Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2011

Làm cách mạng hay đấu tranh chính trị nghị trường ?

Trương Nhân Tuấn

Bất kỳ người dân nước nào cũng đều muốn thấy đất nước mình giàu mạnh, mọi người được sống trong cảnh ấm no, thái bình, hạnh phúc. Nhưng những điều này không thể chờ đợi từ một chế độ độc tài. Bởi vì, sự chậm tiến, trì trệ, thậm chí việc suy thoái của đất nước, hay những sự bất công, áp bức trong xã hội, việc đói rách thiếu thốn của đại đa số người dân… đều bắt nguồn từ thể chế độc tài. Không có một ngoại lệ nào. Trong khi đó, một chế độ « dân chủ », có thể bản thân còn rất nhiều khiếm khuyết, nhưng đến hôm nay vẫn cho thấy đó là một chế độ hoàn thiện nhất. Hoàn thiện vì nó có thể tự sửa đổi những khiếm khuyết theo thời gian, theo kinh nghiệm… để tự chuyển hóa cho « tốt » hơn. Tất cả các nước giàu mạnh trên thế giới hiện nay đều là các nước có chế độ dân chủ. « Xã hội chủ nghĩa » là một xã hội có thật, có thể thấy mô hình ở các nước Bắc Âu, mà xã hội này là sản phẩm của các chế độ dân chủ tự do, do sự tự điều chỉnh của chế độ dân chủ, chứ không phải là sản phẩm của Marx hay Lenin. Xã hội này đặt trọng tâm lên con người, nhà nước vì con người mới hiện hữu, do đó nhà nước có bổn phận đem lại hạnh phúc cho mọi người trong xã hội.

Ở Việt Nam chế độ độc tài do đảng cộng sản VN lãnh đạo từ hơn nửa thế kỷ nay. Đảng này đã không đem lại « hạnh phúc » thực sự cho người dân, mặc dầu họ đã long trọng tuyên thệ với quốc dân điều đó. « Hạnh phúc » đã là một lời hiệu triệu dưới cờ, từ khi đảng này chưa nắm được chính quyền. Lời hiệu triệu này còn long trọng hơn một lời cam kết. Nó đã khiến xương máu nhiều triệu người Việt, của nhiều thế hệ, đã đổ xuống dưới ngọn cờ đó. Do không thực hiện được, nó trở thành một món nợ cực kỳ lớn của đảng CSVN đối với dân tộc Việt Nam. Nó được tính bằng xương bằng máu của hàng chục triệu sinh linh, bằng tài nguyên cạn kiệt cũng như môi trường tàn phá của đất nước. Sự thất hứa đến ngày hôm nay đã trở thành một sự dối trá.

Nguyên nhân việc thất hứa ban đầu đến từ việc tổ chức xã hội theo mô hình cộng sản. Mô hình này đã thất bại. Vì có nhà nước xã hội chủ nghĩa nào đã đem lại cơm đủ no, áo đủ ấm cho người dân ? Không có nước nào hết ! Đó là chưa nói đến việc ăn ngon, mặc đẹp (tiêu chuẩn đơn giản về hạnh phúc). Nhưng sau đó là do yếu tố con người. Tâm lý của những người trong đảng CSVN vẫn còn tính phong kiến theo lối nông nghiệp làng xã, vì họ đa số (nếu không nói là hầu hết) đều ít học, xuất thân từ chốn « nông dân » hay thành phần vô sản. Ác tính lớn nhất của họ là đam mê quyền lực, thứ đến là thiếu kiến thức, sau nữa là tính cố chấp và lòng tham. Thống kê về mất mát ở các nước XHCN cũ cho thấy việc « xây dựng XHCN » ở các nước đó đã đánh mất 3 thập niên phát triển. Ở VN thì phải hao tổn hơn nhiều, vì ở đây việc mất thời gian đã đành, mà còn biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt và máu xương của người dân đã vô ích đổ xuống, do sự thiển cận của tầng lớp lãnh đạo. Vì thế việc chuyển hóa chế độ ở Việt Nam (sau khi hệ thống quốc tế cộng sản sụp đổ) đã không xảy ra như những nước XHCN cũ khác. Nó từ một nền độc tài chuyên chính giáo điều chuyển sang một nền độc tài phe đảng. Ở chế độ độc tài chuyên chính, sự hy sinh hay đóng góp của người dân dầu sao cũng vì một « chính nghĩa », thí dụ xây dựng XHCN hay « thiên đường cộng sản ». Vấn đề chỉ ở thành công hay thất bại. Thì ở chế độ độc tài đảng trị ở VN hiện nay, mọi hy sinh hay đóng góp của người dân đều trở thành một phi lý. Vì danh nghĩa « tiến lên xã hội chủ nghĩa » hay « xây dựng xã hội chủ nghĩa » đã không còn là một « danh nghĩa ». Nó chỉ được đảng CSVN sử dụng như một tấm bình phong, tức là lợi dụng, để tập đoàn lãnh đạo (cùng gia đình bằng hữu) bóc lột công sức người dân cũng như sang đoạt của cải và tài nguyên của đất nước. Nhìn nếp sống của các « đại gia » ở VN hiện nay, nếu họ không là con cháu lãnh đạo thì cũng có « móc ngoặc » với tầng lớp lãnh đạo. Nếu không thì làm sao họ có thể xây dựng tài sản một cách dễ dàng và phung phí một cách dễ dàng như vậy. Khẩu hiệu « xã hội chủ nghĩa » hôm nay vì thế là một khẩu hiệu dối trá. Xã hội XHCN lý ra đặt trọng tâm là sự công bằng (đôi khi thực hiện điều này, do lãnh đạo thiếu kiến thức, lại cào bằng xã hội). Xã hội VN lại đặt trọng tâm vì quyền lợi của (một số) đảng viên (lãnh đạo) và gia đình, bằng hữu của họ. Đây là một xã hội của bất công, bóc lột và áp bức. Rõ ràng nhà nước này không phải là một nhà nước XHCN (độc tài chuyên chính) mà là một nhà nước đội lốt XHCN, bản chất là độc tài băng đảng, theo lối mafia, dùng quyền lực để ăn rút của cải của người dân (và chiếm đoạt tài nguyên và của cải của đất nước).

Đảng CSVN cũng đã hứa hẹn người dân trong khẩu hiệu « tự do ». Đây cũng là một lời hứa long trọng trước quốc dân từ thuở ban đầu khi họ chưa nắm được chính quyền. Ở điểm này họ đã phản bội với người dân từ khi vừa nắm được chính quyền từ thập niên 50 của thế kỷ trước. Những quyền tự do cá nhân (khá rộng rãi) có sẵn trước đó từ thời thực dân, như tự do báo chí, tự do sinh hoạt đoàn thể, tự do tín ngưỡng v.v… đều bị tước đoạt vừa khi đảng CSVN lập nước. Ngày xưa, đảng CSVN nhân danh « xây dựng xã hội chủ nghĩa », trên nền tảng văn hóa mới XHCN, do đó mọi quyền tự do cá nhân (cũng như các dấu tích văn hóa cũ) đều bị cấm chỉ và xóa sạch. Nhưng ngày hôm nay, việc « xây dựng xã hội chủ nghĩa », hay « tiến lên XHCN », đã mất danh nghĩa. Đáng lẽ đảng CSVN phải trả lại quyền « tự do » lại cho người dân, hay ít ra là thực hiện đúng theo lời hứa của họ từ hơn nửa thế kỷ trước. Nhưng đảng CSVN vẫn nhân danh cái bình phong XHCN để mà đàn áp, bắt bớ, giam cầm… để tước đoạt mọi quyền tự do, cho dầu ở mức độ cơ bản nhất, của mọi người dân. Mọi hành động biểu lộ quyền tự do của con người đều bị bóp nghẹt. Đây không còn là việc thất hứa mà là hành động lừa bịp ở bình diện quốc gia.

Đảng CSVN cũng đã hứa hẹn người dân trong khẩu hiệu « độc lập ». Đất nước này chưa hề thật sự độc lập kể từ khi đánh đuổi thực dân Pháp. VN làm sao có « độc lập » khi đứng trong khối XHCN ? Nếu có độc lập, tức có trọn quyền lãnh đạo đất nước, thì tại sao ý kiến của các « cố vấn » Tàu lại được nghiêm chỉnh chấp hành vào thập niên 50 (của thế kỷ trước), cho dầu việc « cải cách ruộng đất » là một việc làm bất nhân, đã gây thiệt hại tiềm năng và gây hao mòn cho VN ?! Sau khi « đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào » VN có thật sự độc lập trong các chính sách đối ngoại (hay đối nội) hay lệ thuộc theo đường lối chính trị của Liên Xô ? Trong khi đó, đảng CSVN đã tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Phần lớn các lý do nền tảng của TQ trưng bày trước quốc tế khi họ đòi chủ quyền tại HS và TS cũng như 80% biển Đông là do đảng CSVN cung cấp. Lãnh đạo đảng CSVN trước đây cũng đã cam kết với lãnh đạo đảng CSTQ là Trung Quốc có chủ quyền tại vùng biển thuộc Hoàng Sa và Trường Sa. Các lãnh đạo đảng CSVN sau này đều khẳng định việc tôn trọng các hứa hẹn này.

Chủ trương « quốc tế hóa tranh chấp biển Đông » mới đưa ra gần đây cho thấy tinh thần lệ thuộc của đảng CSVN. Theo đó việc quốc tế hóa được đồng nghĩa với việc giới hạn quyền chủ quyền của VN tại biển Đông. Trong chừng mực khác, VN cũng từ bỏ vĩnh viễn quyền chủ quyền của mình trong một số vùng ở biển Đông, mặc dầu các vùng biển này, đứng trên quan điểm lịch sử hay quốc tế công pháp, đều thuộc về VN. Trong khi đó, việc tranh chấp biển Đông lý ra phải được giải quyết dưới ánh sáng của « quốc tế », theo bản Tuyên Ngôn Thiên Niên Kỷ của LHQ. Nhưng muốn đạt được việc này thì VN phải tôn trọng « nhân quyền », theo như qui định của Hiến Chương. Do đó đảng CSVN thà bị mất nước chứ không chịu mất quyền. Mà thực ra, việc tôn trọng nhân quyền chỉ thu hẹp bớt quyền hành của đảng CSVN, chứ không hề có ý định (hay mục đích) loại trừ đảng này ra khỏi lãnh vực chính trị. Khẩu hiệu « độc lập » vì thế cũng là bánh vẽ.

Điều ngạc nhiên, trước những điều thất hứa, nếu không nói là lừa đảo, « nổi cộm » của đảng CSVN như thế, mà xã hội VN vẫn bình ổn một cách lạ thường ! Không một lời tố cáo !

Không lẽ trí thức VN đều không thấy ? Hay đây là một sự đồng thuận trí thức ở cấp độ quốc gia ?

Vừa qua cuộc « cách mạng hoa lài » đến từ các nước Ả Rập Bắc Phi đã « gây hứng » trong nhiều người, nhiều thành phần trí thức Việt Nam. Nếu xem xét tỉ mỉ các cuộc cách mạng tại đây thì ta sẽ thấy vai trò của các tổ chức chính trị, cũng như của các « nhân sĩ » nổi tiếng, đều không có ảnh hưởng hay tác động gì đến các cuộc cách mạng. (Thí dụ : ông Boutros Boutros-Ghali, từng làm Tổng Thơ Ký Liên Hiệp Quốc hay ông Mohamed El Baradei từng lãnh đạo AIEA, tức Cơ Quan quốc tế về năng lượng nguyên tử, là các nhân sĩ Ai Cập rất nổi tiếng trên thế giới, nhưng những người này rất có ít ảnh hưởng đến quần chúng trong nước). Cuộc cách mạng thành công là do các hạt nhân « xã hội dân sự », như các hội luật sư, hội giáo chức, hội sinh viên học sinh v.v… đã có sẵn từ lâu tại các nước này. Tức là những người trong nước. Nếu muốn áp dụng « mẫu mã » từ các nước Bắc Phi vào Việt Nam thì điều cần thiết là phải xây dựng xã hội dân sự. Nhưng làm được điều này sẽ mất nhiều thì giờ (vài mươi năm) nhưng trước mắt là không khả thi vì sự bất dung của chế độ.

Trong thời gian qua, trong nước có nhiều nỗ lực cố gắng xây dựng một « xã hội dân sự », thể hiện (thí dụ) qua hình thức « viện nghiên cứu », tiếc thay đều thất bại. Nhà nước độc tài có lý do để dập tắt các nỗ lực này từ trứng nước vì xã hội dân sự là nền tảng của một chế độ dân chủ. « Xã hội dân sự », thể hiện qua các tổ chức tương tế, các đoàn thể phi chính trị, các liên đoàn công nông (nói chung là những tập hợp nhân sự có cùng ngành nghề, cùng quyền lợi, cùng mục đích xã hội… lập ra nhằm bảo vệ lợi ích hay thực hiện mục tiêu thiện nguyện của mình). Xã hội dân sự càng lành mạnh thì nền tảng của chế độ dân chủ càng vững chắc. Một nhận xét, xã hội Việt Nam có dư thừa nhân tố để thành lập một xã hội dân sự tốt đẹp. Điều này được phản ảnh qua các trang nhà internet, như facebook v.v… của giới tinh hoa, trí thức Việt. Đáng tiếc là hệ thống các trang mạng này chỉ hoạt động rời rạc với nhau, chưa gắn bó để đạt đến mức độ « pseudo-organisation » như trường hợp tuổi trẻ ở các nước Ả Rập (Bắc Phi). Trở ngại này là trở ngại « tâm lý », nhưng nếu không thay đổi thì sẽ khó nắm bắt và khai thác đúng mức một cơ hội.

Hiện nay trên các diễn đàn báo chí Việt Nam, nhiều tiếng nói cất lên, đặt nặng về vấn đề « tổ chức chính trị », xem đây là giai đoạn không thể thiếu để một cuộc cách mạng xảy ra suông sẻ. Dĩ nhiên, có thể một « tổ chức chính trị » sẽ cần thiết để lãnh đạo chính trị sau cách mạng, nhưng nó không phải là điều quan trọng đến mức « không thể thiếu » để làm « cách mạng » như nhiều người nhận định. Để ý sẽ thấy các nước Tunisie, Ai Cập, trước « cách mạng », đều là các nước đa đảng, tức có nhiều đảng phái sinh hoạt trong nghị trường. Trong khi việc thành lập đảng phái chính trị tại VN sẽ « nhiêu khê » gấp trăm lần việc thành lập các hạt nhân thuộc « xã hội dân sự ». Vì theo hiến pháp, chỉ có đảng CSVN mới có tư cách lãnh đạo đất nước, tức « làm chính trị ». Hành động lập tổ chức chính trị đồng nghĩa với việc ký tên vào bản án « chống phá nhà nước ». Hãy nhìn Nguyễn Tiến Trung, Trần Hùynh Duy Thức… mà làm gương. Nếu mọi người chỉ suy nghĩ (một cách đơn thuần về tính cần và đủ) về « tổ chức chính trị », đem hết thời giờ để thực hiện nó, có thể sẽ không đi đến đâu, nếu không nói là phí phạm nhân sự và thì giờ. Nên biết công trình này đã kéo dài từ vài mươi năm nay. Quá khứ đã không thành công thì không hy vọng gì sẽ thành công bây giờ. Nhất là cách suy nghĩ và cách làm việc vẫn không thấy thay đổi.

Nếu lấy hứng về một cuộc cách mạng « hoa hòe » cho Việt Nam thì rõ ràng phe « dân chủ » VN lâm vào tình trạng « đi lên kẹt núi, trở lại kẹt sông ». Tức bế tắc hoàn toàn. Mùi hương hoa lài cùng lắm chỉ dừng lại ở mức « gợi hứng ».

Lý ra không nên so sánh VN với bất kỳ nước nào, vì tình trạng xã hội, văn hóa, lịch sử… của VN không hề giống với một nước nào, để có thể lấy các nước đó làm nguồn hứng. Cách mạng hoa lài thành công ở các nước Bắc Phi nhưng không chắc sẽ thành công tại VN nếu mọi người áp dụng nó một cách máy móc như một công thức toán học.

Trong một xã hội như Việt Nam, cơ hội « cách mạng bùng nổ » không hề thiếu. VN có thể thay đổi một cách ngoạn mục bất cứ lúc nào. Lịch sử cận đại đã ghi nhiều trường hợp sụp đổ của các chế độ độc tài, tưởng vững như bàn thạch. Điều lo ngại, những sự sụp đổ như thế đều đem lại tổn thất rất lớn cho đất nước về vật chất cũng như sự chia rẽ sâu xa của nhiều tầng lớp dân chúng trong xã hội. Mà điều này không ai muốn.

Vì thế, tại sao trí thức Việt Nam, những người có « tâm huyết » về các vấn đề văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội… của Việt Nam không ra ứng cử đại biểu Quốc Hội ? Nếu không xây dựng được xã hội dân sự (như ý muốn hay theo mô hình các nước Tây phương) thì tại sao không « tông cửa » chính trị, khi mà nhà cầm quyền mới hé cửa, để thực hiện những hoài bão của mình ? Không làm được « cách mạng » thì tại sao không đấu tranh « chính trị nghị trường » để giải tỏa bế tắc ?

Sẽ là điều hay nếu giới tinh hoa Việt Nam tự động nộp đơn ra ứng cử đại biểu Quốc Hội vào tháng 5 sắp tới. Càng đông càng tốt, nộp đơn tập thể càng hay hơn. Mỗi người viết đơn nộp theo qui định của Hiến Pháp (và theo luật hiện hành) đồng thời cũng nên công bố đơn ứng cử của mình trên báo chí, trên mạng internet. Sẽ ngoạn mục hơn, cho những người có khả năng tài chính, nếu in và lưu truyền được các bích chương hay các truyền đơn vận động bầu cử trong dân chúng. Dĩ nhiên tất cả đều làm theo những qui định của « Hiến Pháp » và « luật lệ hiện hành » về thể lệ bầu cử và ứng cử. Điều nên ghi nhận, những gì hiến pháp và « luật lệ » không qui định (hay không qui định rõ ràng) thì nên hiểu điều đó luật lệ cho phép. Ý kiến này người viết đã từng đề nghị từ nhiều năm về trước.

Đâu, những nhà trí thức « bô xít » ? Muốn việc thác bô-xít bác bỏ thì không thể đơn thuần viết báo và làm thỉnh nguyện thư. Thử một lần lăn xả vào « chính trị » xem sao ? Dự án khai thác « bô xít » không phải là một dự án đơn thuần kinh tế mà là một dự án « chính trị ». Không thể lấy bài toán « kinh tế », « môi trường » thuyết phục, để chống đối một ma trận chính trị.

Đâu, những nhà trí thức IDS ? Sự phá sản (gần như vậy) của Vinashin đã gợi hứng gì cho quí vị ? Rõ ràng Vinashin bị sụp đổ là do sự móc ngoặc giữa bộ ba quyền lực chính trị, thân hữu và tư bản man rợ nhằm sang đoạt của cải của toàn dân. Việc này đang lây lan ra đến Tổng công ty Dầu Khí và Tổng công ty Điện lực VN. Các « trụ cột » kinh tế này đang trong tình trạng bị « rút ruột » (như Vinashin). Chẳng bao lâu đất nước này sẽ phá sản. Các thế hệ tương lai của dân tộc này sẽ chỉ là những con trâu, bò kéo cày trả nợ. Những sự thay đổi trong chế độ ở VN hiện nay căn bản là kinh tế. Nhưng nghĩ làm sao, thời buổi này, lãnh đạo quì lạy những vật vô ý nghĩa (như con rùa Hồ Gơm), hay đi xin xâm các đền thờ… cầu nguyện cho « quốc thái dân an ». Vấn đề mê tín dị đoan nổi lên cùng khắp xã hội cho thấy mặt trái xã hội : lãnh đạo bất tài. Dân bất an, tức không có niềm tin về tương lai, do đó mới mê tín. Đó là hiện tượng của các xã hội thời thượng cổ. Lãnh đạo mà không làm cho đất nước giàu mạnh lên (quốc thái) hay dân an (thấy có tương lai) thì do bất tài, nên từ chức. Vì nếu có tài kinh bang tế thế thì không ai đi cầu nguyện vớ vẩn như thế. Giải pháp ở đây là chính trị chứ không phải kinh tế.

Đâu, những nhà trí thức khoa bảng, nhà văn hóa, nhà giáo, luật gia, nhà báo, nhà văn… ? Phải chăng về mọi phương diện, xã hội VN hiện nay đều có những « bất cập » - có người nói « bất cập » đồng nghĩa với « thất bại ». Nhất là các vấn đề thuộc phạm vi giáo dục. Bao lâu nữa thì người Việt sẽ « mất nước », hay « mất gốc » ngay ở trên đất nước của mình ? Nhiều tiếng nói lương tâm của nhiều thức giả đã gióng lên, như cụ Hoàng Tụy mới đây, cảnh tỉnh giới lãnh đạo VN về sự phá sản của nền văn hóa, giáo dục VN. Đây là một thái độ đáng kính, vì dầu sao, một căn nhà rách, khổ thay không thể giật sập để xây căn nhà mới, vì đó là nền tảng văn hóa của giống nòi, do đó giữ được chút nào hay chút đó. Nhưng đáp số của mọi vấn đề chủ ở chính trị.
Dĩ nhiên quí vị không có hy vọng nào thắng cử. Ai cũng cảm nhận được điều đó. Nhưng làm việc gì cũng phải có bước đầu. Vạn sự khởi đầu nan. Nhưng nhất thiết không thể há miệng chờ sung, chờ ngày được « cởi trói ». Nếu chờ ngày được « cởi trói » thì ngày đó sẽ không bao giờ có. Họ sẽ thả quí vị, như những con chim, từ cái lồng nhỏ sang cái lồng lớn hơn. Thực tế mấy mươi năm nay đã chứng minh.

Xã hội Việt Nam cần thay đổi để đi lên nhưng không thể với tiến độ và phẩm chất của sự thay đổi đã thấy hôm nay. VN cần một cuộc « cách mạng » lớn. Việc trí thức VN dấn thân làm chính trị là một cuộc cách mạng lớn hơn mọi cuộc cách mạng nào khác trong lịch sử của VN.

Lúc đó muốn đặt tên hoa nào lại không được ?

Trương Nhân Tuấn


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét