Thứ Tư, 30 tháng 3, 2011

NHÂN TRỊ VÀ PHÁP TRỊ

Nguyễn Hoài Vân


Khuynh hướng Nhân trị

Phát nguồn từ đạo nhân, tức từ một tổng hợp bổn phận để con người có thể sống đúng với địa vị của mình đối với mọi người trong xã hội và đối với vạn vật vũ trụ (« Nhân dã giả, nhân dã » - Mạnh Tử). Tập hợp bổn phận này được xây dựng trên quan niệm mọi người đều cùng một bản thể với nhau và cùng bản thể với vũ trụ vạn vật, ví như anh em một nhà, nên có bổn phận phải nâng đỡ nhau để cùng triển nở tốt đẹp (Tử Hạ: “Tứ Hải Chi nội giai huynh đệ”- Trình Minh Đạo: “Vạn vật dữ ngã nhất thể dã”). Bản thể ấy cũng là bản thể của Trời, khiến con người cũng như thiên nhiên đều có phần linh thiêng tôn quý.


Áp dụng vào việc điều hành xã hội, Đạo Nhân cho ra những quan niệm căn bản của lý thuyết Nhân trị:

Quan niệm con người:

Con người được quan niệm một cách toàn diện, với phần vật chất, phần tinh thần và nhất là phần linh thiêng như vừa nói. Chính vì có phần linh thiêng còn gọi là Thiên tính này mà mọi người đều phải được kính trọng.

Quan niệm giáo dục

Trong thuyết Nhân trị là tìm lại và dưỡng nuôi cái tính trời tiềm tàng, nơi mỗi con người làm cho tính ấy không bị tư dục che lấp, để thể hiện mạnh mẽ trong cuộc sống. Giáo dục ở đây chủ trương hướng nội và tin tưởng vào cái Tính thiện nơi mỗi con người.

Quan niệm lịch sử:

Thuyết Nhân trị cho chân lý hay “đạo” hiển lộ ở quá khứ, rồi dần dần lu mờ đi với thời gian. Vì thế, cần lấy người xưa làm gương mẫu và đi tìm chân lý trong truyền thống. Đó là quan niệm lịch sử tiến hóa theo chu kỳ.

Quan niệm xã hội

Ở đây coi xã hội như một gia đình lớn như ý nghĩa câu “dân ngô đồng bào” của Trưng Tái. Xã hội cũng có thể được ví như một cơ thể lớn.

Quan niệm chính quyền

Trong thuyết Nhân trị coi nhà cầm quyền như Cha, Mẹ, Chú, Bác người dân, có bổn phận phải “thương dân như con đỏ”. Quan niệm chính quyền này trọng bổn phận hơn là quyền hành.
Quan niệm pháp luật: pháp luật ở đây bị coi như chỉ là sự bổ túc cho một tập hợp quy ước gọi là Lễ. Lễ là một thứ “luật” tự nhiên mà mọi người đều chấp nhận trong thâm tâm mình. Lễ được hình thành từ những yếu tố bẩm sinh, tức phần nào từ cái Tính thiện nơi mỗi người và từ một quá trình giáo dục, đào luyện lâu dài. Khi Lễ không còn đủ để điều hành việc nhân sinh, người ta cực chẳng đã mới phi dùng đến pháp luật.

Khuynh hướng Pháp trị

Phát nguồn từ học phái Lão Trang và học thuyết của Tuân Tử. Học phái Lão Trang chú trọng ở sự tuân theo định luật tự nhiên của vũ trụ, không làm gì cưỡng lại định luật ấy mà dẹp bỏ mọi tư dục để cho định luật ấy tự nhiên “làm” mọi việc qua mình. Đó là lý thuyết “Vô vi nhi vô bất vi” (không làm nhưng không gì không làm).

Tuân Tử chủ trương không thể chờ đợi giác ngộ định luật của Trời Đất, mà phải đặt ngay ra những quy luật làm tiêu chuẩn giải quyết việc nhân sinh xã hội. Ông cho Đạo không phải là Đạo Trời, mà là Đạo người. Ông cũng đề ra quan niệm con người mang tính ác, cần có những tiêu chuẩn từ bên ngoài để theo đó sửa đổi, điều tiết.

Từ khái niệm “định luật của vũ trụ” nơi Lão Trang đến sự phân biệt Đạo trời, Đạo người, của Tuân Tử, người ta đi tới quan niệm “Pháp” tức một hệ thống quy luật điều khiển toàn bộ nhân sinh hành vi có tính cách tuyệt đối, không được bàn cãi (Pháp bất nghị). Trên nền tảng ấy, lý thuyết Pháp trị được hình thành với những quan niệm cơ bản sau :

Quan niệm chính quyền:

Pháp gia chủ trương nhà cầm quyền không nên làm gì cả, mà chỉ dựa vào “Pháp” để thưởng phạt người dưới. Vì ai cũng ham được thưởng, sợ bị phạt nên sẽ đều tự động làm đúng “Pháp”. Đó là thái độ “Vô vi nhi vô bất nhi” của Pháp gia, ảnh hưởng Lão học. Quan niệm này trọng quyền hành hơn trọng bổn phận. Việc cai trị hoàn toàn dựa trên “Pháp” nên có căn bản là Vô Tư, Vô Tình, khác với kuynh hướng Nhân trị coi việc công như việc tư, coi người dưng như thuộc gia đình mình, trị nước như cha anh lo cho con em trong nhà vậy. Pháp gia có thể từ bỏ chính gia đình mình, trong khi người Nhân coi mọi người như người nhà, để cho dù thưởng hay phạt cũng không quên cái tình ấy.

Quan niệm xã hội:

Xã hội ở đây là một cái máy lớn, hành động của mỗi người đều phải phù hợp một cách chính xác với danh phận của mình như đã được quy định bởi “Pháp”. Làm sai, làm thiếu hay làm quá lố, làm dư ra đều bị trừng phạt. Công nhỏ quá hay công lớn quá đều mang tội (Hàn Phi Tử, Thiên 7). Thật vậy, một cơ phận trong bộ máy chắc chắn là không thể chạy nhanh hay chậm hơn tốc độ đã được quy định.

Quan niệm lịch sử của Pháp gia là quan niệm tân tiến, tức tin vào sự tiến bộ, vào sự giải quyết các vấn đề nhân sinh trong tương lai, nhờ vào việc đặt ra và thi hành “Pháp”. Khác với khuynh hướng Nhân trị, lịch sử ở đây tiến theo đường thẳng. Pháp Gia Hàn Phi cũng khẳng định điều kiện kinh tế quy định hướng tiến của lịch sử, trong khi Pháp Gia Thương Ưởng đề ra một tiến trình của lịch sử dựa trên một loại biện chứng pháp sơ khai với từng giai đoạn mang mầm mống của sự tự hủy diệt mình để hình thành giai đoạn sau (nhưng thiếu “thống nhất biện chứng”).

Quan niệm giáo dục ở đây thiên về hướng ngoại, dựa trên việc không theo một tiêu chuẩn bên ngoài. Pháp Gia nghĩ con người mang Tính ác, cần phải biến hóa cái tính ấy đi cho phù hợp với “Pháp”. Từ đó, họ coi con người như gỗ đá, có thể dư thì cắt bớt, thiếu thì chắp thêm (Hàn Phi – Hiển Học) họ cũng quan niệm “Chính giáo hợp nhất” (Lý Tư) đặt giáo dục dưới sự kiểm soát của nhà chính trị (Dĩ lại vi sư), và triệt để bài bác văn học, coi đó như nguồn gốc của sự chống lại “Pháp”.

Quan niệm con người:

Pháp gia coi con người như gỗ đá có thể đẽo gọt, hay như cơ phận của một bộ máy, phải chạy đúng như đã được quy định, với quan niệm ấy, họ có thể tiêu diệt một phần xã hội theo chủ trương “lấy số nhiều bỏ số ít” (dụng chúng nhi sả quả - Hàn Phi), khác với người Nhân, tôn trọng mỗi người như một biểu hiệu của Thượng Đế.

“Nhân” và “Pháp” trong trào lưu tư tưởng hiện đại :

Ngày nay người ta có thể coi như thiên về “Nhân” những tư tưởng quan niệm con người một cách toàn diện và từ đó tôn trọng con người với ý nghĩa “con người nói chung”, đề cao sự ôn hòa rộng rãi, chấp nhận những khác biệt, hướng về lý tưởng tự do, đặt nặng quyền lợi cá nhân. Trên trường chính trị, đó là những thể chế dân chủ, đặc biệt là dân chủ đa nguyên, là cách cầm quyền khách quan thực tế, là chủ trương bảo vệ thiên nhiên.

Ngược lại các tư tưởng thiên về “Pháp” thu hẹp định nghĩa con người, như coi con người chỉ là con người kinh tế, con người giai cấp (Marx), con người sinh lý (Freud), ý tưởng loại bỏ Thượng Đế trong đời sống con người (Nietsche), hay những tư tưởng gián cách con người với Thượng Đế, phủ nhận tính linh thiêng tự nhiên của con người và vạn vật của một vài tôn giáo mặc khải. Các tư tưởng thiên về “Pháp” thường quá khích, giáo điều chủ nghĩa, đề cao “Đồng” hơn là “Hòa”, trọng bình đẳng hơn tự do, bảo vệ quyền lợi cộng đồng (cộng đồng đân tộc, Quốc gia, giai cấp, tôn giáo...) hơn là quyền lợi cá nhân. Trên trường chính trị, đó là những thể chế độc tài, là cách cầm quyền chủ quan duy ý chí, là kinh tế chỉ huy, là những mô hình phát triển tàn phá thiên nhiên, phung phí tài nguyên thiên nhiên. Nói rộng hơn, sự hệ thống hóa việc nhân sinh hành vi, tức mọi chủ thuyết, ý thức hệ ... đều dễ thiên về “Pháp”. Thật vậy nếu chấp nhận rằng con người có những phần vượt ngoài mọi sự lý luận thì người ta buộc phải suy ra cái tác dung căn bản của các hệ thống lý luận là thu hẹp định nghĩa con người.

1   2

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét