Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2011

TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT (GENEVE 1954)

Francois Joyaux
Bản dịch của Nxb Thông Tin Lý Luận

Kỳ 16

Những cuộc thương lượng giữa những nước phương Tây và mối quan hệ của họ với Liên Xô.

Hiệp định đình chiến Bàn Môn Điếm vừa mới ký kết (27/7/1953), trong công hàm ngày 4/8/195329, lần đầu [146] tiên Liên Xô gợi ý triệu tập hội nghị năm nước lớn, có Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tham dự, có nhiệm vụ nghiên cứu các biện pháp nhắm làm giảm tình hình căng thẳng ở Viễn Đông. Đề nghị này làm cho các nước phương Tây lúng túng.

Ba cường quốc phương Tây đến lúc đó bao giờ cũng tự hạn chế trong việc cùng nhau yêu cầu triệu tập hội nghị bốn nước lớn để giải quyết các vấn đề châu Âu (chủ yếu là vấn đề Đức và vấn đề Áo), đặc biệt đó là điều được gợi ý trong công hàm của các nước phương Tây ngày 15/7 vừa qua30. Nhưng đằng sau sự thống nhất bề ngoài đó của phương Tây, những sự bất đồng quan trọng đã xuất hiện giữa Mỹ, Anh và Pháp. Mỹ có thái độ “cực kỳ dè dặt”31 nếu không nói hoàn toàn chống đối mọi ý nghĩ thương lượng khi nó có nghĩa, ngay cả gián tiếp thừa nhận trên thực tế quy chế cường quốc của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Về phần mình, nước Anh đã công nhận chế độ Bắc Kinh từ 1950, tán thành Trung Quốc gia nhập Liên hợp quốc và chỉ chấp nhận một cách rất dè dặt sự ngoan cố của Mỹ32 còn nước Pháp thì đang phân vân. Được Mỹ cung cấp viện trợ cho các cuộc hành quân ở Đông Dương, Pháp không thể có một thái độ khác biệt với Chính phủ Washington. Nhưng đồng thời ở Paris, người ta hoàn toàn nhận thức được [147] sự cần thiết phải thương lượng với Trung Quốc. Một bản ghi nhớ của Bộ Ngoại giao nhắc lại rằng hiện nay, chính sách tự chế “là không thể chấp nhận và không thể thực hiện được (…). Rõ ràng không thể có một giải pháp vững bền cho các cuộc xung đột ở châu Á nếu không có Trung Quốc tham gia”33.

Ngoài ra, các nước phương Tây luôn luôn khẳng định rằng các cuộc hành quân ở Triều Tiên và Đông Dương là cùng một cuộc chiến đấu, và từ nhiều tháng nay, không ngừng nhắc lại một cách logic rằng việc tìm kiếm hòa bình ở hai bán đảo này cũng không thể tách rời nhau. Ngày 16/4/1953, Tổng thống D. Eisenhower đã tuyên bố gắn việc lập lại hòa bình ở Triều Tiên với việc chấm dứt các cuộc tiến công trực tiếp và gián tiếp ở Đông Nam Á. Trong cuộc hội đàm ba bên ở Washington từ 10 đến 14/7, Thủ tướng G. Bidault luôn luôn nêu lên trước nguyên tắc “hòa bình không thể phân chia” ở Viễn Đông34. Trong phiên họp ngày 13/7, ông ta tuyên bố với các đồng nghiệp Mỹ và Anh như sau:
“Hòa bình sắp lập lại ở Triều Tiên, cũng cần làm sao cho Đông Dương có thể sớm đến giai đoạn hòa bình như thế. Bằng mọi giá, cần phải tránh không để cho hiệp định về Triều Tiên có tính cách riêng rẽ, nếu không chính phủ Pháp sẽ lâm vào tình thế nguy ngập là hòa bình đã được lập lại ở Triều Tiên mà chiến tranh còn tiếp tục ở Đông Dương. Tất nhiên, gắn hai vấn [148] đề đó với nhau sẽ gặp khó khăn, nhưng không phải vì thế mà bỏ không làm. Mối quan tâm lớn nhất của phương Tây là không để cho cộng sản có thể vừa thỏa mãn lòng mong muốn chấm dứt một sự nghiệp đã thất bại trông thấy, lại vừa tiếp tục duy trì một tai họa công khai ở Đông Nam Á”.

Cuối cùng, ít lâu sau cuộc đình chiến Bàn Môn Điếm có hiệu lực, bản tuyên bố ngày 7/8 của Bộ chỉ huy Liên hiệp quốc nhấn mạnh vài ngày sau do ý muốn của “16 nước” là không muốn thấy hiệp định đó làm hại đến việc thành lập hay duy trì hòa bình ở một phần khác của châu Á”35.

Hơn nữa, nếu Pháp gạt bỏ ý kiến về một cuộc thương lượng trực tiếp với Bắc Kinh, thì ngược lại Pháp cho rằng “sẽ có nhiều cơ hội tốt nhất đi đến một giải pháp thương lượng về vấn đề Đông Dương nếu nó được đem ra bàn bạc trong khuôn khổ một cuộc hội nghị nhiều bên” trong đó vấn đề Đông Dương chỉ còn là một vấn đề trong các vấn đề khác và Mỹ, Anh sẽ đứng về phía Pháp. Vả lại, rõ ràng là không thể nghĩ rằng Trung Hoa nhân dân lại không có mặt ở một cuộc họp như thế nếu người ta mong muốn giải quyết có hiệu quả cuộc xung đột Đông Dương.

Như vậy đề nghị ngày 4/8 của Liên Xô đã nêu lên những khó khăn về thực chất trong nội bộ phương Tây. Tuy nhiên, dưới sức ép của Mỹ, phương Tây đã trả lời trong một công hàm ngày 2/936 rằng họ mong muốn ưu tiên họp hội nghị bốn nước [149] lớn, và hội nghị đó được giới hạn trong các vấn đề Đức và Áo, có thể được tổ chức ở Luagano [Thụy Sĩ] ngày 15/10. Nhưng không nói gì đến sự tham gia của Trung Hoa nhân dân và cả vấn đề Triều Tiên là vấn đề phải được đề cập trong khuôn khổ Hội nghị chính trị theo điều khoản VI của Hiệp định đình chiến37. Tuy vậy Liên Xô đã nhấn mạnh lại đề nghị của mình. Đi xa hơn, một công hàm mới của Liên Xô ngày 28/938 đề nghị họp hội nghị năm nước lớn để làm giảm tình hình căng thẳng trên thế giới và gợi ý một chương trình nghị sự bao gồm những vấn đề rất khác [150] nhau như các vấn đề Triều Tiên, Trung Quốc, Đông Nam Á, khối Đại Tây Dương, quân bị, căn cứ quân sự và tuyên truyền chiến tranh. Họp ở London từ 16 đến 18/10, ba cường quốc một lần nữa quyết định giữ vững dự án ban đầu là họp bốn nước lớn ở Luagano cho rằng mọi giải pháp khác đều là không hợp thời39. Hai công hàm khác (một của Liên Xô ngày 3/11 và một của phương Tây, ngày 6/11 không đem lại yếu tố gì mới40.

Cuối cùng, ngày 26/11 về nguyên tắc Liên Xô tán thành hội nghị bốn nước lớn có thể họp ở Berlin và tại hội nghị này, chính phủ Moskva dành quyền đặt vấn đề triệu tập một cuộc hội nghị năm nước lớn41. Họp ở Bermuda từ 4 - 7/12, ba nước phương Tây cuối cùng đã chấp nhận gợi ý của Liên Xô tuy vẫn giữ ý kiến cho rằng đối với các vấn đề Viễn Đông, mục tiêu của phương Tây vẫn là “họp hội nghị chính trị như Hiệp định đình chiến Triều Tiên đã dự liệu”. Thông cáo cuối cùng của hội nghị Bermuda nói thêm rằng “đó là cách tốt nhất đi đến một giải pháp chính trị cho vấn đề Triều Tiên và có những bước tiến bộ nhằm lập lại những điều kiện bình thường hơn ở Viễn Đông [151] và Đông Nam Á”42. Ngày 26/12/1953, Liên Xô nói là đã nhận được công hàm ngày 8/1 của các nước phương Tây, tỏ ý vui mừng về sự thỏa thuận họp hội nghị bốn nước lớn ở Berlin và về việc phương Tây đồng ý sẽ thảo luận về khả năng họp hội nghị năm nước lớn43. Chính phủ Moskva đề nghị ngày 25/1 sẽ khai mạc hội nghị Berlin và điều này cũng đã được chấp nhận.

Hiển nhiên rằng việc Liên Xô, ngày 26/12 nhận họp bốn nước lớn chỉ là một nhượng bộ sách lược, và vấn đề Trung Quốc tham dự hội nghị năm nước sẽ trở thành trung tâm của cuộc hội nghị Berlin sắp tới.
Cũng trong thời gian đó, Chính phủ Bắc Kinh có nhiều tuyên bố về khả năng họp năm nước lớn. Ngày 4/1/1954, bà Tống Khánh Linh [宋庆龄/Sòng Qìnglíng], Phó chủ tịch Hội đồng Chính phủ nhân dân Trung ương đã liệt kê những vấn đề quan trọng nhất sẽ phải được xem xét tại cuộc Hội nghị đó: Trung Quốc gia nhập Liên hợp quốc, cấm bom nguyên tử và bom khinh khí, thống nhất Triều Tiên, ngăn ngừa phục hồi chủ nghĩa quân phiệt Đức và Nhật44. Một chương trình nghị sự như thế có nghĩa [152] rõ rệt là Trung Hoa nhân dân phải được chấp nhận tham dự hội nghị như một trong năm nước lớn và do đó, có thể thảo luận với bốn đoàn đại biểu khác về những vấn đề quốc tế lớn nhất không phải chỉ là những vấn đề Viễn Đông: Nước Trung Hoa muốn trở thành không những là cường quốc châu Á mà cũng là cường quốc thế giới.

Cuối cùng, ngày 9/1, bản thân Chu Ân Lai đã nói thẳng ra lập trường của Trung Quốc là đòi nối lại cuộc thương lượng về vấn đề Triều Tiên, các đoàn đại biểu Trung-Triều được tham gia các cuộc thảo luận tại Liên hợp quốc nếu tổ chức này quyết định xem xét vấn đề Triều Tiên và cuối cùng đòi tham dự hội nghị năm nước lớn; kết thúc ý cuối cùng, Chu khẳng định: “Chúng tôi cho rằng hội nghị này sẽ phục vụ lợi ích của việc làm dịu tình hình trên thế giới, bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế, nếu cuộc hội nghị sắp tới của bốn bộ trưởng ngoại giao tại Berlin sẽ đường dẫn tới Hội nghị năm nước lớn với sự tham dự của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa nhằm giải quyết các vấn đề quốc tế cấp bách nhất”45.

Cả hai phía đều đặt ra những đòi hỏi của mình. Cuộc thương lượng ắt là phải khó khăn.

(Còn tiếp)

29 Văn bản đăng trong Thời sự chính sách đối ngoại, tập 6, số 5, tháng 9/1953, tr. 700-702. Về các cuộc thương lượng này cũng xem A. Eden, Hồi ký, sđd, tr. 60 và tiếp theo.
30 Như trên, tr. 698-699.
31 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp,/ châu Á, châu Đại Dương,/ bBản ghi nhớ về vấn đề “Hội nghị 5 nước lớn” 20/1/1954.
32 Trong một biị vong lục trao cho Bộ Ngoại giao Pháp mùa thu năm 1953, người Anh tuyên bố họ không đẩy Mỹ phải từ bỏ Đài Loan (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp,/ châu Á-châu Đại Dương,/ bBản ghi nhớ về vấn đề “Công nhận Trung Hoa cộng sản” 21/11/1953).
33 . Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/ châu Á-châu Đại Dương, bản ghi nhớ về vấn đề “Công nhận Trung Hoa cộng sản”, 21/11/1953.
34 . Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/ châu Á - châu Đại Dương,/ bản ghi nhớ về vấn đề “Thương lượng hòa bình ở Đông Dương”, 6/10/1953.
35 . “Thời sự chính sách đối ngoại”, tháng 9 năm /1954, tr. 499.
36 Văn bản trong “Thời sự chính sách đối ngoại” tập 7, số 11, tháng 1/1954, tr. 81-82 (Văn bản các công hàm của Pháp, Mỹ và Anh đều giống nhau).
37 Điều khoản IV ghi như sau: “Nhằm giải quyết hòa bình vấn đề Triều Tiên, các bộ chỉ huy hai bên sẽ khuyến cáop các chính phủ các nước và hai bên hữu quan rằng trong thời hạn 3 tháng sau khi đình chiến được ký kết và có hiệu lực, đại biểu do 2 bên chỉ định sẽ họp hội nghị chính trị tổ chức ở bình diện cao hơn nhằm giải quyết bằng thương lượng vấn đề rút tất cả quân đội nước ngoài ra khỏi Triều Tiên, vấn đề giải pháp chính trị cho vấn đề Triều Tiên vv… (Văn kiện về đình chiến Triều Tiên - Noters et documenttaires - La Ddocumenttation Ffrancaise, Paris, số 1791, 6/10/1953, tr. 18).
Thực ra thời hạn ba tháng nếu ra trong điều khoản IV sẽ không được tôn trọng (mặc dùug sự khẩn khoản của các nước xã hội chủ nghĩa là các nước mong muốn quân đội Mỹ rút nhanh chóng ra khỏi bán đảo). Thực vậy, ngày 28 tháng /8, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông quan một nghị quyết yêu cầu các nước hữu quan chỉ định các thành viên đại diện Liên hiệp quốc tại cuộc hội nghị nói trên và giao cho Mỹ, nhân danh các nước đó, sẽ tiếp xúc với các bên Trung-Triều để triệu tập cuộc họp. Cuối tháng 10, Mỹ cử Đại tướng sứ Arthur Hobson DeanAtơdin thảo luận vấn đề này tại Bàn Môn Điếm, Sau sáu tuần thương lượng không đi đến đâu, đại biểu Mỹ cắt đứt các cuộc tiếp xúc ngày 12/12, mấy ngày sau cuộc họp ở Bermuda (xem đoạn sau).
38 . Văn bản trong phần Phụ lục bản tin hằng ngày số 2587, 3/10/1953. Thời sự chính sách đối ngoại tập 7, số 1/1/1954, tr. 83-87.
39 Văn bản công hàm ngày 18 tháng /10 trong Thời sự chính sách đối ngoại, tập 7, số 1, tháng 1/1954, tr. 88-89. Văn bản công hàm của Anh, Pháp và Mỹ đều giống nhau. Văn bản thông cáo chính thức của Hội nghị London (18/10) trong Bbản tin hằng ngày, số 2601, 20/10/1953.
40 Văn bản hai công hàm trong Thời sự chính sách đối ngoại, tập 7, số 1 năm tháng 1/1954, tr. 90-96 và 103-104.
41 Văn bản công hàm ngày 26/11 của Liên Xô trong Thời sự chính sách đối ngoại, tập 7, số 1 tháng 1/1954, tr. 105-108.
42 Thông báo cuối cùng của Hội nghị Bermuda đăng trong Bản tin hằng ngaày, số 2643, 9/12/1953. Văn bản công hàm ngày 8/12 của phương Tây đăng trong Thời sự chính sách đối ngoại, tập VII, số 1, tháng 1/1954, tr. 109 (văn bản các công hàm Pháp, Mỹ và Anh như nhau) .- Cũng xem V. Aurion, sđd tr. 558. Về lập trường của Mỹ đối với Trung Hoa nhân dân tại Hội nghị Bermuda xem D. Eisenhower, sđd, tr. 248-249.
43 . Văn bản công hàm ngày 26/12 của Liên Xô đăng trong Thời sự chính sách đối ngoại , tập 7 số 1, tháng 1/1954, tr. 122.
44 Hồ sơ lưu trữ Bộ ngoại giao Pháp, châu Á, châu Đại Dương, bản ghi nhớ về vấn đề “Xác định rõ thái độ của Pháp về vấn đề Triều Tiên” 14/1/1954.
45 Tân hoa xaã, Bắc Kinh, ngày 9/1/1954.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét