Chủ Nhật, 27 tháng 2, 2011

TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT (GENEVE 1954)

Francois Joyaux
Bản dịch của nxb Thông Tin Lý Luận

Kỳ 19

TRUNG QUỐC CHUẨN BỊ HỘI NGHỊ GENÈVE

Trung Quốc đả kích Mỹ

Phản ứng của Trung Quốc đối với tin triệu tập hội nghị Genève cũng nói lên mối lo sợ sâu xa của Trung Quốc về cách cư xử của Mỹ. Xã luận Nhân dân nhật báo ngày 22/2/1954, trong đó Trung Quốc cho biết cảm tưởng đầu tiên của mình, đã nhấn dài dòng đến những thái độ dè dặt của Mỹ đối với cuộc họp đã dự liệu và đến những mối nguy cơ mà một thái độ như vậy sẽ đem lại. Chính phủ Bắc Kinh không giấu diếm rằng họ rất lo ngại là ở Mỹ: những phần tử hiếu chiến tìm cách gây trở ngại cho thỏa thuận đạt được ở hội nghị Berlin. Theo tờ báo Trung Quốc, tình hình đó kêu gọi những ai yêu chuộng hòa bình phải cảnh giác cao độ” 77.
Thực tế, trong tháng 3 và tháng 4, Trung Quốc tố cáo một cách hệ thống mọi sáng kiến của chính sách J. Dulles, hàng ngày nhắc đi nhắc lại, dưới hình thức này hay hình thức khác rằng “phải chú ý nghiêm [172] chỉnh đến những âm mưu của Mỹ phá hoại hội nghị Genève”78.

Theo Trung Quốc, có nhiều nhân tố buộc Mỹ phải chấp nhận thương lượng tại Genève. Đầu tháng 3, tờ Quang minh nhật báo liệt kê một mớ nào là “Mỹ hết ảo tưởng nắm được bí mật nguyên tử”, nào là “chiến dịch chạy đua vũ trang (của Mỹ và chư hầu) làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản”, nào là “những khó khăn thương mại của nước tư bản chủ nghĩa” và nhất là “sức mạnh của phe hòa bình dân chủ và chủ nghĩa xã hội”. Vì tất cả những lý do đó, nhưng cũng là để khỏi bị “cô lập với các nước phương Tây khác”, đoàn đại biểu Mỹ tại Berlin đã phải chấp nhận nguyên tắc họp hội nghị Genève79.

Nhưng một khi chấp nhận rồi, Mỹ làm mọi việc có thể được để làm cho hội nghị thất bại. Một mặt, họ tiếp tục “phát triển nhanh các lực lượng của bù nhìn Lý Thừa Vãn [Rhee Syngman/이승만] (…) vi phạm Hiệp định đình chiến Triều Tiên” và “ủng hộ Lý Thừa Vãn trong mọi hành động đe dọa và gây áp lực”80. Mặt khác, về Đông Dương, Mỹ trắng trợn “đưa nhân viên không quân (…) đến tham gia trực tiếp vào việc tàn sát nhân dân các nước Việt Nam, Campuchia và Pathet Lào”81. Ngoài ra, Bộ Ngoại giao và nghị sĩ quốc hội Mỹ không ngừng nhắc đi nhắc lại rằng “không thể giải quyết vấn đề (…) bằng phương thức hòa bình”.

“Đồng thời”, Tân Hoa xã viết tiếp: “Mỹ ép buộc Pháp phải theo đuổi cuộc chiến tranh [173] mất lòng dân. Bộ máy tuyên truyền của Mỹ reo rắc câu chuyện hoang đường nói rằng địa vị cường quốc của Pháp sẽ lung lay nếu Pháp chấm dứt cuộc chiến tranh Đông Dương. Mỹ còn reo rắc không khí lạc quan về các trận đánh mặc dù bị thiệt hại nặng trên chiến trường. Mục đích của tất cả những việc đó là làm cho nước Pháp phản đối việc lập lại hòa bình ở Đông Dương, bên ngoài vòng cương tỏa của Mỹ”82.

Ngoài những âm mưu thủ đoạn đó, theo Trung Quốc còn phải thêm việc Chính phủ Washington khuyến khích chính sách tái vũ trang Nhật Bản, việc xây dựng các căn cứ quân sự Mỹ ở Thái Lan, Philippines, Pakistan và Thổ Nhĩ Kỳ. “Nếu người ta gắn những việc làm đó với mục đích của hội nghị Genève như Mỹ cũng đã chấp nhận là giải quyết các vấn đề cấp bách ở châu Á bằng thương lượng nhằm làm dịu tình hình quốc tế, người ta buộc phải nhận thấy khoảng cách kỳ lạ giữa lời nói và việc làm của những nhà lãnh đạo Mỹ”83.

Trong ba tuần lễ tháng 4 trước ngày khai mạc Hội nghị Genève, Trung Quốc càng đả kích Mỹ nhiều hơn và kịch liệt hơn. Vì vậy “hành động chung” giữa các đồng minh do J. Dulles đề nghị trong diễn văn quan trọng ngày 28/3 ở Câu lạc bộ báo chí hải ngoại Mỹ đã gây nên một sự phản ứng mạnh mẽ trong giới báo chí Trung Quốc. Mọi hình thức quốc tế hóa cuộc chiến tranh bao giờ cũng bị Trung Quốc kiên quyết tố cáo. Ví dụ như, Trung Quốc đã tỏ ra rất lo ngại trước ý định của Thái Lan hồi tháng 4 tháng 5/1953, đưa ra trước Liên [174] hợp quốc84. Lời kêu gọi ngày 25/12/1953 của Lào gửi các nước trong thế giới tự do chống lại sự xâm lược của Việt Minh, cũng như trước đề nghị của Nam Triều Tiên vào đầu tháng 2/1954, gửi một sư đoàn tới Lào để chiến đấu chống cộng sản xâm lược. Chính phủ Bắc Kinh luôn luôn khẳng định lại rằng toàn bộ chính sách của họ ngược lại, là làm cho “chiến tranh Triều Tiên không tái diễn ở bất cứ nơi nào ở châu Á”85. Vậy, đối với Trung Quốc, hành động chung do Mỹ đề nghị chỉ có thể đưa đến một xung đột mới theo kiểu Triều Tiên: “Cái gọi là hành động chung đó sẽ dẫn đến đâu? (…). Cuộc chiến tranh Triều Tiên đưa ra câu trả lời”86. Điều duy nhất mà Mỹ nghĩ đến chỉ là làm căng thẳng thêm tình hình thế giới: đó là những bài học của cách nhìn mới về quân sự của Mỹ87, của sự đe dọa hạt nhân, những cuộc thí nghiệm nhiệt hạch ở quần đảo Marshall các ngày 1 và 26/3/195488 và của những cuộc tập trận về không [175] quân ở Nam Triều Tiên89. Việc tăng cường tiềm lực quân sự của Trung Hoa quốc gia (với sự giúp đỡ của Mỹ) trên các đảo ven biển Kim Môn [金門/Jīnmén] và Mã Tổ [馬祖/ Matsu]90 cũng như tuyên bố của Thủ tướng Trần Thành [陳誠/Chen Cheng] ngày 18/4, nói rằng Trung Hoa quốc gia “sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu trong chừng mực nào mà sự can thiệp của Trung Hoa quốc gia là một bộ phận của kế hoạch chung”91 chỉ làm tăng thêm mối lo ngại của Trung Quốc. Nhân dân nhật báo ngày 24/4 trả lời một cách lạnh lùng: chúng tôi tán thành hòa bình và phản đối chiến tranh. Nhưng chúng tôi không khoanh tay làm ngơ nếu có một cuộc xâm lược vũ trang chống lại chúng tôi”92.

Cũng theo cách đó, hoạt động ngoại giao của Mỹ trong tháng 4 bị chỉ trích không kém dữ dội. Các thông báo công bố về kết quả các cuộc gặp gỡ một [176] mặt giữa J. Dulles và A. Eden và mặt khác giữa J. Dulles và G. Bidault, ngày 13 và 14/4 gây nên sự phản đối kịch liệt: trong cả hai trường hợp, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ bị lên án là phá hoại hội nghị Genève bằng cách lôi kéo Anh và Pháp đi theo chính sách xâm lược về “hành động chung”93. Diễn văn ngày 16/4 của Phó tổng thống R. Nixon đơn thuần đề nghị gửi quân đội Mỹ đến Đông Dương cũng bị tố cáo mạnh mẽ, như một “diễn văn của tên lái súng” một “lời kêu gọi chiến tranh”94.

Khi hội nghị Genève khai mạc, lập trường của Trung Quốc đối với Mỹ cứng rắn hơn bao giờ hết. Chính sách của Mỹ đã được giải thích, không phải là không có vài lý do, như một âm mưu lớn nhằm đè bẹp nước Trung Hoa mới. Ở Bắc Kinh, người ta cho rằng Đông Dương chỉ là một yếu tố của hệ thống xâm lược mà Mỹ cố gắng xây dựng dọc biên giới và và bờ biển Trung Quốc. Tuy nhiên, thái độ của Trung Quốc không phải là vì vậy mà hoàn toàn tiêu cực. Đôi khi ở Bắc Kinh, người ta thích nói đến tình hình hữu nghị giữa nhân dân Trung Quốc và nhân dân Mỹ, và nói đến cả hy vọng được cùng tồn tại trong hòa bình với nhân dân Mỹ95. Khả năng thương lượng đã được gắn xếp như vậy.

Thái độ của Trung Quốc đối với Pháp
Giọng điệu của các bản tuyên bố của Trung Quốc đối với Pháp hoàn toàn khác hẳn. Chắc chắn là có thể [177] lập một bảng dài về những lời lên án mạnh mẽ chống những hành động chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương, nhưng vẫn tưởng chúng toát ra khi đọc báo và nghe đài [radio] Trung Quốc. Về điểm này là một ý định có hệ thống đẩy chính phủ Paris giữ những khoảng cách với Washington.

Đôi khi Anh cũng được trình bày như là nạn nhân của chính sách của Mỹ. Ví dụ như hồi tháng 8/1953, Nhân dân nhật báo đã đánh giá những kết luận của hội nghị Washington (từ 10 đến 14/7) như là do Mỹ áp đặt và đi ngược lại lợi ích của Anh và Pháp trong chừng mực hội nghị đó đã hủy bỏ một dự án về hội nghị cấp cao bốn nước lớn và thay bằng cuộc họp chỉ ở cấp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao mà thôi96. Cũng theo cách đó, việc giảm khối lượng buôn bán giữa Anh và Pháp đã được trình bày như là kết quả của chính sách Mỹ nhằm cố gạt Anh ra khỏi thị trường châu Á97.

Nhưng chính là hướng về nước Pháp mà Trung Quốc tăng lên nhiều lần những lời kêu gọi rời bỏ đường lối chính trị của Mỹ với hiểu biết rõ rằng những luận điểm như vậy có nhiều khả năng có được tiếng vang nào đó ở Paris hơn là London98.

Chắc chắn là chiến dịch dư luận đó đã được phát triển làm hậu thuẫn cho một chính sách, còn khá cứng rắn ở nhiều khía cạnh. Ngày khai mạc Hội nghị Berlin, 25/1 - sự trùng hợp ngày tháng này không phải là ngẫu nhiên - cũng là ngày các nhà đương cục [178] Trung Hoa tịch thu tài sản tài sản của hai công ty Pháp: Tiết kiệm quốc tế (International Savings Society) và Địa ốc Trung Hoa (Foncière de Chine) và của một công ty Anh-Pháp về đầu tư đất đai (Anglo-French Land investment company) cả ba đều đặt trụ sở ở Thượng Hải99. Tuy vậy, ở một bình diện khác, những cuộc vận động qua trung gian Liên Xô và Thụy Sĩ để trả lại tự do những kiều dân Pháp cuối cùng còn bị giam giữ (đa số là những nhà tu hành) và cho phép một số người khác được rời khỏi Trung Quốc, đã đạt được vài kết quả phải chăng bởi vì trước khi hội nghị họp, có 11 nhà truyền giáo được thả và có thể rời Trung Quốc qua Hongkong. Khi khai mạc hội nghị, ở Trung Quốc còn có 17 người Pháp còn bị giam giữ, 2 người còn bị giam chặt và 2 người khác bị từ chối không được cấp thị thực xuất cảnh100. Nhưng các tháng 2, 3, 4/1954 là những tháng Việt Minh được Trung Quốc viện trợ lớn nhất. Nếu việc vận chuyển giao viện trợ đó nằm trong logic của một chính sách giúp đỡ công cuộc giải phóng nhân dân Việt Nam và nếu những viện trợ đó theo quan điểm của Trung Quốc nhằm biện hộ cho sự cần thiết của cả Trung Quốc lẫn Việt Minh giành thế mạnh trong thương lượng một khi họ đã hướng về thương lượng thì theo quan điểm của Pháp, những viện trợ đó không phải là như vậy mà chỉ có thể [179] coi là những rõ ràng về sự ngoan cố của Trung Quốc .

Ở Paris, thái độ ngoan cố đó chỉ có thể củng cố chiều hướng dư luận có lợi cho một cuộc can thiệp của Mỹ ở Đông Dương.

Vì vậy, có lẽ để giảm nhẹ hậu quả do chính sách của mình có thể gây ra, Trung Quốc đã chủ động phát động ngay sau hội nghị Berlin một chiến dịch tuyên truyền rộng rãi nhằm tách càng xa càng tốt nước Pháp khỏi đồng minh là Mỹ, làm mọi việc để chứng minh lợi ích của Pháp chỉ có thể được bảo vệ nếu chống lại Mỹ.
“Chính sách của Washington đối với Đông Dương - tạp chí People’s China viết: không phải chỉ chống lại lợi ích của nhân dân các nước Đông Dương mà còn chống lại lợi ích của nhân dân Pháp”101

Theo hướng đó, Đại sự ký do tạp chí Thế giới tri thức công bố cuối tháng 4/1954 đã đăng lại một số lớn những lời tuyên bố của các nhân vật Pháp đối lập các lợi ích của Pháp với lợi ích của Mỹ. Ví dụ như, một tuyên bố của Leon Pignon, Cao ủy Pháp ở Đông Dương vào tháng 5/1950, đã tố cáo những nguy cơ can thiệp của Mỹ vào các công việc chính trị Đông Dương đang tăng lên theo sự phát triển của viện trợ Mỹ102, hoặc là một báo cáo kinh tế Pháp năm 1951 nhấn mạnh đến việc Mỹ âm mưu chiếm đoạt tài nguyên của Việt Nam và chính sách của chính phủ Mỹ trái với lợi ích của tư bản Pháp [180] ở Đông Dương103; hoặc một tuyên bố của Paul Raynaud tháng 8 1951 nói rằng Đông Dương cung cấp cho Mỹ 89% nhu cầu về cao su thiên nhiên và 52% nhu cầu thiếc và do đó việc bảo vệ bán đảo phù hơp với việc bảo vệ lợi ích của quốc gia họ104 vv…

Theo Trung Quốc, cuộc chiến tranh Đông Dương phân tích đến cùng đã bị các tổ chức độc quyền Mỹ lợi dụng. Một sự phân công lao động thực sự đã hình thành, Mỹ cung cấp vũ khí (do những người đóng thuế trả tiền) và nước Pháp “cung cấp xác chết”. Nước Pháp đã kiệt quệ, trên bờ của sự phá sản, biên giới không còn được bảo vệ, bấy nhiêu sự suy yếu đó cho phép Mỹ kiểm soát chặt chẽ tốt hơn nước Pháp cũng như Đông Dương105. Ngoài ra, Chính phủ Washington đã sẵn sàng thay thế Pháp ở Đông Dương. Nhân dân Nhật báo kết luận: “Những âm mưu đen tối của J. Dulles đang đưa nước Pháp đến ngõ cụt, hiển nhiên là xung đột với lợi ích của Pháp”106.[181]

Vậy thái độ duy nhất hợp lý, đáp ứng lợi ích căn bản của Pháp là chính sách hòa bình, độc lập với những âm mưu xâm lược của Mỹ. Theo Trung Quốc, nhân dân Pháp nhất trí đòi hỏi một chính sách nhằm giải quyết hòa bình vấn đề Đông Dương và giải phóng nước Pháp khỏi sự can thiệp và kiểm soát của người Mỹ107. Rất nhiều tuyên bố của các chính khách Pháp tán thành thương lượng đã được dẫn ra để chứng minh cho luận điểm đó, những tuyên bố của Guy Mollet, Môrixơ Pôrơ [?] vv… mà người ta còn nhớ rằng đã được phát biểu trong một cuộc hội nghị có Trung Hoa nhân dân tham dự108

Vậy kết quả của Hội nghị Genève tùy thuộc rộng rãi vào thái độ của Pháp: các đại diện bán chính thức của chính phủ Trung Quốc tại Hongkong như Phí Nhất-minh (Fei Yiming/费一鸣), Tổng biên tập của tờ Ta Kung Pao (大公報/Đại công báo) ở địa phương và Perey Chen, cố vấn pháp luật, luật sư bào chữa cho các cơ quan cộng sản ở Hongkong đã cho biết một trong những nhiệm vụ đầu tiên của đoàn đại biểu Trung Quốc sẽ là xác định “xem lập trường của Pháp lệ thuộc hoàn toàn vào chính sách đối ngoại của Mỹ, hoặc ngược lại, Pháp có thể khẳng định rõ ràng ý muốn giải quyết hòa bình vấn đề Đông Dương hay không”109. Tờ Nhân dân nhật báo xác nhận điều đó một cách gần như chính thức: “Nhân dân toàn thế giới chăm chú [182] theo rõi Chính phủ Pháp, chờ xem họ có chính sách như thế nào tại Hội nghị Genève. Không còn nghi ngờ gì nữa là nước Pháp có thể hy vọng nhìn vào tương lai với điều kiện Pháp khẳng định chính sách đối ngoại độc lập, và cố gắng lập lại hòa bình ở Đông Dương, phù hợp với lợi ích của nước Pháp”110. Đó là những lý lẽ mà một số nhà quan sát và nhà thương lượng của Pháp không thể tỏ ra vô tình111.

Khi Hội nghị Genève khai mạc, lập trường quốc tế của Trung Quốc là tương đối rõ ràng. Xem ra lập trường đó được tóm tắt đầy đủ trong bản ghi nhớ của Bộ Ngoại giao để ngày 24/4/1954:
- Trung hoa cộng sản mong muốn vai trò cường quốc thứ năm.
- Địa vị ưu thế của Trung Quốc ở châu Á phải được thừa nhận: Không có vấn đề nào ở đây có thể được giải quyết mà không có sự góp sức của Trung Quốc.
- Tự do trao đổi buôn bán giữa Đông và Tây phải được khôi phục vì lợi ích của tất cả các bên112.
- Chính sách của Trung Quốc là một chính sách hòa bình dựa trên nền độc lập của các dân tộc.
- Ngược lại chính sách của Mỹ là một chính sách chiến tranh. Mỹ tìm cách bao vây Trung Quốc bằng một vành đai căn cứ quân sự. Ở Đông Dương, họ cố gắng tăng cường chiến tranh và thay thế địa vị của Pháp.[183]

Hòa bình phải được lập lại ở Đông Dương trên cơ sở tôn trọng độc lập của các dân tộc. Lợi ích của nước Pháp là tách khỏi chính sách của Mỹ và ký kết hòa bình113.

Đó thực sự là tinh thần các luận điểm chính mà đoàn đại biểu của Trung Quốc sẽ bảo vệ và phát triển ngay từ những giai đoạn đầu của cuộc thương lượng.[184]

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét