Thứ Bảy, 26 tháng 2, 2011

Văn bản Nguyễn Ái Quốc

Thụy Khuê
Bài 1:

Ai là tác giả những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc
tại Pháp từ 1919 đến 1927?

Lời nói đầu:

Khi khảo sát về Nhân Văn Giai Phẩm, đặc biệt Phan Khôi, chúng tôi phải tìm hiểu tại sao, sau khi ở Pháp về, Tây Hồ tìm gọi và trao lại "di sản tinh thần" cho Phan Khôi. Sự tìm hiểu này dẫn đến giai đoạn Phan Châu Trinh ở Pháp, và vai trò của ông trong nhóm Ngũ Long. Đi sâu hơn nữa, đọc những bài báo tiếng Pháp ký tên Nguyễn Ái Quốc, chúng tôi khám phá ra một sự thật: những bài báo này phải do những người rất am tường tiếng Pháp, thâm hiểu văn hoá và triết học Tây Phương, lại có văn tài, mới có thể viết được. Về mặt ngữ văn, bất luận những ai không học trường Pháp từ nhỏ, cả những người học trường Việt (như chúng tôi) dù có ở Pháp đến 50 năm, cũng không thể viết được như thế; bởi không có cái nền cơ bản về tiếng Pháp, không nắm bắt được lịch sử và sắc thái (nuances) của mỗi từ, của các thì (temps, modes) trong cách chia động từ, và nhất là lối chơi chữ của người Pháp. Đại để cũng giống như: một người mới học tiếng Việt vài năm không thể viết được như Phan Khôi. Sự ngạc nhiên này dẫn đến việc khảo sát văn bản Nguyễn Ái Quốc. Loạt bài này đã đăng trên RFI, ở đây chúng tôi bổ sung thêm một số điểm.

Paris 20/2/2011
Thụy Khuê



Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh

Khác hẳn với các nhà cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng... Tiểu sử Hồ Chí Minh là một bí mật. Chỗ nào ông muốn viết (hoặc sai người viết), chỗ nào giấu đi hoặc thêm thắt vào, đều có chủ đích rõ ràng. Chủ đích đó không phục vụ sự thật, như Phan Bội Châu trong Ngục Trung Thư hay Tự Phán: những sai lầm của mình cũng viết, ý kiến nào do Nguyễn Thành hay Lương Khải Siêu nghĩ ra cũng nói rõ.

Hồ Chí Minh không ngần ngại nhận mình là tác giả những bài viết và những công trình không phải của ông. Đó là sự cách biệt sâu xa về nhân cách giữa hai nhà cách mạng. Lời Phan Khôi dặn con: "Khi con gái của Mác hỏi cha thích tính gì nhất? Mác đã trả lời: tính thật thà!" (Phan Thị Thái, Nhớ cha tôi học giả Phan Khôi, Kiến thức ngày nay, tháng 12/1996), là một chúc thư mà cũng là lời Phan Khôi cảnh cáo Hồ Chí Minh về toàn diện lịch sử mờ ám của ông.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ chú ý đến thời kỳ Nguyễn Tất Thành ở Pháp, từ 1919 đến1923. Thời gian này, ông tự nhận mình là Nguyễn Ái Quốc và chính những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc đã xây dựng nên huyền thoại Hồ Chí Minh.

1- Nghi vấn thứ nhất: năm sinh?
Cuối lá thư viết ở Marseille ngày 15/9/1911, gửi cho Tổng thống Pháp, xin vào học trường Thuộc địa, có ghi sinh năm 1892 ở Vinh. Một mật báo ghi Nguyễn sinh ngày 24/1/1892. Một mật báo khác, ghi 15/1/1894. Trong hộ chiếu vào Nga năm 1923, theo Hồng Hà, ghi 15/1/1895. Còn ngày sinh chính thức 19/5/1890, có từ năm 1946, có thể lấy ngày thành lập Việt Minh. [Theo Nguyễn Thế Anh, L'itinéraire polytique de Ho Chi Minh, trong cuốn Ho Chi Minh, L'homme et son héritage, Đường Mới, Paris, 1990].

Những sử gia Pháp, như Hémery cho rằng: năm sinh chính thức 1890 (thay vì 1895 hay 1898) chỉ có mục đích phục vụ huyền thoại: 1890 tính đến 1945 là ngoại ngũ tuần, đáng được gọi bằng Bác. Năm Nguyễn Tất Thành từ Anh sang Pháp cũng thế, theo Hémery, Nguyễn Tất Thành đến Pháp năm 1919. Nhưng lại chính thức chọn năm 1917, vì có những mốc lịch sử gắn liền: những cuộc binh biến trong quân đội Pháp và cuộc cách mạng tháng 10 của Nga. (Pierre Brocheux, Ho Chi Minh, Presses Sciences Po, 2000, trang15).

Tiểu sử chính thức Hồ Chí Minh, được rút từ những cuốn hồi ký do chính ông viết ra hoặc sai người viết lại, như: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch của Trần Dân Tiên, bản đầu tiên viết mùa xuân năm 1948 bằng chữ Hán, in ở Thượng Hải năm 1949. Dịch và in ở Hà Nội năm 1958. Cuốn thứ nhì: Vừa đi đường vừa kể chuyện của T. Lan, in năm 1963 (T. Lan là một trong những bút hiệu của Hồ Chí Minh sau 1951, theo Bùi Tín, ông rút ngắn bí danh Trần Thái Lan của Nguyễn Thị Minh Khai khi hoạt động ở Hương Cảng và Quảng Đông). Cuốn thứ ba: Thời thanh niên của Bác Hồ, của Hồng Hà, nxb Thanh Niên, 1976. Cuốn của Trần Dân Tiên có một số đoạn tương đối thành thực hơn cả. Cuốn của Hồng Hà, đầy đủ và logique hơn, nhưng có những đoạn (được lệnh) bớt đi hoặc thêm vào, khá lộ liễu, cốt để nâng cao giá trị thần tượng.

Trong thời gian 1911-1923, cuộc đời Nguyễn Tất Thành, có thể đã diễn ra như sau :
Ngày 4/6/1911, Nguyễn Tất Thành, đáp tàu L'Amiral Latouche-Tréville, trọng tải 6000 tấn, chạy đường Sàigòn-Dunkerque, làm phụ bếp, lấy tên là Văn Ba. Tháng 9, tới Marseille, gửi thư cho Tổng Thống Pháp, nói rõ mình là con quan, muốn xin học trường Thuộc Địa, rồi theo tàu về Le Havre. Bộ Thuộc địa từ chối vì trường này chỉ nhận người đã được tuyển chọn ở Đông Dương. Nguyễn làm việc nhà cho ông chủ tàu ở Sainte- Adresse, ngoại ô Le Havre độ một tháng, rồi lại tiếp tục lên tàu đi Phi Châu.

Từ 1912 tới mùa hè 1914, vẫn dùng tên Ba, tiếp tục làm bồi, phụ bếp, hoặc phu khuân vác trên những tàu xuyên Đại Tây Dương, chạy đường Le Havre - Londres - New York, hoặc Châu Phi - Châu Mỹ. Từ 1914-1919, bỏ việc trên tàu, sống tại Luân Đôn với tên Nguyễn Tất Thành, ở số 8 Tottenham Road. (Theo Hémery, trong thế chiến, Tất Thành tránh sang Pháp vì ngại có thể bị gọi đi quân dịch). Làm việc tại khách sạn Carlton, rửa bát, rồi phụ bếp. Học tiếng Anh và hình như buổi tối có học thêm Máy móc (Mécanique) và Điện. Trao đổi thư từ thường xuyên với Phan Châu Trinh, bằng Hán văn. Khoảng tháng 5-6/1919, sang Paris. Hoạt động trong Hội Người An Nam Yêu Nước.
Ngày 27/12/1920, khai mạc hội nghị Tours của đảng Xã hội (SFIO), Tất Thành xuất hiện với tên Nguyễn Ái Quốc.

Ngày13/6/1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật đi Nga, tới Moscou ngày 30/6/1923.
Tháng 2/1925, Lý Thụy xuất hiện ở Quảng Đông -tình báo Trung Hoa nhận diện là Nguyễn Ái Quốc- Thành lập Việt nam Thanh niên Cách mệnh Đồng chí hội.

2- Nghi vấn thứ nhì: Trình độ học vấn
Theo năm sinh chính thức 1890, thì khi xuống tàu đi Pháp năm 1911, Tất Thành 21 tuổi.

Từ điển Văn học và các tiểu sử chính thức đều ghi: thủa nhỏ học chữ Hán rồi chữ quốc ngữ, sau vào Quốc Học Huế. Đầu năm 1911, bỏ học, vào Phan Thiết dạy ở trường Dục Thanh [trường đầu tiên của phong trào Duy Tân], ít lâu sau vào Sàigòn, rồi từ Sàigòn "xuất dương tìm đường cứu nước".

Daniel Hémery viết: "Theo lời khai của của Đạt (anh cả của Thành) với Sở Mật thám năm 1920, thì Thành học trường bảo hộ (franco-indigène), dường như Đông Ba, đậu bằng Tiểu học (Certificat d'études primaires). Cả hai ghi tên vào trường Quốc học (...) nhưng Thành học dở dang, bỏ đi làm (khoảng 1909?), làm trợ giáo, lương 8 đồng một tháng, ở trường Dục Thanh tại Phan Thiết." Daniel Hémery, Ho Chi Minh De L'Indochine au Viet Nam, Gallimard 1990, trang 32-33).

Hémery ghi rõ học trường Pháp-Việt và còn đậu cả bằng Certificat d'études primaires.

Nếu những chi tiết trên đây đúng, thì Nguyễn Tất Thành đi học đến năm 19 hoặc 21 tuổi, và nếu có cả Certificat d'études primaires tất phải biết tiếng Pháp.

Nhưng Trần Dân Tiên/Hồ Chí Minh lại đưa ra những chứng cớ trái ngược, như sau: Ở trên tàu Latouche-Tréville "mỗi ngày anh Ba phải làm từ 4 giờ sáng", "công việc kéo dài suốt ngày", "suốt ngày anh Ba đẫm nước, hơi và mồ hôi, mình đầy bụi than", buổi tối có hai người lính giải ngũ, về Pháp, tốt bụng, "dạy cho anh đọc và viết" (TDT, trang 15-16-17)

Khi làm vườn cho ông chủ tàu ở Sainte-Adresse, thì "anh học tiếng Pháp với cô sen" (TDT, trang 20).

Không có lý gì mà Hồ Chí Minh viết sai về chuyện này, nhất là ông còn lập lại nhiều lần việc khi đến Pháp ông không thạo tiếng Pháp, không viết được tiếng Pháp, phải nhờ Phan Văn Trường viết hộ.

Vì vậy vấn đề học vấn của Nguyễn Tất Thành, phần chữ Hán là chắc chắn, vì cha là Phó bảng Nguyễn Sinh Huy, bạn học của Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh... Còn việc học ở các trường Đông Ba, Quốc học, dường như không lấy gì làm chắc lắm. Những lời khai của ông Đạt, năm 1920, với sở mật thám Pháp, mà Daniel Hémery chép lại, cần phải hiểu như thế nào? Đó là một nghi vấn.

1   2   3   4   5

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét