Thứ Năm, 3 tháng 3, 2011

GHÉ THĂM CÁC BLOGS: 3/3/2011

BLOG PAULUS LÊ SƠN


 “Chính sách một con” của độc tài cộng sản Trung quốc được triển khai thời ông  Đặng Tiểu Bình  từ năm 1979. Chính sách được thực hiện bằng một loạt biện pháp từ việc tưởng thưởng các gia đình gương mẫu đến việc buộc ngừa thai đối với những cặp vợ chồng có nhiều hơn một con. Mới đây, chính quyền độc tài lớn nhất thế giới này tiếp tục đưa ra chính sách cũng là “một con” với loài động vật là con Chó. Bắt đầu từ tháng năm tới đây sẽ được áp dụng.


Chính sách một con <> sau 30 năm thực hiện đến nay đã có “hiệu quả thiết thực” theo định hướng XHCN. Trên thực tế, sau ba thập niên, mặt trái của chính sách một con ngày càng lộ rõ và Trung Quốc vẫn là nước đông dân nhất thế giới. Hai vấn đề nan giải đang song hành với nhau, một mặt thì dân số Trung Quốc đang già đi rất nhanh, khiến một đứa trẻ sinh ra trong thời Một Con nay phải gánh chịu sức nặng nuôi dưỡng ngày càng nhiều người về hưu. Một mặt thì Trung Quốc đang đối diện với thực tế khủng khiếp là đàn ông không tìm thấy vợ vì “thai nhi đã bị giết ngay” khi người ta phát hiện ra giới tính là nữ. Điều này đã tạo ra một hậu quả nghiêm trọng của việc mất cân bằng giới tính đẩy chiếc kim đồng hồ đang quay nhanh về phía khủng hoảng.

Nguyên nhân khiến cho Chó cũng có nguy cơ diệt chủng hoặc là “mất cân bằng giới tính” được một số báo dẫn lời là do có nhiều người bị cho là Chó cắn.

Với việc “kế hoặch hóa” sinh đẻ áp dụng cho Chó, tất nhiên sẽ có một số lượng lớn Chó bị giết bỏ, như vậy mới đảm bảo thực hiện đúng chính sách của nhà nước độc tài này đề ra.

Trên BBC ngày 24/02 cho biết, dự luật này đã gây ra nhiều tranh cải trong giới soạn luật.

Đây có thể là một trong những dự luật khắt khe nhất trên thế giới của con người can thiệp vào cuộc sống của các loài động vật. Nạn nhân đầu tiên là những chú  Chó, có thể sau đó sẽ áp dụng cho nhiều loài động vật khác quí hiếm hơn như Hổ, Báo, Gấu…

Người xưa có câu “Nhất Mộc, Nhì Sành, Tam Tranh, Tứ Thú”. Trong bốn sở thích lớn nhất của con người, thì các loài thú được cất nhắc lên hàng thứ 4.  Con người có nhiều thú tiêu khiển khác nhau, mỗi cá nhân có niềm đam mê riêng, có người  thích nuôi Chó, có người lại thích nuôi Mèo, nếu có thể nhiều người còn nuôi cả Hổ, Báo. Đặc biệt như bên trời Tây, con người rất tôn trọng và bảo vệ các loài thú vật.

Việc đưa ra dự luật nuôi một Chó tại Trung Quốc có lợi như thế nào?  Nhưng trước hết chúng ta có thể nhận thấy, nếu mà dự luật này được áp dụng triệt để như “chính sách một con” của Đặng Tiểu Bình thì một ngày gần đây nhất loài Chó tại Trung Quốc sẽ mất cân đối trong môi trường tự nhiên.

Phương pháp để thực hiện kế hoạch hóa Chó duy nhất là “Phá Thai”. Nếu theo tự nhiên sinh học thì Chó hay có những lứa đẻ bất ngờ, và thường là một Chó mẹ có thể mang thai và đẻ ra nhiều Chó con. Vậy mà mỗi chủ nhân sẽ có 3 tháng để tìm nhà cho vật cưng của mình, nếu không chúng sẽ được đưa đến các cơ sở nuôi chó thì  phương án thay thế duy nhất là triệt sản. Triệt sản sau 5, 10 năm thì Chó có còn tồn tại ở Trung Quốc không?.

Nếu không còn Chó tồn tại trên đất nước Trung Quốc thì môi trường tự nhiên trên đất nước đó có bị xáo trộn, có bị ảnh hưởng tới cuộc sống của các loài thú khác, thậm chí ngay với cả con người?.

Chó không biết nói tiếng người nên nó không thể lên tiếng được trước chính sách “đàn áp dân số” của nhà cầm quyền đối với chúng. Một tiếng nói cho “danh dự, nhân phẩm và sự tồn vong” của chúng có lẽ là không thừa.

Nói để cho tâm đỡ can phẫn, uất ức thôi chứ không hi vọng gì nhiều ở một đất nước độc tài cộng sản lớn nhất và khát máu nhất thế giới, ngay đối với đồng loại của họ mà còn áp dụng chính sách “diệt chủng” thì nói gì đến loài Chó.

Hà Nội,25.02.2011

Paulus Lê Sơn


BLOG ĐÀO TUẤN


Thế là giá điện đã chính thức tăng. Giá xăng dầu chính thức tăng. Giá tân dược chuẩn bị tăng. Giá sữa sắp tăng hàng loạt. Giá nước chuẩn bị được “điều chỉnh”. Ngoài cây xăng, dù Bộ Tài chính đến 9h sáng vẫn im thít- hàng đoàn người xếp hàng rồng rắn với can nhựa, túi ni lon như thể không mua là… hết. Trong chợ, bất cứ cái gì cũng đã tăng. Và Tiền Phong thì đưa một bức ảnh pờ rồ máy cày 4 cẳng “ngưu lực”, 2 cẳng “nhân lực”.

Có vẻ như những phát biểu của bác Kiên, Phó chủ tịch QH mà các báo đăng tải ồ ạt sáng nay- đã không còn hợp với thời thế nữa.

Tờ SGTT sáng nay giật tít: Cầm 100 ngàn đồng đi chợ không biết mua gì. Trên Thời  báo Kinh tế Việt Nam thì : “Cầm 100 nghìn đi chợ cứ như đi tay không”. Bác Kiên tâm sự: “Giờ cầm 100 nghìn đi chợ cứ như đi tay không, rất may là có bà vợ đi chợ giúp chứ không lương của tôi mà ra chợ bây giờ chỉ được mươi mười lăm ngày là hết”. Và Vnexpess: 'Vợ tôi cũng kêu ca về lạm phát', rằng: "Ở nhà, vợ tôi cũng bảo cầm 100.000 đồng đi chợ chẳng mua được gì".

Khi trả lời các báo, giá điện và xăng dầu chưa tăng, chứ để chậm 1-2 hôm nữa, không khéo câu của bác Kiên sẽ là “cầm 200 ngàn đi chợ”.

Cũng may là vợ bác Kiên cũng đi chợ, cũng phàn nàn như bất cứ người dân nào về chuyện giá cả cái gì cũng tăng. Cũng may là bác Kiên cũng hiểu- dù chắc chỉ một phần- nỗi thống khổ của dân chúng. Nhưng biết rồi thì sao, thưa bác Kiên Quốc hội? “Tôi bảo bà ấy và mọi người phải tính toán cho phù hợp”- Bác Kiên nói.
Nghe câu này cứ thấy quen quen. Hình như mỗi độ thiếu điện, ngành điện đều kêu la rằng dân mình phung phí và khuyên bà con nên tiết kiệm tiền túi. Lời khuyên của bác Kiên cũng không lạ, là bởi hôm qua, website Chính phủ cũng đã có một bài, gọi là “Khi đất nước khó khăn, càng phải đẩy mạnh tiết kiệm”. Bài này hay nhất ở câu “Một bộ phận lớn dân cư cuộc sống được cải thiện, đã có bát ăn bát để, thế nên hai chữ “tiết kiệm” đã bị nhiều người … lơ là!”. Thậm chí: “Nhiều khách nước ngoài phải ngạc nhiên khi thấy có những người Việt Nam đã dùng đồ thuộc diện hàng hiếm trên thế giới, từ ô tô, điện thoại di động, hoá mỹ phẩm, đồ trang sức, đồ may hàng hiệu...”. Đọc cái biết ngay năm nay nghề có khả năng trúng đậm nhất là nghề buôn… dây chuối.

Mình chỉ không hiểu vì sao một tờ như SGTT còn chơi bạo hơn cả website Chính phủ khi mở hẳn hoi một diễn đàn gọi là “Chi bạo”. Ồ, nguyên nhân của nhập siêu là tại đám thị dân, càng ùn tắc càng thích đi ô tô? Nguyên nhân của những khó khăn kinh tế là bởi dân mình làm 1 tiêu 4, nghèo nhất nhì thế giới nhưng ăn chơi cũng thuộc dạng hàng đầu. Cứ theo logic này khéo một ngày nào đó sẽ có báo đề xuất phương án phát triển kinh tế khả dĩ bằng cách di dân sang Libye.

Nhưng chẳng phải chờ lời khuyên của một quan chức hàng đầu Quốc hội, cơ quan có nhiệm vụ phê chuẩn các mục tiêu của Chính phủ, từ năm 2008, dân chúng đã học cách buộc dây chuối. Mà rất đau là trong các chi phí bị buộc phải cắt giảm- vì không kham nổi lạm phát- nhiều người đã chịu đau để không phải trả tiền thuốc, và viện phí. Nhiều người khác thì “cắt” chuyện học hành của bọn nhỏ. Nói có sách, mách có chứng, đây là những điều được liệt kê trong một báo cáo về tác động của lạm phát do Trung tâm nghiên cứu dư luận vầ phản biện xã hội tiến hành. Mà trên tờ PL TP, bác Kiên thậm chí còn so sánh: Kinh tế 2011 khó khăn không kém 2008 khi trả lời một câu hỏi tuyệt hay của nhà báo Nghĩa Nhân “Nhiều chuyên gia phân tích, so sánh lạm phát như “thuế đánh vào người nghèo”.

Đã nghèo thì lại “có bệnh” nhạy cảm với giá cả. Đã nghèo thì việc vnd mất giá 1% hay xăng dầu, điện nước tăng chỉ 165 đồng/số điện hay “chưa tới 3 ngàn đồng” mỗi lít xăng cũng đủ đế những người vừa bám tay lên thành giếng cận nghèo lại tiếp tục tuột tay rơi xuống. Nghèo, thì thường là chẳng mấy ai quan tâm, bởi có quan tâm cũng rất khó hiểu thế nào là chuyện “Chính phủ ưu tiên chống lạm phát và chấp nhận tổn thương để tăng trưởng”. Bởi tăng trưởng để làm gì? vượt chỉ tiêu để làm gì? khi mà lạm phát lèn chặt cuộc sống người dân trong những nỗi khốn khổ đời thường, từng giờ từng phút, trong từng bữa cơm, và cả những cơn mơ.

Mới chỉ hai tháng đầu năm, lạm phát đã 3% vì vậy mà khả năng “Lạm phát gấp đôi chỉ số tăng trưởng” hoàn toàn có thể sẽ lặp lại. Cần 6 tháng mới dự đoán hết tình hình- Phó Chủ tịch Nguyễn Đức Kiên nói- Điều này có vẻ đúng. Nhưng dường như ông quên chưa nói hết, là có lẽ phải cần 6 tháng tiếp sau đó phải họp, để tìm ra giải pháp.

Chẳng phải mà ngẫu nhiên có tin đồn NHNN phát hành tiền mệnh giá 1 triệu đồng khi giờ mỗi chén trà con con đã có giá 2 ngàn đồng. Bán nước có vẻ cũng là một phương án hay- điều đó giải thích cho thực tế quân “bán nước hại dân” giờ đông đến thế. Một phương án khác là đi buôn chuối.


BLOG VƯƠNG TRÍ NHÀN


    
 Ở  số báo Người đưa tin Unesco số ra tháng hai 1989, với tiêu đề Lễ hội nơi nơi, tôi đọc được một nhận xét tổng quát :Từ đông sang Tây, gần như ở tất cả các xã hội đã và vẫn đang còn hội hè đình đám. Tại sao? Bởi thế giới này hỗn độn đến cùng nên nhất thiết cần trật tự, -- một lễ hội được coi như có lý do tồn tại khi để lại trong con người tham gia cái dư vị có sức ám ảnh đó.

     Thế còn ở ta, ở người Việt ta hôm nay, thì sao?

     Báo Tuổi trẻ 18-2-2011 chạy trên trang nhất cái tít: Thảm hại lễ hội. Những chữ được dùng trong các phản hồi: vô văn hóa, cuồng tín, lố bịch, nhảm nhí, mê muội.

     Tại sao lại có tình trạng như vậy?


Phủ Giầy-Bắc Ninh

    Câu trả lời chung nhất trong trường hợp này chỉ có thể là sự giống nhau giữa nó và đời sống .

    Lễ hội là một thứ mô hình đời sống thu nhỏ. Chúng ta đến với nó trong cái bối rối của những người đang đứng trước một tương lai vô định. Trong lúc cuống cuồng vượt lên để theo đuổi cái ảo ảnh phía trước, ta sẵn sàng chen chúc nhau giẫm đạp lên nhau, lừa lọc nhau, miễn cảm giác là mình được sống.

   Với những đám đông hỗn độn, lễ hội là điển hình của tình trạng tự phát bản năng của đời sống người Việt.
   Lễ hội hôm nay đang mất thiêng vì bao nhiêu phương diện khác nhau của đời sống đang bị hả hơi và nhiều khi người ta phải tự dối lòng để khỏi kêu thật to khi mỗi ngày một chút, âm thầm nhận ra sự mất mát lớn lao đó.

   Tại sao, hết hội này đến hội khác, chúng ta đua đả nhau để đi bằng được? Vì biết bao việc hàng ngày ta làm đâu có hiểu vì sao mà làm,  đúng ra là chỉ nhắm mắt đưa chân theo nhau mà sống, yên tâm làm vì có bao nhiêu người đang làm như mình.

   Tại sao đi hội cứ phải kèm theo mua bán ăn uống hưởng thụ chơi bời hưởng lạc?

   Trong số  báo Người đưa tin Unesco nói trên, một nhà nghiên cứu văn hóa đã lý giải Lễ hội vừa hoan lạc vừa có tính chất lễ nghi. Lễ hội hòa giải những điều trái ngược. Lễ hội liên kết những gì mà dòng ngày tháng có xu hướng muốn tách rời— nghiêm trang và lêu lổng, tôn giáo và phàm tục, tàn phá và phục hồi. Trong khi đi tìm cái thiêng liêng, nhiều khi lễ hội chẳng khác gì một cuộc truy hoan phóng đãng.


Hội Lim

Kinh doanh và lễ hội. Tại sao trên mảnh đất muôn đời nghèo khổ là đồng bằng Bắc bộ này, một không khí mua bán xoay xỏa kiếm chác cứ len vào làm nên một phần hồn cốt và cái vẻ hấp dẫn riêng của lễ hội? Không khó khăn gì để trả lời câu hỏi này cả. Khi đó đã là một thứ khí hậu của đời sống chúng ta thì tránh đâu cho thoát?

Cái sự buôn thần bán thánh ở đây chỉ là tiếp tục các vụ mua quan bán chức mua bằng bán học vị ngoài đời.  Đến các buổi tập thể dục buổi sáng ở các công viên cũng có chợ nữa là ở đây. Một tờ báo đã khái quát nay là thời toàn dân vào cầu cả nước đánh quả. Làm sao lễ hội có thể  nằm ngoài cái xu hướng nói chung đó?

Nhiều khi chúng ta sống bằng cách khai thác những lầm lạc mê muội của người khác. Với một bộ phận cư dân các làng nghề, mỗi mùa lễ hội là một vụ làm ăn. Nhiều địa phương sở dĩ tha thiết với việc xin được cấp trên công nhận di tích địa phương mình vì có thể vất vả một hai tháng mà sống cả năm.

Người ta giẫm đạp lên đồng tiền. Người ta nhét tiền vào bất cứ chỗ nào được cho là thiêng liêng. Trong thái độ tự khinh rẻ thành quả lao động của mình, người ta đang chứng tỏ rằng với tư cách là điểm tận cùng của phàm tục, sự hư vô đã bắt đầu xuất hiện.



Đền Trần-Nam Định

Những điệu múa đơn sơ và giống nhau. Những điệu nhạc pha tạp. Những chi tiết trang trí lô lăng và cẩu thả, những ngôi chùa tối tăm, xấu xí… Lễ hội tố cáo chúng ta có một cuộc sống nghèo nàn và để che giấu cái sự nghèo đó nhiều người sẵn sàng nhắc đi nhắc lại đến ngàn lần không chán rằng chúng ta rất giầu có rất hạnh phúc.

Tại sao chỗ nào cũng thấy kêu về những ban tổ chức chỉ có trình độ làng xã, nhưng lại nhất quyết đứng ra tổ chức cho hàng chục ngàn người trong khi chỉ lo tổ chức một ít bãi giữ xe và giữ trật tự cũng không xong? Có gì lạ đâu, có bao nhiêu việc hàng ngày nhỏ thì như tổ chức giao thông an toàn cấm hút thuốc lá…, lớn lao hơn thì như kéo con người vào sự học hành tử tế, sản xuất làm ăn hơn là buôn gian bán lận… mà các nhà quản lý đâu có làm nổi?

    8000 là con số lễ hội diễn ra cùng lúc trên toàn quốc. Tính trung bình mỗi ngày có 20 lễ hội. Người đưa ra con số ấy bắt đầu gợi ý chúng một  sự bùng nổ  trên phạm vi số lượng giống như sự phát phì, sự làm hàng giả tràn lan trong cái hoạt động tâm linh này.

      Lại nhớ từ xưa, mà nhất là thời chiến tranh liên miên như thuở Trịnh Nguyễn phân tranh Đàng Trong Đàng Ngoài, rất nhiều đền chùa mọc lên đến mức sau khi lên ngôi, Quang Trung đã có lệnh là phải soát xét lại để xóa bỏ các dâm từ.



    Hoặc ngay từ thời đánh xong quân Minh, Lê Lợi cũng cho kiểm tra lại các chùa nếu chùa nào sư mô không đủ trình độ thì bắt phải hoàn tục.

    Xô bồ và hỗn loạn đã bành trướng đến mức là phải gạn lọc, nhiều người gặp nhau trong ý nghĩ đó. Nhưng lễ hội làm sao có thể thực hiện cái việc mọi lĩnh vực khác bất lực.

    Đã bắt đầu có ý kiến rằng phải hạn chế lễ hội.

    Nhưng mùa xuân sang năm tôi đoán là sẽ gặp lại tất cả không khí lễ hội của mùa xuân này với những lời kêu ca phàn nàn những sự phiền trách và xấu hổ. Cuộc sống đang trên cái mạch của nó, chưa thấy dấu hiệu gì là nó có thể khác. Thì làm sao lễ hội có thể khác?


BLOG ĐÀO TUẤN


Có lẽ, khi chém gió về việc cấm kinh doanh vàng miếng, Thủ tướng Dũng, Bộ trưởng Ninh, hay thống đốc Giàu đều không thực sự biết số vàng thực sự trong dân là bao nhiêu. Chưa bao giờ trả lời câu hỏi vì sao dân lại chăm chăm mua vàng tích trữ.

Câu hỏi vì sao cấm, đã được lần lượt các quan chức trả lời. Phó Thống đốc Bình nhấn mạnh NHNN sẽ “ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động đầu cơ, găm giữ, thao túng thị trường”. Một quan chức khác còn nói toẹt luôn rằng: Làm sao đưa toàn bộ lượng vàng vật chất có trong dân chúng vào kho quản lý tập trung do nhà nước quản lý. Và, trên cơ sở vàng của mình nằm trong “ống bơ nhà nước” này người dân có vàng “có thể mở tài khoản tại công ty kinh doanh vàng và yêu cầu các công ty này thực hiện việc lưu ký vàng…”. Hình như từ sau những “ngày thứ tư đen tối”, liên tiếp trong hai năm vừa rồi, với các cơn điên loạn của giá vàng, các nhà quản lý mới chợt phát hiện rằng sàn vàng, bản chất đúng là một thứ sòng bài, càng để càng bất ổn. Còn nhận ra thêm rằng với cả trăm, ngàn tấn vàng “còn tồn” trong dân, Nhà nước đang chỉ nắm trong tay nguồn dự trữ lớn trên sổ sách. Rằng vàng nằm trong ống bơ, chôn đầu giường, chỉ là thứ vàng chết - khi không được đưa vào lưu thông.

Khá khen cho sáng kiến “đưa vàng của dân cho Nhà nước quản lý” bởi ở giác độ quản lý, ai cũng biết việc đưa vàng vào tập thể - nhà nước vừa huy động được nguồn lực, vừa tiện bề quản lý. Làm sao có chuyện mua đi bán lại ngoài thị trường tự do, làm sao có những cơn điên loạn của giá vàng khi vàng đã vào tập thể! Nhưng vấn đề là bao nhiêu phần trăm dân chúng sẽ đồng ý giao vàng cho nhà nước? Bao nhiêu phần trăm, trong số hàng chục triệu người tích vàng trong ống bơ từ thế hệ này qua thế hệ khác, đủ trình độ để “mở tài khoản”, thực hiện lưu ký?

Nói không quá lời rằng trong mỗi gia đình người Việt, không nhiều thì ít, đều có vàng tích trữ phòng lúc sa cơ. Một sự phòng xa đã được kiểm chứng bằng những cơn “binh biến” của một thời kỳ “giá-lương-tiền” nhiễu loạn, khi lạm phát lên tới gần 400%. Chính vì sự tích trữ sinh ra từ tâm lý, từ sự mất lòng tin, thì chỉ có thể xoá bỏ tích trữ bằng niềm tin. Bởi nếu chỉ buộc người dân “đưa vàng vào tập thể” bằng biện pháp hành chính trong nỗi nơm nớp lo sợ sẽ rất khó để có thể thực hiện. Ai dám cam kết vàng miếng - một cách rất đơn giản- sẽ không ngay ngày mai biến thành vàng trang sức để vẫn có thể tích trữ, mua bán khi dân chưa tin.
Mặc dù chế độ Kim bản vị (đảm bảo bằng vàng) đã được xoá bỏ từ năm 1972 nhưng các đồng tiền giấy trên thế giới - có mức độ chuyển đổi cao- được đảm bảo bằng sự ổn định kinh tế, sức mạnh tài chính và mức độ tự do của thị trường. Khi tiền vnd hầu như chưa được bất kỳ một quốc gia nào khác chấp nhận thì người dân tích trữ tài sản bằng vàng là chuyện rất đỗi giản dị, dễ hiểu. Với việc cấm kinh doanh vàng miếng, có vẻ người dân đang bị tước đoạt quyền sở hữu đối với thứ kim loại quý, đồng thời là tài sản của mình- khi việc kinh doanh- bao hàm cả nghĩa mua bán, bị coi là bất hợp pháp.

Trên các tờ USD, từ năm 1957 đã in rành rành dòng chữ “In God we trust”- Chúng tôi tin vào chúa.
Nhưng giờ thì những người dân Việt biết tin vào điều gì đây? Vàng hợp tác? Tiền đồng mất giá mỗi năm ít nhất hai con số? Hay là những lời hứa?


BLOG TRẦN VINH DỰ



 Hình: ASSOCIATED PRESS

Trong khi đó, trong bài viết “Chiến dịch của WWF chống lại cá tra đang mạnh dần”  (“WWF campaign against pangasius gathers pace”),  SeafoodSource cho biết: Quỹ bảo tồn Thiên nhiên có vẻ như đang theo đuổi một cuộc chiến chống lại ngành cá tra ở Việt Nam. Đầu tiên là việc tổ chức bảo tồn này đặt cá tra vào “danh sách đỏ” gồm các loại cá không nên ăn. Giờ đây, chuyên gia về cá của WWF là Catherine Zucco cùng với hai phóng viên của kênh truyền hình NDR của Đức là Michael Höft và Christian Jentzsch đang tích cực chuẩn bị hoàn thiện bộ phim lấy tên là “Lời dối trá mang tên Cá Tra” để trình chiếu trên kênh truyền hình này vào ngày 9 tháng 3, 2011.

Lời dối trá mang tên cá tra

Bộ phim này sẽ công bố kết quả điều tra của Catherine Zucco, Michael Höft và Christian Jentzsch về thị trường cá tra ở các siêu thị Đức và ở Việt Nam, nơi cung cấp tới 90% sản lượng cá tra tiêu thụ ở Đức. Theo SeafoodSource, Höft, Jentzsch và Zucco đã tìm thấy “rất nhiều tình trạng tệ hại”, bắt đầu với việc đổ các hóa chất độc hại từ các cơ sở nuôi cá tra xuống sông Mekong, tới việc sử dụng tràn lan các loại kháng sinh trong quá trình nuôi cá. Họ cũng thấy các cơ sở nuôi cá nơi mà “cá bị nhốt trong các lồng chật chội”, và trước khi bị đem giết mổ “cá phải chịu đựng đủ mọi thứ tra tấn bất nhân vì có tới 12 giờ chuyên chở đầy cực nhọc tới nhà máy chế biến”…

Theo ngôn ngữ mà SeafoodSource dẫn ra, có vẻ như bộ phim này sẽ là một đòn công kích mạnh vào ngành thủy sản Việt Nam. Có lẽ còn mạnh hơn việc WWF xếp cá tra vào “danh sách đỏ” hồi cuối năm vừa rồi. Thực hư thế nào thì phải chờ tới ngày 9 tháng 3 sắp tới khi phim này được trình chiếu trên truyền hình NDR.
Ngay cả SeafoodSource khi đưa tin này cũng bình luận: “Trên thực tế là chương trình này có vẻ rất cảm tính và được làm ra với mục đích rõ ràng là gây ảnh hưởng đối với người tiêu dùng cá tra. Các phóng viên khi tác nghiệp thường đưa ra một bức tranh cân bằng cả hai phía. Thế nhưng chương trình này sẽ hoàn toàn là cách nhìn của một bên”.

Việt Nam nên làm gì?

Cá tra là một ngành sản xuất hết sức quan trọng với giá trị xuất khẩu năm 2009 là 1.3 tỉ USD và năm 2010 là 1.5 tỉ USD. Nó cũng là ngành cung cấp công ăn việc làm cho rất nhiều lao động. Cuộc chiến cá tra, vì thế, là cuộc chiến có ý nghĩa hệ trọng đối với Việt Nam. Ngoài ý nghĩa trực tiếp, nó còn có ngụ ý quan trọng đối với các ngành xuất khẩu khác của đất nước liên quan đến các cuộc chiến thương mại sắp tới.

Việt Nam cần làm gì trong một cuộc chiến thương mại kiểu như cuộc chiến cá tra?

Đầu tiên là việc ý thức được các cuộc chiến như vậy là tất yếu trong một xã hội toàn cầu hóa hiện đại. Đây không phải là cuộc chiến chỉ dành riêng cho Việt Nam - nó là cuộc chiến mà mọi nền kinh tế mở đều phải tham gia. Hiểu được ý nghĩa tất yếu này thì sẽ giảm bớt những suy luận dựa trên thuyết âm mưu – tức là những suy nghĩ như kiểu cho rằng WWF hay bất kỳ tổ chức nào làm thế là vì họ muốn công kích Việt Nam.
Thứ hai là để chống lại các rào cản kỹ thuật thì phải dựa vào kỹ thuật chứ không phải dựa vào sức ép chính trị. Không thể sử dụng việc đe dọa các tổ chức như WWF để chống lại các rào cản kỹ thuật như hệ thống tiêu chuẩn về môi trường. Việc đe dọa có thể có tác dụng trong một số trường hợp hạn hẹp nào đó, nhưng rất dễ dẫn tới chuyện gậy ông đập lưng ông. Câu chuyện Mark Powell kể trên Đài tiếng nói Thụy Điển, nếu có thực, là một câu chuyện rất dễ gây phẫn nộ trong công chúng phương Tây, và vì thế có thể biến câu chuyện vốn không quá phức tạp thành một câu chuyện hết sức tiêu cực và tai hại cho Việt Nam.

Thứ ba là nhận ra được mặt tích cực trong việc tuân thủ các hệ thống tiêu chuẩn chất lượng. Về dài hạn, việc tuân thủ các tiêu chuẩn này thực ra rất có lợi cho sản phẩm của Việt Nam trên thị trường thế giới. Đồng ý là chi phí để tuân thủ chúng không hề rẻ, nhưng đổi lại, Việt Nam có thể tăng giá bán và mở rộng thị trường. Nếu không thực hiện được việc này, các sản phẩm của Việt Nam sẽ mãi mãi loanh quanh ở nhóm các sản phẩm rẻ, chất lượng thấp, thương hiệu không được ưa chuộng, và dần dần có thể bị đẩy ra khỏi cuộc chơi cạnh tranh.

Thứ tư là nên sử dụng các tổ chức tư vấn, các NGOs để chống lại các rào cản kỹ thuật. Trong cuộc chiến cá tra này Việt Nam đã sử dụng tốt các tổ chức tư vấn chuyên ngành như ICAFIS – Trung tâm Điều phối Quốc tế về Nuôi trồng và Đánh bắt Bền vững - để phản pháo lại WWF và dẫn tới chỗ WWF đã chấp nhận loại cá tra của Việt Nam ra khỏi “danh sách đỏ”.  Việc này nên được vận dụng trong các cuộc chiến thương mại phức tạp hơn, thí dụ như các cuộc chiến về chống bán phá giá. Việc sử dụng tư vấn chuyên môn của các think tank bên ngoài là việc làm tốn kém nhưng là việc hết sức cần thiết, và là việc mà các chính phủ ở các nền kinh tế phát triển đều thực hiện trong các cuộc chiến thương mại.

Thứ năm là chiến lược truyền thông nên có kiềm chế. Báo chí ở Việt Nam thường được sử dụng trong việc định hướng dư luận trong nước khi nổ ra các cuộc chiến thương mại như cuộc chiến cá tra. Tuy nhiên, khả năng phân tích, đặc biệt là phân tích sâu, để nhận biết bản chất vấn đề của báo chí nói chung chưa cao. Vì vậy các bài viết thường nghiêng về cảm tính và thiếu tự chế. Điều này nhiều khi có tác dụng rất tệ hại và - cũng giống như việc sử dụng sức ép chính trị - rất dễ dẫn tới việc gậy ông đập lưng ông.



BLOG NGƯỜI BUÔN GIÓ


Sách dẫn rằng '' từ xưa đến nay bạo lực và chuyên chính đều nằm trong tay giai cấp bóc lột. Chúng không bao giờ chấp nhận cho giai cấp bị bóc lột cái quyền đó..nếu giai cấp bị bóc lột nói đến đấu tranh, cách mạng là chúng quy tội đại phản nghịch''.





Đoạn này mới hay

''Giai cấp bị bóc lột thường bị buộc phải tự vệ, không được phép tự vệ thì chỉ có làm nô lệ''.

Giá như các công nhân ở các khu công nghiệp đang lãnh mức lương hơn triệu đồng nghĩ gì nếu như học đọc được cuốn sách này. Có lẽ họ biết hơn về đấu tranh giai cấp và nhận thức họ ở trong giai cấp nào. Có phải giai cấp làm chủ không khi mà đồng lương không đủ mua rau ăn.

Các nhà lý luận mác xít đã khẳng định cuộc đấu tranh của họ khởi xướng không thể không dùng đến bạo lực cách mạng, những nhà lý luận này còn lôi  lãnh tụ Ganđi của Ấn ra để mỉa mai rằng ông này chủ trương ''phi bạo lực'' những rồi ông lại bị chính bạo lực cướp đi tính mạng. Từ đó họ rút ra rằng cách mạng phải cần đến ''bạo lực''.

Sau khi có được chính quyền trong tay, những nhà lý luận mác xít này lại đột ngột đổi giọng, sẵn sàng quy chụp cho những ý kiến bất đồng là khủng bố, là ''bạo lực gây bất ổn xã hội''... là âm mưu của các thế lực thù địch....

Trong khi chính họ từ lúc mới chập chững đến lúc vững mạnh đều dựa trên ''bạo lực'' để giành được mọi thứ và kiểm soát nó. Thuở hàn vi họ khuyến khích, kích động dân chúng dùng bạo lực vũ trang để gây nhiễu loạn xã hội, khiến chính quyền hiện thời lúc đó gặp khó khăn. Nhân đó họ tìm những mâu thuẫn trong xã hội kích động tăng lên để dân chúng nổi dậy chống phá chính quyền, nhân cơ hội đó họ đứng ra thay thế chính quyền cũ. Và rồi họ thiết lập một chính quyền khác hà khắc hơn gấp bội, bởi kinh nghiệm chính từ họ mà ra.

Gia đình tên độc tài ở Libya đại tá Gaddafi dùng lính đánh thuê và vũ khí quân dụng có độ sát thương lớn đển bắn giết dân chúng biểu tình. Thế nhưng trả lời báo chí bên ngoài hắn vẫn trơ tráo nói rằng ''dân chúng Libya yêu mến tôi, và ở Libya không có vấn đề gì, mọi thứ đều ổn định''.  Dịch theo văn phong của những nhà lý luận mác xít kia thì phải nói thế này

- Dân chúng nước tôi một lòng tin yêu vào sự lãnh đạo của ABC, đất nước tôi hoàn toàn ổn định, mọi người dân đều hài lòng với cuộc sống và nhất trí ủng hộ sự lãnh đạo của ABC...''

Bạo lực dã man, tuyên truyền lừa dối trắng trợn. Đó là những điểm chung của những chế độ độc tài. Các điểm chung này càng gần nhau hơn, giống nhau hơn vì các chế độ độc tài thường xuyên trao đổi kinh nghiệm, dạy bảo, học hỏi nhau những thủ đoạn trấn áp và lừa dối nhân dân. Chúng lập những đoàn cán bộ hợp tác, đường dây nóng, rồi trao đổi sách báo để tìm cách đối phó với nhân dân để giữ vững thể chế độc tài. Thậm chí chúng chiếu lại những đoạn phim chúng dùng xe tăng, tiểu liên giết nhân dân làm bài học dạy nhau. Những kẻ học được cách giết người này còn hỉ hả ''phải thế mới giữ được đất nước, giữ được sự lãnh đạo ABC, giữ được sự ổn định, đấy phải như nước... người ta làm như thế đấy, nước mình là còn nương tay nhiều''.

Chỉ có những thể chế độc tài mới giết nhân dân như vậy, và dạy nhau giết như vậy và tiếp thu cách giết người của nhau một cách mừng rỡ như vậy.

Đã xảy ra những cuộc biểu tình, chúng cho người lẫn lộn vào trong đám biểu tình ném đá cảnh sát, hoặc giả vờ làm nhóm biểu tình khác yêu chế độ vì bức xúc đã tấn công đám kia (dạng quần chúng tự phát) gây lên xô xát, chết người (do chúng giết) để rồi la làng là rối loạn, biểu tình là tai hại như thế dọa nạt nhân dân.

Báo chí của chúng đưa tin về nhân dân nước khác biểu tình đòi hạ bệ chế độ độc tài thường chỉ nói kiểu như '' bạo loạn ở XYZ có ngần này người chết, ngần này bị thương, cái này cái nọ bị phá hủy'' . Không bao giờ chúng đưa nguyên nhân vì sao dân biểu tình, ai giết, ai chết.

Trong khi chính chúng thuở ban đầu, khuyến khích dùng ''bạo lực'' hơn bất kỳ ai hết. Cho đến nay vẫn vậy.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét