Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2011

Đọc sách: “Những vấn đề môi trường Việt Nam” của tiến sĩ Mai Thanh Truyết

Phạm Xuân Đài

“Những vấn đề môi trường Việt Nam”, biên khảo của tiến sĩ Mai Thanh Truyết, 481 trang, do Vietnamese Amerian Science and Technology Society (VAST) xuất bản. Liên lạc: VAST, 2210 S. Azusa Ave., West Covina, CA 91792 – USA. Tel: (562) 896-8035. E-mail: EnviroVN@gmail.com

Những Vấn Đề Môi Trường Việt Nam của tác giả Mai Thanh Truyết là một cuốn sách có chủ đề về khoa học liên quan mật thiết đến đời sống của dân chúng Việt Nam.

Có lẽ môi trường là chuyện chúng ta rất thường nghe trong thời đại chúng ta, nhưng ít khi có dịp cảm nhận hoặc đối diện trực tiếp. Một sự kiện tất cả chúng ta thường gặp nhất liên quan đến vấn đề môi trường là việc đi làm smoke check cho chiếc xe của chúng ta, nhưng việc đó mấy năm mới xảy ra một lần. Còn trong đời sống bình thường của chúng ta ở vùng Quận Cam hiền lành này thì hầu như chẳng bao giờ có cảm nhận gì đặc biệt về vấn đề môi trường.

Thế nhưng một số quý vị về Việt Nam thăm gia đình khi quay lại Mỹ thường than là Sài Gòn bây giờ nóng bức, đầy khói xe và bụi, quý vị đó đang mô tả bầu không khí bị ô nhiễm của thành phố xưa kia là Hòn Ngọc Viễn Đông, nhưng nay đang là một hòn ngọc dính đầy vết bẩn. Một kinh nghiệm khác của chính chúng tôi: cách đây mấy năm tôi có dịp đi cruise trên sông Dương Tử ở Trung Quốc, suốt bốn ngày đi trên con sông dài nước xanh bát ngát. Một lần tàu dừng tôi ngỏ ý với nhân viên trên tàu muốn xuống sông bơi lội một lúc thì được trả lời: tuy trông nước nó trong xanh đẹp đẽ như vậy nhưng không thể tắm được, vì ô nhiễm rất nặng. Các nhà máy chế tạo xe hơi ở miệt Trùng Khánh và vô số nhà máy khác đã xả xuống sông tất cả nước thải công nghệ, khiến nước một con sông lớn và đẹp đẽ như thế không thể dùng cho sinh hoạt con người được nữa. Mà không chỉ sông Dương Tử, từ vài ba thập niên trước báo chí Tây phương đã báo động con sông mà ai cũng biết ở châu Âu là sông Danube với nhạc phẩm lừng danh Le Beau Danube Bleu – Dòng Sông Xanh, cũng đã hoàn toàn bị ô nhiễm vì chất thải kỹ nghệ của tất cả các quốc gia mà nó chảy qua.


Những ví dụ trên cho thấy, nhiều thứ đẹp đẽ, trong lành quanh chúng ta đang bị hủy hoại, không còn lành mạnh, và tình hình nói chung đã rất nguy cập cho cuộc sống của con người trên trái đất. Nhiều hiện tượng thiên nhiên bất lợi cho cuộc sống đã xuất hiện một cách trầm trọng khiến các nước lớn trên thế giới đã phải nhiều lần họp bàn cách cứu vãn trái đất này. Môi trường đã thành một vấn đề trọng đại nhất trong thời đại của chúng ta.

Đất nước Việt Nam của chúng ta từ khi mở cửa đón nhận đầu tư của ngoại quốc từ hơn 20 năm nay cũng đang trải qua thách đố rất nặng nề về môi trường. Đầu tư của ngoại quốc có nghĩa là những công ty nước ngoài đem vốn liếng và kỹ thuật vào mở hãng xưởng sản xuất công nghệ trên đất Việt Nam, vốn là một nước nông nghiệp nghèo nàn, nhân công rất rẻ. Các nhà máy khi vận hành thì phải thải ra những chất phế thải, thường là độc hại, ở dạng khí, dạng chất lỏng hoặc chất rắn. Thải đi đâu? Chất khí thì phun thẳng vào bầu khí quyển, chất lỏng thì cho xuống sông ngòi, chất rắn thì đổ vào các bãi rác. Đúng quy luật thì các chất thải độc hại phải được xử lý để loại chất độc đi, nhưng hầu hết các nhà máy ở Việt Nam đã không theo đúng quy trình này nên không khí, đất và nước của chúng ta bị ô nhiễm rất nặng nề. Và lần đầu tiên, một nhà khoa học Việt Nam, tiến sĩ Mai Thanh Truyết, đã bỏ công sức thu thập tài liệu, nghiên cứu kỹ để cho ra đời một cuốn sách về một vấn đề sống còn của nước ta hiện nay, đó là vấn đề môi trường bị ô nhiễm.

Với 480 trang sách, qua 25 chương trình bày nhiều chủ đề khác nhau, chúng ta có thể đúc kết nguy cơ ô nhiễm môi trường Việt Nam trong mấy dạng chính: đó là ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm mặt đất và ô nhiễm không khí.

Trước hết về ô nhiễm nguồn nước, tác giả cho thấy chất thải lỏng của các nhà máy kỹ nghệ đang là một vấn nạn lớn cho quốc gia, vì các chất này được thải thẳng xuống các dòng sông mà không qua xử lý. Cho đến hôm nay, tình trạng ô nhiễm trên những dòng sông Việt Nam đã tăng đến một mức độ kinh khủng và không có phương cách nào cứu chữa được nữa. Ở những vùng tập trung nhiều nhà máy, các dòng sông trước kia là nơi giặt giũ tắm rửa, nước sông được sử dụng như một nguồn nước sinh hoạt chính của gia đình người dân, nay hoàn toàn không thể dùng được nữa. Đó là các vùng:

- Lưu vực sông Cầu và các phụ lưu qua các tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hải Dương. Lượng chất lỏng được thải vào lưu vực sông Cầu ước tính khoảng 40 triệu mét khối một năm, gây mầm mống bệnh ung thư cho người và tôm cá hầu như không còn hiện diện nơi đây nữa.

- Lưu vực sông Nhuệ, có lượng nước thải công nghệ ước tính khoảng 120 triệu mét khối/năm, thêm vào riêng thành phố Hà Nội trung bình 20 triệu mét khối/năm. Hai hạ lưu ô nhiễm nặng nhất là sông Nhuệ và sông Tô Lịch không còn điều kiện cho tôm cá sống, và vào mùa khô nhiều đoạn trên hai sông này chỉ là những bãi bùn, được xem là các bãi rác lộ thiên.

- Lưu vực sông Đồng Nai và sông Sài Gòn. Hàng năm sông ngòi trong khu vực này tiếp nhận khoảng 50 triệu mét khối nước thải công nghiệp, chưa kể chất thải của trên 30 ngàn cơ sở sản xuất hóa chất trong thành phố Sài Gòn. Những hợp chất hữu cơ, kim loại độc hại như đồng, chì, sắt, kẽm, thủy ngân v.v... và vô số loại thuốc bảo vệ thực vật đã được thải thẳng xuống sông Sài Gòn. Sông Thị Vải trong khu vực này đã bị chất phế thải nhà máy bột ngọt Vedan của Đài Loan làm hư hỏng hoàn toàn.

- Lưu vực sông Tiền giang và Hậu giang: Hai sông này bị ô nhiễm là do hóa chất trong dư lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, kết quả của việc khai thác tối đa nguồn đất cho nông nghiệp. Đã có nhiều chỉ dấu cho thấy các hóa chất độc hại là mầm bệnh ung thư hiện diện trong nước hai sông này. Ô nhiễm nước cũng gây trở ngại cho việc nuôi thủy sản trên sông, khiến cá bè có khi chết hàng loạt.

Sau ô nhiễm nước là vấn đề ô nhiễm mặt đất. Những nguồn chính tạo ra ô nhiễm mặt đất tại Việt Nam hiện nay là việc sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật quá tải và bừa bãi, cùng với việc thải chất phế thải lỏng và rắn của các nhà máy sản xuất. Tất cả đều độc hại khi xâm nhập vào đất. Các hóa chất không tan sẽ nằm trong đất, cây cỏ sẽ hấp thụ vào rễ, thân, lá hay quả, con người hay súc vật ăn các thảo mộc này có nghĩa là đưa chất độc vào người, tích tụ dần dần để thành thứ bệnh thường nghe trong thời đại này, là bệnh ung thư. Còn những phế thải lỏng cho chảy trên mặt đất thì sẽ thẩm thấu vào đất, hòa nhập với dòng nước ngầm cũng sẽ tác hại vào đời sống và sự sản xuất của con người. Ngoài những nguồn trên, chính rác do sinh hoạt của đô thị thải ra, nếu không được xử lý đúng mức cũng trở thành nguồn ô nhiễm đáng kể. Tại Việt Nam hiện nay tuy luật lệ về môi trường có quy định khá rõ ràng về việc xử lý các chất phế thải, nhưng đại đa số chỉ hiện diện trên giấy tờ, vì thiếu nhân lực kinh nghiệm, thiếu ngân sách, việc kiểm soát và quản lý quá kém và quan trọng hơn hết là nạn tham nhũng.

Vấn đề ô nhiễm không khí dễ cảm nhận nhất là số xe cộ tăng gia quá mức tại các đô thị lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng. Mỗi thành phố đều có hàng triệu xe lưu thông hàng ngày, xả khói và tung bụi mịt mù vào không khí, và không khí ấy lại đi vào những lá phổi của người sinh sống ở đó. Lượng bụi ở những nơi này cao bốn lần hơn mức độ cho phép, cộng với khói xe sẽ gây nhiều chứng bệnh đường hô hấp cho dân chúng.

Đó là nói một cách tổng quát về ba nguồn ô nhiễm, nước, đất và không khí. Tác giả Mai Thanh Truyết trong tác phẩm của mình còn đi sâu vào một số vấn đề đặc biệt, như việc ô nhiễm arsenic, vấn đề phế thải y tế, về thực phẩm Việt Nam và vệ sinh an toàn thực phẩm Việt Nam, về việc khai thác quặng Bauxite ở cao nguyên v.v... Với cái nhìn của một người nghiên cứu khoa học nghiêm túc, vấn đề nào ông đưa ra cũng đầy đủ chứng cứ và luận cứ rõ ràng, chắc chắn, giúp chúng ta những độc giả bình thường biết được tình trạng đáng lo lắng thực sự về ô nhiễm trên đất nước của chúng ta. Ví dụ vấn đề chất thải y tế: các bệnh viện luôn luôn có những dịch vụ y tế như chữa trị, mổ xẻ và thử nghiệm, từ đó có nhu cầu thải đi quần áo của bệnh nhân và y công, bác sĩ sau khi chữa trị có dính máu và chất thải của người bệnh, cũng như các loại vi khuẩn, các bộ phận của con người bị cắt bỏ, các hóa chất, thuốc men cùng các dụng cụ dùng cho các sinh hoạt trên. Phế thải y tế dễ bị lây nhiễm và có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe con người nếu không được xử lý thích đáng.

Với ý thức trách nhiệm của một người trí thức đối với đất nước và dân tộc của mình, ông đã đóng góp nhiều ý kiến cụ thể để giải quyết các vấn đề ô nhiễm tại Việt Nam. Cuốn sách này không những chỉ giúp chúng ta hiểu biết về tình hình ô nhiễm của Việt Nam trong hiện tại mà còn cung cấp nhiều kiến thức về vấn đề ô nhiễm nói chung mà toàn thể nhân loại đang phải đương đầu. Tác giả cho chúng ta biết rằng, vấn đề ô nhiễm tại Việt Nam tuy có những đặc thù của nó nhưng nhìn chung thì cũng chỉ là một phần nhỏ của một tình trạng nguy hiểm chung của cả thế giới. Với tư cách một nhà khoa học, ông đã chỉ ra những phương pháp mà các chuyên viên của thế giới đã đề ra để cứu chữa các nguy hại do ô nhiễm gây ra cho đời sống con người, và cho thấy dù sao đó chỉ là các phương cách vá víu chứ không hoàn toàn giải quyết được vấn đề. Với các phương cách giải quyết “duy lý” như phương pháp hóa học, sinh hóa học hoặc các cách xử lý khác đều để lại các phụ phế phẩm và chính những chất này có thể gây ra nhiều vấn đề khác, cho thấy là dùng khoa học hay kỹ thuật thuần túy chỉ giải quyết vấn đề nhất thời, trước mắt. Một hướng giải quyết mới là dùng thiên nhiên để giải quyết và điều chỉnh những gì con người đã gây ra cho thiên nhiên, với quan niệm cơ bản là mọi sinh vật, kể cả cây cỏ đều có một đời sống riêng góp phần vào sự hài hòa của thiên nhiên, và nếu hủy diệt một mầm sinh vật nào đó có thể làm đảo lộn sự hài hòa ấy. Trong chiều hướng ấy các nhà khoa học đã tìm về thiên nhiên để suy nghiệm và lý giải từ các chu kỳ tuần hoàn của cây cỏ để đưa ra những phương pháp thích nghi cho việc xử lý ô nhiễm môi trường.

Quan niệm cơ bản của phương pháp mới này là, thay vì hủy diệt thiên nhiên, con người phải quay về và dựa vào thiên nhiên để nhờ thiên nhiên giúp giải quyết các vấn nạn cho mình. Từ nhận thức này của các nhà khoa học, tác giả Mai Thanh Truyết đã hé lộ cho chúng ta thấy giải pháp căn bản nhất nằm ở chỗ nào để giải quyết tận gốc rễ vấn đề ô nhiễm cho cả nhân loại hôm nay và cả cho các thế hệ con cháu chúng ta trong tương lai nữa.

Giải pháp mà ông nhìn thấy không nằm trong khoa học cũng như trong chính trị, mà nằm ở trong ĐẠO LÝ của con người. Con người sinh ra sống trên trái đất này đã để lòng tham của mình chế ngự, đã khai thác trái đất không chút nương tay, làm cho trái đất kiệt quệ, làm hỏng bầu không khí trong lành, làm bẩn dòng nước mà mình cần để ăn uống, tắm giặt, làm cho cây trái, súc vật thành bệnh hoạn, do đó thực phẩm không còn an toàn, làm cho khí hậu nóng lên, làm cho băng tan ra, làm cho mưa bão lụt lội ngày càng khốc liệt chứ không còn thuận hòa như xưa... Dĩ nhiên đời sống của con người đã đạt được văn minh tiến bộ nhiều mặt về vật chất, nhưng đồng thời con người phạm phải nhiều lỗi lầm khiến bà Mẹ Trái Đất phải bị thương tích quá nhiều, không che chở được cho đàn con của bà đang sống trên mặt đất được nữa. Vấn đề là đáng lẽ con người phải sống hòa hợp với thiên nhiên để có được cuộc đời lành mạnh, trái lại, con người đã để cho lòng tham sai khiến, cật lực khai thác thiên nhiên không cần biết những hậu quả tai hại về sau.

Sau một quá trình tiến như vũ bão của khoa học kỹ thuật dựa vào sự khai thác vô tội vạ Bà Mẹ thiên nhiên, loài người giờ đây đã ý thức rằng sự tiến bộ vẫn là không thể đảo ngược được, nhưng phải hoàn toàn điều chỉnh lại cách thức mà mình phải áp dụng để duy trì sự tiến bộ ấy. Đó là phải bảo vệ và tái tạo sự tuần hoàn nguyên thủy của thiên nhiên, phải tạo ra những công nghệ sạch để thay thế các nguồn năng lượng đang sử dùng hiện tại, và phải tìm cho ra các giải pháp thiên nhiên để giải quyết nạn ô nhiễm trên thế giới.

Hướng giải quyết này đang được tích cực nghiên cứu và ứng dụng. Ví dụ, thảo mộc có nhiều loài có thể “hóa giải” ô nhiễm, như cây hướng dương có khả năng hấp thụ phóng xạ, một loại cỏ ở vùng Alpine hấp thụ kẽm trong đất, cây bạch dương (poplar) hấp thụ TCE, tetrachloro methane, một loại bèo tên là duckweed hấp thụ nitrate, cây mù tạt (mustard) có khả năng hóa giải nickel v.v... Nói chung, khả năng sẵn có của thiên nhiên rất nhiều, vấn đề là phải khám phá ra và ứng dụng để làm sạch không khí, nước và đất. Và sự chuyển hướng này ngày càng có tính thuyết phục cao để tạo lại sự hài hòa trong chu kỳ của vạn vật. Con người chỉ có thể “sống yên” trong chu kỳ ấy, phá vỡ nó là lãnh mọi thứ tai họa cho mình.

Trong một tình hình như thế, quyển sách “Những vấn đề môi trường Việt Nam” của tiến sĩ Mai Thanh Truyết đã giúp soi sáng rất nhiều cho những kẻ có trách nhiệm cũng như tất cả chúng ta hiểu rõ tầm mức trầm trọng của vấn đề ô nhiễm, nhìn chung trên thế giới, và đặc biệt trên quê hương Việt Nam của chúng ta. Có thể nói đây là một cuốn sách không những lợi ích trong hiện tại mà còn nhắm tới một tương lai rất xa, cho nhiều đời con cháu của chúng ta về sau này.

February & March 2011

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét