Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2011

CHUYỆN TRINH-THÁM VĂN-HỌC HAY LÀ CUỘC SĂN LÙNG HƠN 40 NĂM MỘT THI-PHẨM CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG

Nguyễn Ngọc Bích

Tôi nợ rất nhiều người để có được bài viết rất sơ khởi này về tập thơ Lưu Hương Ký (LHK) của nữ-sĩ Hồ Xuân Hương (HXH), “Bà chúa thơ Nôm” (tên mà nhà thơ Xuân Diệu “mượn tạm” mà không hề ghi nhận là lấy của ông Lê Tâm, tác-giả cuốn Thân thế và thi ca Hồ Xuân Hương (Bà chúa thơ Nôm), Hà-nội: Nhà xb Cây Thông, 1950):
Trước hết là cụ cử Nguyễn Văn Tú, người đã tìm ra bản thảo LHK trong tủ sách gia-đình (ở Hành-thiện) và đã gởi về cho toà báo Văn Sử Địa từ năm 1957. LHK sau đó đã được chuyển về thư-viện của Viện Văn-học ở Hà-nội khi viện này được thành-lập.

Thứ nữa là ông Trần Thanh Mại, một chuyên-gia văn-học VN, người đầu tiên đã công-bố một số bài, phiên âm sang Quốc-ngữ từ LHK, trong Tạp chí Văn học tháng 3/1963 (“Phải chăng HXH còn là một nhà thơ chữ Hán?”), số 10/1964 (“Trở lại vấn đề HXH”) và số 11/1964 (“Bản LHK và lai lịch phát hiện của nó”).

Rồi đến học-giả Hoàng Xuân Hãn (1908-1996) ở Pháp, người đã đóng góp nhiều nhất vào việc nghiên cứu tiểu-sử của HXH (“HXH với Vịnh Hạ-long,” Tập san Khoa học xã hội, Paris, số 10-11, tháng 12/1983). Cụ Hãn đã phải nghiên cứu LHK trên căn-bản những bản phiên âm của Trần Thanh Mại (chứ không được thấy mặt các bản gốc chữ Hán và chữ Nôm trong LHK).


Hai trang đầu bài tựa tập thơ LƯU HƯƠNG KÝ của nữ-sĩ Hồ Xuân Hương
do Tốn Phong viết vào tháng 3 năm 1814. Bản này do Trường Viễn Đông Bác Cổ
ở Pháp giữ được nên có ghi chữ lớn bằng chữ Hán (trong khung bên mặt)
song lại có người viết thêm hai tên, "Hồ Xuân Hương" ở trên
và "Phạm Đình Hổ" ở dưới dòng đầu, không có trong nguyên-bản."



Công của anh bạn tôi, G.S. Tạ Trọng Hiệp (trước khi mất vào năm 1997, dạy ở Paris VII), cũng không nhỏ vì năm 1988 anh đã về Hà-nội để hỏi về cuốn LHK cho cụ Hãn mà không có kết-quả. “Khi tôi đến Viện Văn Học là nơi có chức năng bảo tồn bản LHK quý báu đó thì… các vị chuyên gia về văn học cổ VN đều cho biết cuốn ấy đã mất rồi.” (Thuỵ Khuê, Nói chuyện với Hoàng Xuân Hãn & Tạ Trọng Hiệp, Văn Nghệ, Cali 2002, trang 250). Hai người đã dùng bản LHK để nghiên cứu, ông Trần Thanh Mại và ông Hồ Tuấn Niệm, đều “đã chết.” Chỉ còn một hy-vọng nhỏ nhoi là “cuốn thơ HXH của Nguyễn Lộc có nói rằng Đào Thái Tôn là người đã được giao cho đọc tập LHK và đã dịch trọn vẹn 52 bài… [Không hiểu] Anh còn giữ được bản chép tay LHK không? Nếu không thì đây là một tổn thất không thể nào cứu vãn được nữa.” (như trên, trang 251)

Đã tưởng như vậy thì không bao giờ ta còn thấy được mặt mũi cuốn Lưu Hương Ký gốc mà cụ Cử Tú đã tìm ra và may ra, ta chỉ còn có thể trông chờ một cách mỏng manh vào một bản mà ông Đào Thái Tôn đã cho hoặc nhờ người khác chép từ bản gốc. Và trong một thời-gian dài, ai cũng coi như bản LHK đó đã mất, không còn hy-vọng gì tìm ra được nữa.

Nghiên cứu ngược từ các bản phiên âm sang Quốc-ngữ

Cụ Hoàng Xuân Hãn có lẽ là người buồn nhất trong vụ này bởi cụ là người có đủ vốn Hán-Nôm để có thể nghiên cứu thẳng từ nguyên-bản. Vậy mà từ 1963-64 cho đến ngày cụ nhắm mắt, nghĩa là 32-33 năm sau, không cách nào cụ thấy được nguyên-bản LHK. Trong khi đó, theo G.S. Tạ Trọng Hiệp, mới có “16 bài đã được giới-thiệu” trong số 52 bài của tập thơ (24 bài thơ Nôm và 28 bài thơ chữ Hán) bởi ông Trần Thanh Mại song cách “phiên âm [sang Quốc-ngữ] nhiều khi thất cách.” (Thuỵ Khuê, sđd, trang 250)

Những sách viết về Hồ Xuân Hương trong thời-gian này, vì đa-phần không có cách nào đến với bản gốc LHK mà bắt buộc phải tuỳ-thuộc vào những bản phiên âm Quốc-ngữ của tập thơ, nên đã bị giới-hạn rất nhiều bởi:
Số thơ đã được phiên âm và giới-thiệu (16 trên 52 bài) là chưa đầy 1/3 tập thơ.
Sự phiên âm của ông Trần Thanh Mại hay/và những cộng-sự-viên của ông đôi khi còn rất thiếu sót. Theo G.S. Tạ Trọng Hiệp, “trong bài của tác-giả Hoàng Xuân Hãn [tức bài “HXH với Vịnh Hạ-long,” bđd, Tập san Khoa học xã hội] đã điều chỉnh một vài tiếng cổ rất quan trọng bị đọc sai.” (Thuỵ Khuê, sđd, trang 250)

“Còn những bài chưa được giới thiệu thì bây giờ không còn hy vọng gì được đọc nữa, bởi vì cuối năm 1988, khi tôi có dịp đi công tác ở Hà Nội, tôi đã cố gắng thực hiện một lời dặn của thầy Hãn là yêu cầu anh em trong nước cho phép chụp hay chép lại những bài chưa được Trần Thanh Mại giới thiệu và cả những bài Trần Thanh Mại chỉ phiên âm, dịch theo kiểu của mình. Việc sử dụng 16 bài đó rất bấp bênh.” (Như trên, NNB nhấn mạnh)

Chính vì vậy mà những bài chữ Hán mà cụ Hoàng Xuân Hãn cho in trong cuốn sách nhỏ, Hồ Xuân Hương: Poèmes, mà cụ làm chung với người khác (Paris: Không thấy ghi năm và nhà xuất bản, khoảng 1985; cuốn này cũng không thấy ghi trong “Thư mục Hoàng Xuân Hãn” do Tạ Trọng Hiệp và Chương Thâu ghi lại, từ trang 1389 đến 1401 trong bộ đại-toàn ba tập đồ sộ La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (1908-1996), Hà-nội: Nhà xb Giáo Dục), là những bản tái-lập (reconstructed) từ bản phiên âm của Trần Thanh Mại, nghĩa là có nhiều chỗ cụ đã phải đoán. Cũng chính vì vậy mà một người uyên bác như cụ đã đoán nhầm chữ “Lưu” trong Lưu Hương Ký: cụ viết 琉 thay vì chính-xác là 瑠.


Chú thích:
Trần Thanh Mại tức ba bài do ông viết trong Tạp chí Văn học (số 3/1963: “Phải chăng HXH còn là một nhà thơ chữ Hán?,” trang 33-64; số 10/1964: “Trở lại vấn đề HXH,” trang 58-64; và số 11/1964: “Bản LƯU HƯƠNG KÝ và lai lịch phát hiện nó,” trang 69-78).
Nguyễn Lộc tức cuốn Thơ Hồ Xuân Hương, Hà-nội: Nhà xb Văn Học, 1982.

Hoàng Xuân Hãn có hai tác-phẩm: Tác-phẩm 1 là bài “Hồ Xuân Hương và Vịnh Hạ-long” trong Tập san Khoa học xã hội (Paris, 1983) và tác-phẩm 2 là tập Hồ Xuân Hương: Poèmes do Hoàng Xuân Hãn, Lâm Bá Châu, Jean Ristat, Olivier Stern và Nguyễn Minh Thanh viết chung (Paris: không ghi năm hay nhà xb).

Đào Thái Tôn tức cuốn Thơ Hồ Xuân Hương từ cội nguồn vào thế tục, Hà-nội: Nhà xb Giáo Dục (In lần thứ ba – có bổ sung và sửa chữa), 1996.

Bùi Hạnh Cẩn là nói về cuốn Hồ Xuân Hương: Thơ chữ Hán - chữ Nôm & Giai thoại, Hà-nội: Nhà xb Văn Hoá – Thông Tin, 1999.

Mấy chữ viết tắt: H tức là “Hán” và N “Nôm.” “3 H + 10 N” có nghĩa là “3 bài thơ chữ Hán và 10 bài thơ chữ Nôm” trong tổng-số 24 bài thơ chữ Hán và 28 bài chữ Nôm có mặt trong Lưu Hương Ký. “4,5” có nghĩa là 4 bài rưỡi và “10,75” 10 bài cộng với một bài chỉ có 6 trong 8 câu Đường-luật (“thất ngôn bát cú”).



Bảng trên đây cho ta thấy sự tiến triển rất chậm chạp trong việc khai thác tập Lưu Hương Ký trong thời-gian từ 1963-64 là lúc Trần Thanh Mại bắt đầu nghiên cứu tập thơ đến cuối thế-kỷ trước: từ 16 bài thành được 31 bài trên tổng-số 52 bài. Nó cũng chứng tỏ lối làm việc bất cập của các học-giả ở Hà-nội với những hậu-quả nguy hại như thế nào. Ở hải-ngoại, khi cho xuất bản cuốn Hồ Xuân Hương: Tác-phẩm năm 2000 (do Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông in ra), tôi cũng không thoát khỏi những giới-hạn do tình-trạng tài-liệu khá thiếu sót như trên gây nên. Trong sách đó tôi có trình bầy được 30 bài (11/24 bài thơ Hán và 19/28 bài thơ chữ Nôm). Bên cạnh đó, nhờ được thấy bản chụp lại bài tựa Lưu Hương Ký (“LHK tự”) rút từ Du Hương-tích-động ký (ký-hiệu A. 2814) có in lại trong sách của ông Đào Thái Tôn (Thơ HXH từ cội nguồn vào thế tục) mà tôi đã kịp thời viết cho chính-xác chữ “Lưu” trong “Lưu Hương Ký” và chữ “Hoan” (驩) trong “Hoan-trung Cổ-nguyệt-đường nữ-sử tập.”

Đó, việc nghiên cứu văn-học cổ ở nước ta trong tình-trạng hiện nay khó khăn là như thế. Ở trong nước, nơi có tài-liệu thì chỉ đưa ra một cách nhỏ giọt (15 bài trong 33 năm, sau khi ông Trần Thanh Mại đã cho công-bố 16 bài và một số tài-liệu quan trọng đi kèm theo chỉ trong vòng có một năm). Trong khi đó, ở hải-ngoại, ngay khi ta có những người với chuyên-môn cần thiết thì lại không được tiếp-cận những tài-liệu đó. Kết-quả là học-thuật VN bị chậm lại hàng chục năm, và nếu không có một vài biến-cố mới xảy ra gần đây thì vấn-đề có lẽ đã trở nên vô vọng.

Người then chốt: Ông Đào Thái Tôn

Đúng như anh Tạ Trọng Hiệp nghi ngờ (trả lời chị Thuỵ Khuê, anh chỉ dám mong là ông Đào Thái Tôn còn giữ được một bản chép từ bản gốc mà anh lo là đã mất1/), người có thể cho ta câu trả lời dứt khoát về vấn-đề bản Lưu Hương Ký gốc không thể là ai khác hơn ông Đào Thái Tôn. Chính vì anh tin tưởng như vậy, và đã từng chia xẻ ý nghĩ đó với tôi, nên tôi mới dám khẳng-định gần như đinh đóng cột trong Hồ Xuân Hương: Tác-phẩm (trang 255): “Ông [tức anh Tạ Trọng Hiệp] ngờ rằng ông Đào Thái Tôn là người cuối cùng giữ cuốn Lưu Hương Ký và cho rằng ông Tôn hoặc đã đánh mất, hoặc đã giấu đi làm của riêng.” Đã đành, khi viết như thế này, tôi đã uống thuốc liều đầy mình và tôi phải tin anh Hiệp lắm thì mới dám “thác lời” anh để gần như đưa ra một lời cáo buộc đối với ông Tôn.

Không phải chỉ mình tôi nghĩ thế. Cụ Hoàng Xuân Hãn, trong thư gửi từ Paris đề ngày 12 tháng chín 1994 cho “Chú Đào Thái Tôn” (có in chụp lại trong sách đã dẫn của ông Tôn, trang 17-18, ấn-bản 1996) cũng nghĩ thế:
“Tôi đã chú ý đến sự Chú là người, sau Trần Thanh Mại và Hồ Tuấn Niệm, ra công khảo cứu về Hồ Xuân Hương. Vậy tôi mong chú sẽ tìm thêm được nhiều điều mà nay còn thiếu sót.

“Trước hết, chú là người có điều kiện phiên âm hoàn-toàn những văn bản chắc chắn về H. X. Hương: tập thơ Lưu Hương Ký, tập thơ của Tốn Phong.”

Như vậy, chắc chắn là sau khi anh Tạ Trọng Hiệp ở Hà-nội về Pháp năm 1988, anh cũng đã chia xẻ với cụ (mà anh coi như là “thầy” anh) cùng những thông tin mà anh đã nắm được trong thời-gian ở Hà-nội rồi về sau chia xẻ với tôi. Vì nếu không chắc thì cụ đã không viết là ông Tôn “có điều kiện phiên âm hoàn-toàn… Lưu Hương Ký.” (NNB gạch dưới)

Nhưng rồi ông Tôn vẫn một mực chối, hay ít ra cũng đánh trống lảng khi được hỏi về chuyện này. Đây là lời của ông Đào Thái Tôn chia xẻ với nhà báo Nguyễn Thắng (của báo Gia Đình và Xã Hội ở trong nước, số ra ngày đầu năm tây, 1/1/2009):
Về câu chuyện GS Tạ Trọng Hiệp nhận sự uỷ thác của GS Hoàng Xuân Hãn về nước công tác tìm ông Đào Thái Tôn để hỏi về Lưu Hương Ký, ông Tôn cho biết: “Đúng là năm 1988, anh Tạ Trọng Hiệp có tìm tôi nhưng thời gian đó tôi đi công tác.

“Sau đó, đến ngày 8/3/1993, khi tôi dự buổi bảo vệ luận án Phó tiến sỹ của ông Nguyễn Lân Cường thì vô tình được gặp GS Tạ Trọng Hiệp. Ông Hiệp mừng lắm, huỷ luôn một cuộc hẹn hôm đó để tiếp tôi. Ngồi uống bia giữa chợ, ông Tạ Trọng Hiệp chỉ hỏi tôi một câu, xem tôi còn giữ được bản gốc Lưu Hương Ký không để về báo tin lại với GS Hoàng Xuân Hãn. Khi nghe tôi khẳng định là còn, ông Hiệp rất mừng nhưng không xin tôi bản chụp nào.”

Thật là khó tin. Bởi tôi biết anh Tạ Trọng Hiệp là người rất tỉnh táo và tinh tường, không thể nào nghe lầm được chuyện ông Đào Thái Tôn cho biết là “còn giữ được bản gốc Lưu Hương Ký.” Vả, anh còn là một con người rất thận trọng, về Việt-nam với một sứ-mệnh của “thầy” Hãn, không lẽ lại chỉ hỏi cho có lệ mà không tìm cách xin một bản chụp (đến 1993 thì photocopy một bản văn 22 trang như LHK, ngay ở Hà-nội, không phải là một điều khó khăn gì) như G.S. Hoàng Xuân Hãn muốn có để nghiên cứu. Trả lời phỏng vấn của chị Thuỵ Khuê (RFI) vào năm 1996, anh Hiệp nói: “Cuối năm 1988, khi tôi có dịp đi công tác ở Hà Nội, tôi đã cố gắng thực hiện một lời dặn của thầy Hãn là yêu cầu anh em trong nước cho phép chụp hay chép lại những bài chưa được Trần Thanh Mại giới thiệu…” (Thuỵ Khuê, sđd, trang 250, NNB gạch dưới)

Vậy ta phải tin ai đây, anh Tạ Trọng Hiệp hay ông Đào Thái Tôn? Dù anh Hiệp đã mất, tôi cho ta vẫn phải tin anh Hiệp hơn là ông Tôn trong chuyện này. Nhất là khi ta nghe lời giải thích tiếp của ông Đào Thái Tôn:
“Có lẽ do ông Hiệp tế nhị nên không nói [nghĩa là không xin ông Đào Thái Tôn một bản chụp hay chép LHK để mang về cho ‘thầy’ Hãn.- NNB]. Bởi theo tôi, là tài liệu người khác đang nghiên cứu thì không đời nào GS Hoàng Xuân Hãn lại nhờ ông Hiệp về chụp cho xin một bản cả.”

Chắc là ông Đào Thái Tôn phải nghĩ chúng ta, hay là người đọc, khờ khạo lắm thì ông mới có thể mong chúng ta tin được lời ông trong chuyện này.

Sau, có lẽ vì cũng hiểu ra chuyện này, nghĩa là giải thích như thế không thuyết phục được ai, nên ông Tôn lại còn có một lối giải thích khác:
“Trong cuốn Hồ Tuấn Niêm, văn và người in năm 2002, dòng cuối cùng trong bài của Lê Đình Cúc ghi lại kỷ niệm chuyến đi vào Nam với Hồ Tuấn Niêm sau năm 1975 viết: ‘Tôi thấy anh như vẫn còn đây, rít thuốc lào sòng sọc, trong tay vẫn cầm Lưu Hương Ký.’ Nghĩa là thời điểm tôi đi bộ đội, Lưu Hương Ký vẫn nằm trong tay ông Hồ Tuấn Niêm.”

Khi từ chối không cho anh Tạ Trọng Hiệp một bản chụp LHK, có lẽ đó chính đây là lối giải thích của ông Tôn đối với anh Hiệp. Bởi anh Hiệp năm 1996 lại kể lại cho chị Thuỵ Khuê (sđd, trang 250-51):
“Tôi hỏi: Mất như thế nào? Trong trường hợp nào? Năm nào? Ai làm mất? Thì được biết sau ông Trần Thanh Mại (sau loạt bài viết về Hồ Xuân Hương, bài cuối cùng năm 1964, ông ấy bị bệnh, mất), người kế tục công tác nghiên cứu Hồ Xuân Hương, lại là người giữ công việc gần như quản thủ thư viện sách Hán Nôm của Viện Văn Học, ông Hồ Tuấn Niệm.

“Trong những năm sơ tán để tránh bom Mỹ, ông Niệm đem theo trong ba-lô cuốn Lưu Hương Ký mà không để lại Hà Nội một bản chụp nào cả và ông ấy cũng đã chết… Trong khi ông ấy chết thì số phận của tậpLưu Hương Ký cũng biến mất theo cái ba-lô của ông. Điều tra mãi mới bật ra được sự thật này.”
Phải chăng sự “điều tra mãi” của anh Tạ Trọng Hiệp này lại không từ miệng của ông Đào Thái Tôn mà ra. Perfect alibi!

1   2   3

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét