Thứ Sáu, 18 tháng 2, 2011

QUỲ

Hoàng Thị Bích Ti

Tôi ghét con mẻ đại hạn! Người gì mà hay xì-tin. Cứ như mình là hoa khôi, hoa hậu, hoa hồng không bằng. Tôi vẫn thường chọc quê Tú:
“Hoa quỳ, hoa lý, hoa ngâu. Sao bằng hoa bưởi thơm lâu, dịu dàng. Bộ hết người rồi sao cặp dzới bã ghê dzậy?”

Lần nào Tú cũng cười cười, làm thinh. Hoặc hát nghêu ngao để trêu tôi:
”Thế nghĩa là ghen quá đấy mà thôi! Thế nghĩa là yêu qúa đi mất rồi!à”

Tôi làm tới:
“Ðã dzậy còn tên Quỳ! Tội nghiệp cho bông! Hôm nào kỷ niệm ngày cưới tụi mình, em nhất định mua chậu Quỳ về tặng anh. Ðể sẵn trong góc nhà, mỗi ngày em đi ra đá một cái, đi dô đá một cái cho dzui nhà dzui cửa!”

Lần nào Tú cũng phì cười:
“Coi cái mặt ghen kià!”

Tôi liếc ngang:
“Kệ cha tui!”

Tú còn cố nói thêm:
“Hoa Quỳ đâu có ai trồng trong nhà bao giờ!”

Tôi cười tủm tỉm trong bụng, lập tức ngọt ngào:
“Ừ há, Quỳ chỉ mọc ngoài bờ ngoài bụi, hèn chi!”

Tú lườm, mắng yêu:
“Ðồ nhỏ mọn!”

Tôi trả treo:
“Kỳ chưa? Sao anh cưỡng từ, đoạt lý dzậy? Hồi nãy anh nói rõ ràng là hoa Quỳ không trồng trong nhà.
Không trồng trong nhà thì nó mọc ngoài bờ ngoài bụi chứ còn gì nữa!”

Khi cãi không lại, Tú đều bảo tôi:
“Khôn nhà dại chợ, sao không ăn thua đủ với Quỳ đi mà về nhà đay nghiến anh?”.

Lần nào tôi cũng bĩu môi:
“Em là người có dzăn hoá mà! Hơi đâu mà đôi co với bã chứ!”

Nhiều lần Tú bảo tôi ghen. Ừ, thì ghen đó làm gì tui? Bộ nói đụng tới cố nhân của anh rồi anh sốt ruột hả? Nhớ tới Quỳ là tôi phát ghét! Có lần đi dự tiệc cưới với vợ chồng nhỏ Trúc, không biết trời xui đất khiến thế nào vợ chồng tôi lại ngồi chung bàn với Quỳ. Hôm đó là lần đầu tiên tôi gặp Quỳ. Khi đấng ông chồng lúng ta lúng túng khi cái tên Quỳ vừa bật ra thì nhanh như chớp những câu thơ... có bông quỳ vào cái thời tiền sử khi Tú mới làm thơ lừng lững hiện ra khiến trong bụng tôi nổi sô. Chân thì muốnàđá bàn, đá ghế lắm rồi nhưng đầu thì đang lật lia lịa những trang cẩm nang của “Miss Manners” ra. Cứ thế, miệng yểu điệu cười như người... lịch sự. Nổi sô nhất là khi Quỳ hùng dũng leo lên sân khấu, rồi đang từ... hùng dũng bỗng dưng chuyển sang thoi thóp yếu xìu, buồn rũ rượi ra như một người đang mang tâm bệnh đến thời kỳ trầm kha thứ ba và đang sắp... “chuyển sang từ trần”:
“Hôm nay nhân ngày vui, xin có bài thơ tặng cho cô dâu chú rể. Bài thơ này tôi làm cho anh Tú, đang có mặt ở đây. Ðây là một bài thơ trong rất nhiều bài thơ chúng tôi đã gửi đến nhau trong những ngày yêu nhau. Bây giờ Tú đã có vợ. Nhưng tôi biết, trong lòng chàng, tôi vẫn là người chàng yêu duy nhất.”

Dzô dziên! Quỳ vừa nói dứt lời, tiếng vỗ tay râm ran. Tôi ngồi bên chồng, mắc cỡ muốn độn thổ trong khi Tú thì mặt mày rần rần đỏ và nhỏ Trúc thì phùng mang, trợn mắt, hất cằm, bảo Tú:
“Anh Tú ơi, thơ như vầy thì chạy là thượng sách!”

Ðọc xong bài thơ, Quỳ tung tẩy về chỗ ngồi. Mọi người trong bàn nín thinh trong khi Quỳ thản nhiên cười nói, hỏi Tú còn nhớ bài thơ... lưu bút ngày xanh ấy không. Người đàn ông râu quặp đi với Quỳ có vẻ ít nói. Quỳ khoe ngày xưa hắn từng làm đến ông Cò ở Việt Nam. Bây giờ hắn tu, nên hiền như bụt. Bên hắn, Quỳ là cây đa đầu làng lòng thòng với mớ rễ già, rễ non. Còn hắn, như chú gà con bên gốc đa. Ngơ ngáo đến tội! Quỳ nói gì, hắn cũng cười. Từ đầu, Quỳ là xướng ngôn viên cho cả hai người. Chập chập, Quỳ ngừng nói, quay sang hắn tươm tướp: “Lấy cho măng miếng đá đi cưng!” hay “Kêu thằng bồi thay dùm măng cái muỗng đi, dơ quá!” Nói chuyện vòng vo một hồi, Quỳ hỏi Tú dạo này còn in tập thơ nào nữa không. Tú nói lâu lắm rồi không có in. Hình như chỉ chờ có thế, Quỳ nhếch môi bảo tôi:
“Chàng làm thơ hay lắm! Hồi mới yêu nhau, tôi hay chép thơ chàng dầy hết một tập. Thơ chàng làm cho tôi, tới bây giờ tôi vẫn còn giữ!”

Quỳ chép miệng, làm như là nhà thơ lớn:
“Ba cái thơ nó kỳ lạ lắm! Phải có nàng thơ, phải có tri kỷ mới ra thơ, còn không sẽ bị ‘frozen’ ngay!”

“Con bà nó! ‘Frozen’ hả? Bà cho vô microwave chừng hai phút hết ‘frozen’ ngay! Thơ ra không kịp chứ ở đó mà ‘frozen’!” Nhưng tôi làm mặt tỉnh queo, cười nhẹ:
“Lâu nay ảnh vẫn làm thơ đó chứ nhưng chưa muốn in! Thơ của ảnh bây giờ hay hơn nhiều, những bài thơ trước non nớt lắm! Ảnh vất cả vào sọt rác!”

Ném sang tôi cái nhếch môi kênh kiệu. Quay sang Tú, Quỳ nói như than:
“Anh biết không, cái đời của Quỳ không cần đàn ông nhưng lạ kỳ, đi đến đâu đàn ông cứ bu theo, coi Quỳ như tri kỷ. Những người đàn ông đến với Quỳ, người nào cũng tài hoa cả.”

Quỳ nói, Quỳ tin tử vi, bói toán, ma quỷ còn tin là khi yêu ai thì chớ bảo rằng yêu, bởi cái xui nó... vận vào lời. Mỗi khi Quỳ nói với gã đàn ông xấu số nào là “ I love you” thì y như rằng gã ấy sẽ xúc động... mãnh liệt mà lăn đùng ra chết bất đắc kỳ tử, hoặc cuộc tình sẽ ra đi mùa thu luôn. Người tình đầu vắn số vì yêu Quỳ...
kịch liệt nên từ chối lên thiên đường, hạ quyết tâm ở lại trần gian, theo sát bên người yêu... ếm xì bùa cho những cuộc tình của Quỳ ra đi không hẹn ngày về. Rồi Quỳ kết luận đại khái theo kiểu, “đời tui cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn.” Quỳ tặng vợ chồng tôi tập thơ mới in. Tôi cầm tập thơ, mở ra đọc loáng thoáng rồi se sẽ để xuống bàn. Bìa đẹp. Giấy đẹp. Co chữ đẹp. Trình bày đẹp. Thơ thì ớn nhợn! Nhỏ Trúc cũng táy máy cầm lên, lật lật, để xuống chỗ cũ, miệng lầu bầu vừa đủ tôi nghe:
“Thơ gì mà đọc xong muốn... đi đái quá ‘man’!”

Tôi hiểu rõ tính tình của Trúc nên ầm ừ cho qua. Nếu tôi ấm ớ hỏi lại, tôi cá chắc nó sẽ hùng dũng lập lại câu vừa rồi, oang oang như cái đài phát thanh mở hết ga cho tất cả mọi người cùng nghe. Trúc nhỏ hơn tôi năm, sáu tuổi. Xuất thân từ một gia đình nghệ sĩ lừng lẫy, Trúc là một nghệ sĩ có tầm vóc. Sở trường của Trúc là đàn và sáo, và thường đi lưu diễn ở những hí viện lớn nhiều nơi trên thế giới. Những khi rảnh rỗi, nó còn vẽ tranh. Kỹ thuật của nó chưa được vững vàng, nhưng tranh không thua gì hoạ sĩ. Bình thường, Trúc là một người đàn bà ngọt ngào, lịch lãm, mặc dù cái khinh bạc, ngạo mạn của một người tài hoa thật sự lúc nào cũng chực bung phá. Ngoài âm nhạc, Trúc còn rất giỏi võ nghệ, là môn đồ của phái Vovinam. Nó yểu điệu, chỉ nặng khoảng một trăm pounds. Vậy mà có lần , tôi chứng kiến nó bay lên đá thằng em nặng gấp đôi nó bay qua khỏi tấm cửa lưới trong một lần hai chị em tỉ võ chơi. Nó có phong cách của một thằng con trai. Mỗi lần gặp chuyện bất bình hay nghe những lời chướng tai là nó bất chấp đối phương và bất chấp tất cả những người chung quanh. Mỗi câu bốp chát của Trúc là một cái vỗ thật nhẹ vào mặt kẻ đối thủ xấu số nhưng lúc nào cũng để lại một vết bầm tím. Nội công thâm hậu đến thế là cùng! Nhiều lần tôi bảo nó: “Ðàn bà gì mà dữ quá!” Nó nũng nịu tựa đầu lên vai tôi, mắt chớp chớp như... con cọp nhỏ, giọng ngây thơ vô số tội:
“Bộ em d...ư...ữ lắm hả? Em dữ với thứ cà chớn chứ em đâu có dữ với chị đâu!”

Rồi nó áp mặt lên má tôi, đổi giọng du côn tức thì:
“Dữ vậy đó, rồi sao? Bà không biết tui từng ở với Việt cộng mười năm rồi hả? Ðứa nào nó đụng tới chị là chết mẹ nó với tui đó, bà có biết không hả?”

Tôi yêu tiếng đàn Tam Thập Lục khi dạt dào như suối reo, khi réo rắt như mưa than, khi bi tráng như một trận cuồng phong, và tôi yêu tiếng sáo láy bay vút tha thiết của nó vô cùng. Tôi yêu luôn cả cái du côn không thua gì một thằng con trai và lối ăn nói xách mé khi cần của nó. Nó là nàng Doanh Doanh ngây thơ. Khi dịu dàng. Khi đanh đá. Và sướt mướt tình cảm.

Bên kia bàn, Quỳ cười nói khanh khách, lật tập thơ có một đống hình chụp của mình đang trình diễn violin phía sau, Quỳ nói với Tú khi kéo đàn Quỳ không có... “dáng đứng Bến Tre,” mà kiểu đứng của Quỳ sexy như dân du mục gypsy. Nhìn Tú rù rì với Quỳ mãi, tôi cay cú nghĩ trong bụng: “Người đẹp thì, đi, đứng, nằm, ngồi cỡ nào cũng sexy hết! Một bà gần sáu bó có đứng hay ngồi kiểu gypsy thì có khác thua chi bà chúa ăn mày!” Quỳ khoe mình xuất thân từ trường Quốc Gia Âm Nhạc, chuyên độc tấu violin. Quỳ chê ban nhạc đánh “què” quá! Và nào là dân Việt Nam không biết chơi nhạc cổ điển tây phương. Văn hoá Việt Nam nghèo nàn, không có một nền âm nhạc riêng, toàn bắt chước. Nóng máu, Trúc hai ba lượt cười lạt, chừng như muốn mổ Quỳ một trận nhưng tôi níu chặt tay nó dưới gầm bàn. Nó hằn học, nói một hơi qua kẽ răng:
“Con mẹ nào mà ngon quá dzậy? Xuất thân từ trường Quốc Gia Âm Nhạc thì sao? So what? Kệ mẹ nó chứ! Kiến thức âm nhạc của nó có bao nhiêu mà dám nói Việt Nam không có nhạc. Ðồ mất gốc, lai căng!
Ðồ phản thầy! Hồi ở Việt Nam tui đã từng đi dạy ở Quốc Gia Âm Nhạc nè! Ðừng nói chuyện âm nhạc kiểu dân bến xe đó dzới tui! Nghe thúi hoắc!”

Quỳ vẫn chưa thôi, lớn tiếng chĩa qua tôi:
“Người đẹp có cặp mắt ướt át quá! Bác sĩ nào sửa vậy?”

Tôi còn đang ú ớ thì Trúc đã cười gằn. Tôi biết nó chịu hết nỗi. Nâng ly rượu uống cạn vèo, nó thủng thẳng đặt cái ly không xuống bàn cái “cốp”. Trúc đằng hắng, lớn tiếng, chậm rãi nói như phán:
“Chị P. không có cái gì sửa hết! Ðẹp tự nhiên vậy đó! Chị muốn sửa hả? Ðể em cho chị địa chỉ. Em nghe nói có ông bác sĩ này hay lắm! Bác sĩ của chị có bó tay, ổng cũng làm được liền! Bơm, khâu, cắt, vá gì cũng có hết! Bảo đảm, không đẹp không ăn tiền.”

Chưa hết, nó còn làm ra vẻ ái ngại:
“Em nghĩ chị nên đi sửa ngực đi! Dzú của chị... hơi bị lép đó!”

Tôi tá hỏa. Trời ạ! Dường như mười sáu con mắt của tám người ngồi trong bàn và cả hai con mắt của tôi cùng hướng về cái khoảng ngực trần mỏng tanh như miếng khô cá sặt của người đàn bà nhưng ai cũng làm như không nghe, không thấy, không để ý gì hết. Trúc tiếp tục làm như rất quan hoài đến đối phương:
“Theo như trong tướng số thì đàn bà dzú lép như dzậy không được tốt lắm đâu! Xui xẻo lắm! Không những bị đàn ông tẩy chay, mà nhìn cũng chán lắm! Chị sửa đi!”

Mặc cho tôi và tất cả mọi người há hốc ra hết nhìn Quỳ rồi nhìn nó. Trúc thản nhiên một tay gắp thức ăn, tay kia yểu điệu xoè ra, đưa cao, giọng ngọt như chè đậu ván:
“Năm ngàn thôi! Nghe nói tháng trước sale còn có ba ngàn rưởi hà!”

Quỳ lặng người không nói. Những người đàn ông trong bàn giả lã rủ nhau cùng nâng ly. Vừa lúc ấy, tiếng nhạc trỗi lên. Tú quay sang người đàn ông bên Quỳ, xin phép mời Quỳ ra sàn nhảy. Quỳ vất cái khăn lau miệng xuống bàn, đứng lên sau khi nhìn tôi với một nụ cười rất lạnh. Nhìn Quỳ ôm cứng lấy Tú trong điệu slow, Trúc bĩu môi:
“Cái thứ dân gì mà...!”

Tôi cằn nhằn:
“Trời ơi, thôi mà! Kệ bã đi!”

Nó lầu bầu, giọng gắt gỏng:
“Gì? Con mẹ độc vật đó là cái thá gì mà dám đụng tới chị chứ! Tui cho nó một đá bay ra khỏi bàn bây giờ! Ðồ cái dân rẻ tiền! Xí! Cái thứ gì mà... Chị muốn hôn! Chị muốn tui đá nó văng ra khỏi cửa hôn? Lâu lâu tui mới gặp bà một lần, tui muốn ngồi uống rượu với bà. Chỗ này đâu phải để cho nó múa mỏ! Nó mở miệng nói thêm một câu nữa là chết mẹ nó với tui! Cái thứ đó chưa đáng xách dép cho tui với bà nữa là!”

Trên đường về, tôi bực bội gây:
“Chà, hôm nay anh lại có cái màn anh hùng cứu mỹ nhân nữa hén!”

Tú phân bua:
“Em không thấy nhỏ Trúc sắp làm thịt người ta sao? Em biết tính tình của Trúc mà!”

Tôi hậm hực:
“Anh làm chuyện hổng giống ai! Còn cái ông ngồi bên bả vất đi đâu?”

Tú nhăn mặt:
“Cái anh chàng mặt gà mái ấy hả? Em không thấy hắn ngồi trơ trơ như Từ Hải, mặt mày ngu thấy rõ sao?”

Nhớ tới hình ảnh đấng ông chồng của mình dìu Quỳ trên sàn nhảy, tôi tức ngược, đay nghiến:
“Còn bày đặt slow mùi nữa...”

Tú đau khổ:
“Thật tình lúc đó quýnh quá, anh đâu có để ý ban nhạc đang chơi gì chứ!”

Tôi vẫn không thôi:
“Nàng thơ trong... dĩ dzãng dầm dề dễ “dì” dấu diếm của anh sao mà kinh!”

Tú chống chế:
“Bậy bạ! Ai nói bả là nàng thơ của anh?”

Tôi bĩu môi:
“Chứ không phải bả nói là anh từng làm thơ cho bả đó sao?”

Mặt Tú xụ một đống, trả lời yếu xìu:
“Thơ anh làm, bả nghĩ anh làm cho bả là chuyện của bả chứ! Chẳng lẽ anh đính chính nói không phải à! Em chỉ giỏi tài ghen!”

Tôi chả thèm cãi với Tú nữa. Hậm hực nghĩ bụng: Ghen hay không kệ cha tui! Làm như có thớ lắm!!

Sau lần gặp nhau ở đám cưới, tôi nghe phong phanh Quỳ đang có bồ nhí. Bồ mới là một anh chàng phó nhòm, trẻ hơn Quỳ tới hai con giáp. Quen nhau trên chat-room. Rủ nhau qua Trung Quốc du lịch. Hẹn nhau dưới chân Vạn Lý Trường Thành. Mỗi người cột cái khăn quàng đỏ để nhận diện ra nhau. Nhận diện ra nhau rồi yêu nhau cái đùng như gà bị cúm. Chàng về nước, chờ ngày xuất giá. Nàng về nhà đợi hẹn với luật sư.
Thiệp hồng gửi ra tua tủa. Nhận được thiệp mời tới chia vui, tôi cười toe. Khoẻ re! Lâu nay tôi rất sợ các buổi chia chác. Chia buồn. Chia vui. Chia buồn thì giã ân giã nghĩa. Có những nỗi buồn... tàn thu, chia sao cho đặng mà chia! Chia vui thì người ta mới dzui chút xíu, chưa biết được bao lâu mà đòi chia cũng kỳ! Nhưng cuộc chia này thì tôi hoan hỉ lắm! Tôi nôn nóng chờ đợi cái ngày chia vui ấy. Trước ngày con sáo sang sông hai tuần lễ, vợ chồng tôi được tin đám cưới đã xù. Anh chàng phó nhòm của Quỳ bị đứt film hay cháy bóng gì đó nên ôm số tiền sính lễ của Quỳ ở lại, tiếp tục nghề nhòm ngắm.

Tôi gặp lại Quỳ lần nữa. Cũng trong một buổi tiệc. Cũng đọc thơ. Cũng âm nhạc. Cũng những câu nói tự đánh bóng mình:
“Cái đời của Quỳ không cần đàn ông. Nhưng lạ kỳ! Những người đàn ông đến với Quỳ, người nào cũng tài hoa cả! Những mối tình đi qua, để lại những dấu ấn. Và cuộc tình nào cũng lớn, cũng thơ mộng như chuyện tình Lara.”

Tôi ngồi trong đám đông. Lặng lẽ nghe Quỳ say sưa nói về mình. Lặng lẽ ngắm Quỳ. Cuộc đời của Quỳ rốt ráo chỉ là một cuốn tiểu thuyết nhiều hư cấu. Như một “truyện dài không có... hay”. Ồn ào. Hoang tưởng. Nỗi ồn ào ngây ngô. Và nỗi hoang tưởng đầy rối loạn. Bên trong lớp son phấn tự bôi trét là một tâm hồn yếu đuối. Bệnh hoạn. Tôi vốn không phải là người cao thượng gì cả. Nhưng lạ thật, tôi không còn ghét Quỳ nữa! Thật sự, không bao giờ ghét được nữa. Tôi đã nhìn thấy Quỳ. Sau lớp son phấn sân khấu. Trần trụi. Mong manh. Như con ốc mượn hồn nhỏ bé. Tôi hướng về phía Quỳ ngồi. Nỗi chua xót trào dâng. Nỗi chua xót rất đàn bà. Và chợt thấy Quỳ cũng đang hướng nhìn tôi, rất lâu. Một cái nhìn vô cùng hoang mang, yếu đuối...

Va, 25/11/20005.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét