi hài, có lẽ đó mới đích thực là văn viết của Hồ Chí Minh.

Bài Việt nam yêu cầu ca, có thể xem là bài thơ đầu tay, phản ánh lối làm thơ nôm na của ông. Sau này, còn có nhiều bài khác, cùng một phong cách như thơ chúc Tết, thơ Trung thu và thơ ngâm vịnh. Lối thơ này được in lại trong tập 3.

2- Phần ký Nguyễn Ái Quốc gồm 735 trang (469 trang tập 1 và và 239 trang tập 2) là bản dịch những bài viết trên báo Pháp, từ 1919 đến 1927. Bản dịch, đôi khi chưa lột hết cá tính của nguyên văn, nhưng cũng làm lộ phẩm chất, tư tưởng, lòng ái quốc và chí khí của người viết.

Chính loạt bài này đã "thành danh" Nguyễn Ái Quốc, xác định "tư tưởng Hồ Chí Minh", làm cho ông trở thành thần tượng ngay từ thập niên 1920-1930 của thế kỷ trước.

Nguyên bản tiếng Pháp trên báo, được ký dưới hai dạng: Nguyễn Ái Quấc, trong thời gian đầu, sau này có lẽ Nguyễn Thế Truyền đổi lại là Nguyễn Ái Quốc. Chúng tôi dùng cả hai cách viết. Phần nghiên cứu này có hai mục đích:
- Truy nguyên lai lịch bút hiệu Nguyễn Ái Quấc/Quốc.
- Khảo sát văn bản Nguyễn Ái Quốc.

*

Muốn truy nguyên lai lịch Nguyễn Ái Quốc, chúng ta phải trở lại sự thành lập nhóm Người An Nam yêu nước.

1- Sự thành lập nhóm Người An Nam yêu nước

Xin tóm tắt một số dữ kiện chính:
Phan Văn Trường sang Pháp cuối 1908 (nghị định ngày 8/11/1908), dạy tiếng Việt ở trường Sinh ngữ Đông phương và học Luật. Đầu năm 1912, ông lập hội Đồng Bào Thân Ái (La Fraternité des Compatriotes). Đậu cử nhân luật. Nhập tịch Pháp, chuẩn bị nghề luật sư. Khoảng 1913-1916, Phan Văn Trường có appartement nhỏ ở rue Berthollet, Paris 5e, ông giữ địa chỉ này trong thời gian nhập ngũ và bị tù.

Phan Châu Trinh và con trai Phan Châu Dật, rời Sàigòn tháng 5/1911. Đến Paris, thời gian đầu ở nhà trọ (pension de famille) sau đổi sang khách sạn (hôtel). Phan Châu Dật học một trường ở khu Montparnasse. Tới tháng 4/1913, Phan Châu Trinh còn ở hôtel phố l'Abbé-de-l'Epée, Paris 5e. Tháng 10/1913, ông dọn sang khách sạn phố Cujas, Paris 5e.


Tháng 10/1912 Phan Châu Trinh gửi bản thỉnh nguyện lên hội Nhân quyền (với sự giúp đỡ của Phan Văn Trường: dịch hoặc viết sang tiếng Pháp), nhờ can thiệp vào việc trả tự do cho các nhân sĩ bị bắt cùng với Phan Châu Trinh, năm 1908, trong vụ Trung Kỳ dân biến (tài liệu đăng trong Bulletin Officiel de la Ligue des droits de l'homme et du citoyen, số 20, ngày 31/10/1912). Hai người bị buộc tội chống Pháp, lần đầu.
Vì hoạt động của hội Đồng bào thân ái, Phan Văn Trường bị mất việc dạy học, Phan Tuấn Phong và Phan Văn Kiên, anh và em của ông ở Hà Nội bị bắt, bị đầy sang Nouvelle-Calédonie.


Ngày 13/3/1914, Phan Văn Trường diễn thuyết về đề tài Les revendications indigènes (Những thỉnh nguyện của người bản xứ) tại trường Cao Đẳng Xã Hội (Ecole des Hautes Études Sociales), bài nói chuyện này là nguồn cội của bản Thỉnh nguyện của Dân tộc An Nam (Revendications du Peuple Annamite), gửi Hội nghị hoà bình thế giới ở Versailles, năm 1919.

Đại chiến thứ nhất bùng nổ, tháng 7/1914 Phan Văn Trường bị gọi đi lính (vì có quốc tịch Pháp), đóng ở trung đoàn 102 bộ binh, tại Chartres. Giữa tháng 8/1914, appartement của ông ở rue Berthollet, Paris bị an ninh lục soát, nhiều giấy tờ và tài liệu bị tịch thu, trong đó có bài diễn văn đọc tại trường Cao đẳng xã hội. Ngày 12/9/1914, ông bị hiến binh bắt, giam vào nhà tù Chartres. Cùng thời gian này, Phan Châu Trinh bị bắt ở Paris, tại khách sạn phố Cujas.

Ngày 13/9/1914, Phan Văn Trường bị giải lên Toà án binh Paris, bị giam vào binh ngục Cherche-Midi, Paris 6e. Phan Châu Trinh bị giam vào ngục Santé, Paris 13e. Tội danh: Xúi giục sinh viên du học căm thù chính phủ Pháp, tụ tập thành hội, gieo mầm nổi loạn. Cả hai bị giam đến tháng 7/1915 mới được thả. Trong thời gian này Thiếu Tá Roux hết sức bênh vực Phan Châu Trinh và luật sư Marius Moutet, vận động cho Phan Văn Trường được tại ngoại.

Hội Đồng Bào Thân Ái phải giải tán.

Ra tù, Phan Châu Trinh bị cắt trợ cấp, phải học nghề rửa ảnh, sống ở Paris và Pons (vùng Charente-Maritine, gần Đại Tây Dương). Phan Văn Trường bị chuyển xuống Công binh xưởng Toulouse (Arsenal de Toulouse) làm việc văn phòng và thông ngôn cho lính và thợ Việt. (Trong thế chiến có khoảng 80.000 người Việt sang Pháp làm lính thợ).

Từ 1916 đến 1920, Nguyễn Thế Truyền học kỹ sư ở Toulouse. Rất có thể Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền đã bí mật lập hội Người An Nam yêu nước trong thời gian này. Nhiều thông tin đồng quy là hội Người An Nam yêu nước được thành lập năm 1917.


1918, Nguyễn An Ninh sang Pháp học luật tại Sorbonne.

Tháng 6/1919, Nguyễn Tất Thành từ Luân Đôn qua Paris.


2- Hoạt động của Phan Văn Trường tại Công binh xưởng Toulouse

Ra tù, Phan Văn Trường tiếp tục là phần tử "nguy hiểm", luôn luôn bị theo dõi. Mật thám dò hỏi người concierge (người giữ nhà) về mọi hoạt động, giao du của ông. Trong thời gian ở Toulouse, ông không ở trong trại lính mà thuê nhà ở riêng, đổi nhà 2 lần, đều ở Phố Taur (Rue du Taur). Trong thời gian ở Toulouse, ông gặp và chung sống với một phụ nữ Pháp, sau này có một con trai, tên là Robert Phan Văn Trường (sinh năm 1921).

Tháng 9/1917, vì việc ông dịch đơn xin hồi hương cho một người thợ, bộ thuộc địa mở cuộc điều tra. Viên sĩ quan phụ trách tìm cách ép những người lính thợ phải khai rằng chính Phan Văn Trường đã "chủ mưu xúi giục" họ viết đơn xin giải ngũ. Thực ra, Phan chỉ dựa trên sự kiện: chính quyền thuộc địa dán áp-phích quảng cáo khắp nơi, rằng đi chỉ một năm rồi về, để khuyến dụ mọi người "tình nguyện" đi lính cho Tây. Nhưng lần này Phan Văn Trường không bị bắt, một phần vì Thiếu tá chỉ huy trưởng Malacamp có thiện cảm với ông, và nhất là nhờ những người lính thợ, không những không khai mà còn nói chính ông Phan đã ngăn cản chúng tôi nộp đơn xin giải ngũ! [Theo Une histoire de conspirateurs annamites à Paris (Chuyện những người An Nam âm mưu tại Paris), hồi ký Phan Văn Trường, L'insomniaque, 2003, trang 170-171].

Sự kiện này cho thấy tinh thần tương trợ của đồng bào và nói lên bộ mặt chìm của an ninh: Bộ thuộc địa vẫn nghi ngờ hoạt động bí mật của Phan Văn Trường tại Công binh xưởng Toulouse, họ theo dõi để diệt trừ.

Vậy hoạt động của Phan Văn Trường tại đây là gì?

Một mật báo, không ghi rõ ngày, viết:
"Hội những người An Nam yêu nước đã được thành lập từ nhiều năm nay do hai nhà cách mạng chống Pháp là Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh. Đó là một nhóm hoạt động rất tích cực. Trong suốt thời kỳ chiến tranh (1914-1918), trụ sở Hội này là nơi hẹn của rất nhiều binh lính An Nam và hạ sĩ quan cùng sĩ quan có cấp bực. Từ hồi hai người trên, Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh bị bắt vì tội chống an ninh quốc gia. Vào năm 1915, tuy Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường vẫn giữ vai trò lãnh đạo hội một cách không chính thức, nhưng thực tế thì đã là do chính Nguyễn Ái Quốc." (Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, Đông Nam Á, Paris, 1983, trang 44)

Nội dung mật báo này có 2 câu đáng chú ý:
- Câu "Vào năm 1915, tuy Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường vẫn giữ vai trò lãnh đạo hội một cách không chính thức, nhưng thực tế thì đã là do chính Nguyễn Ái Quốc", có chỗ sai, vì 1915 Nguyễn Tất Thành chưa sang Paris, và chưa chắc đã có tên Nguyễn Ái Quốc. Nhưng cũng có thể đúng, nếu thám tử coi Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn Thế Truyền hay một người nào khác.

- Câu: "Trong suốt thời kỳ chiến tranh (1914-1918), trụ sở Hội này là nơi hẹn của rất nhiều binh lính An Nam và hạ sĩ quan cùng sĩ quan có cấp bực", có lẽ đúng. Nếu đúng, nó xác định hoạt động và mối liên lạc giữa Phan Văn Trường với binh lính, sĩ quan Việt, từ tháng 7/1915 đến tháng 5/1919, tại Toulouse. Trụ sở hội ở đâu, không thấy nói rõ, có thể là nhà Phan Văn Trường, phố Taur, hoặc một nơi nào khác.

Họ gặp nhau để làm gì?

Phan Văn Trường trong hồi ký chỉ viết về việc ông bị theo dõi, bị nghi "oan" vì đã dịch thư xin hồi hương cho một đồng bào, mà không hở chút gì về hoạt động của ông tại Toulouse. Lý do dễ hiểu: hồi ký Phan Văn Trường đăng từng kỳ trên báo La Cloche Fêlée (Chuông Rè), từ 30/11/1925 đến 15/3/1926, chủ đích để "vạch trần chính sách thực dân" nên không phải việc gì cũng "công bố" được.

Về tội xúi giục binh lính Việt xin hồi hương, chắc không oan, vì đó là chiến lược của Phan Văn Trường: vận động một phong trào phản chiến trong lòng những sĩ quan và binh lính Việt. Và ông luôn luôn khôn khéo, không ra ngoài khuôn khổ của luật pháp: Việc họ đòi hồi hương, theo đúng hạn kỳ một năm mà chính phủ Pháp đã hứa hẹn, là đúng luật. Việc này Phan còn làm lại lần thứ nhì, trên báo L'Annam ở Sài Gòn năm 1926, kêu gọi lính Việt ở Trung Hoa, ngừng chiến đấu cho Pháp, và lần thứ hai này ông bị bắt, bị kết án cùng với một số tội trạng khác, phải sang Pháp tự biện hộ, nhưng vẫn bị tù (1929).

3- Nội dung các văn bản ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc

Một mặt khác, khi đọc toàn bộ những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc và hai tác phẩm Bản Án chế độ thực dân và Đông Dương (1923-1924), chúng ta có thể hiểu được hoạt động của nhóm Người An Nam Yêu Nước tại Toulouse: Nội dung tố cáo tội ác thực dân một cách xác thực, toàn diện và ghê gớm, chứa đựng trong toàn bộ các văn bản ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc này, cho chúng ta thấy đây là công trình dài hơi đã được thu thập tài liệu một cách quy mô trong một thời gian dài, trước khi các tác giả chấp bút.
Vì vậy thời gian Phan Văn Trường ở Toulouse là thời gian hình thành cuộc cách mạng bằng ngòi bút trên báo chí Pháp từ 1919 trở về sau.

Từ 1915 đến 1919, tại Toulouse, nhóm Yêu Nước đã tập hợp tài liệu và nhân chứng để chuẩn bị cho cuộc tranh đấu công khai bằng ngòi bút:
1- Hàng ngày tiếp xúc với lính thợ và sĩ quan Việt, Phan Văn Trường đã thu thập những nhân chứng quan trọng về chính sách dã man của thực dân. Đó là kho lưu trữ lớn nhất, gồm những thông tin từ hai phía: phía chính quyền, qua hồ sơ quân đội Pháp mà Phan tiếp cận được và phía nạn nhân, qua những điều mà người lính thợ Việt Nam kể lại với ông, có những trường hợp cá nhân cụ thể.
3- Phan Châu Trinh có thông tin từ những người Việt sang Pháp, đem lại.
5- 1918, Nguyễn An Ninh từ Sài Gòn sang (trước khi đi Pháp, Ninh đã ra Hà Nội học hai năm). Ông biết rõ tình hình cả Nam lẫn Bắc. Sau này, ông còn về nước nhiều lần.
6- Nguyễn Thế Truyền sau khi học xong ở Toulouse, cũng về Bắc một năm, từ tháng 8/1920 đến tháng 8/1921, trong thời gian này, ông quan sát thấy hiệu lực của phong trào: tên Nguyễn Ái Quốc được người trong nước coi như một vị anh hùng (Nguyễn Thế Truyền kể lại trong bài "Một người Bôn-Sê-Víc da vàng").
Khi trở lại Paris, Nguyễn Thế Truyền mở rộng địa bàn tranh đấu trên tờ Le Paria (Người cùng khổ) của hội Liên hiệp thuộc địa, cùng các nhà văn, nhà báo Châu Phi, Madagascar. Tại trụ sở báo Le Paria, Nguyễn Thế Truyền thu thập thêm thông tin, qua nhân chứng của các nhà báo Châu Phi và bạn đọc ở các thuộc địa gửi về toàn soạn.

Tất cả những dữ kiện đó, tạo ra một ngân hàng thông tin, mà các tác giả sử dụng để viết những bài báo, đúng ra là những bản cáo trạng, phơi bày sự thật về chính sách thực dân tại Đông Dương, dưới một bút danh bí mật Nguyễn Ố Pháp, rồi Nguyễn Ái Quấc/Quốc. Nguyễn Tất Thành là người đứng ra nhận tên Nguyễn Ái Quốc.

Khi viết về thời kỳ lịch sử này, phần lớn, nếu không muốn nói là hầu hết các nhà nghiên cứu Pháp-Việt đều coi Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc là ba nhân vật chính. Điều đó không sai.
Nhưng sự sai lầm đến từ sự kiện Nguyễn Tất Thành/Hồ Chí Minh không phải là tác giả những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc. Sở dĩ đến ngày nay, vẫn chưa có ai soi tỏ những sai lầm này, vì ba nguyên do sau đây:
1- Hồ Chí Minh "chính thức" nhận mình là Nguyễn Ái Quốc và khi viết hồi ký, ông đã tạo ra các bằng chứng để biện minh điều đó.
2- Sau khi thua trận, người Pháp có mặc cảm tự ti đối với Hồ Chí Minh. Mặc cảm này dường như đã thấm vào vô thức của nhiều người, kể cả các nhà nghiên cứu đứng đắn. Vì vậy, dù họ có đặt ra một số nghi vấn về tác giả Nguyễn Ái Quốc nhưng rồi vẫn mặc nhiên coi Nguyễn Ái Quốc là Hồ Chí Minh. Trường hợp Thu Trang-Gaspard trong cuốn Hồ Chí Minh à Paris, cũng tương tự. Riêng đối với một số đảng viên cộng sản Pháp (như sử gia Alain Ruscio, hay Léo Poldès, trách nhiệm Câu lạc bộ Faubourg), thì việc tung hô lãnh tụ Hồ Chí Minh bằng mọi giá còn có mục đích tuyên truyền cho đảng Cộng sản.

Một lẽ khác: Nhiều người Pháp, một mặt, không biết rõ những khó khăn của một người ngoại quốc học tiếng Pháp; một mặt, tưởng rằng Nguyễn Tất Thành cũng như hầu hết những thanh niên Việt sang Pháp thời ấy, đều rành tiếng Pháp; sử gia Daniel Hémery còn tin rằng Hồ Chí Minh đã có bằng Certificat d'études primaires. Ngoài ra, có người cho rằng ai viết thì cũng thế thôi, nhưng nếu lãnh tụ vĩ đại viết thì mới đáng kể.
Nhưng đối với người Việt, dưới vấn đề văn bản, còn cả một sự ngụy trang lịch sử không thể bỏ qua.
3- Sự nhầm lẫn của các nhà nghiên cứu, còn đến từ một sự kiện khác: việc sử dụng những báo cáo sai lầm của mật thám. Yếu tố sau cùng này là rường mối của các sai lầm mà chúng tôi gọi là sai lầm của những nhà nghiên cứu đứng đắn và sự kiện này cần được mổ xẻ, phân tích kỹ càng.

1    2

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét