Thứ Sáu, 25 tháng 2, 2011

Nhất Linh, Giòng Sông Thanh Thủy

LTS. Bắt đầu từ ngày Thứ Bảy 26/2/2011, Diễn Đàn Thế Kỷ sẽ khởi đăng tiểu thuyết Giòng Sông Thanh Thủy của Nhất Linh. Để có một ý niệm về bối cảnh ra đời cùng tư tưởng sáng tác của tác giả trong tác phẩm này, mời quý độc giả theo dõi sau đây bài giới thiệu “Nhất Linh, Giòng Sông Thanh Thủy” của nhà nghiên cứu văn học Thụy Khuê. Hiện nay sách của Tự Lực Văn Đoàn đã được tái bản tại Việt Nam, nhưng tất cả các tác phẩm của Nhất Linh viết sau 1945, trong đó có Giòng Sông Thanh Thủy, đều bị cấm. DĐTK

Thụy Khuê

Nhất Linh bắt đầu viết Giòng Sông Thanh Thủy ngày 28/11/1960. Cuốn đầu, Ba người Bộ Hành, 248 trang, trong vòng một tháng. Hai tập sau chắc cũng hoàn tất rất nhanh bởi toàn bộ ba cuốn, hơn 600 trang, được nhà Ðời Nay in năm 1961, hai năm trước khi Nhất Linh quyết định tự chấm dứt đời mình.

Tại sao lại có Giòng Sông Thanh Thủy? Bộ tiểu thuyết vượt ra ngoài cõi viết của Nhất Linh, một người mà cho đến năm 1960 vẫn loại chính trị ra ngoài văn học? Phải chăng Nhất Linh muốn để lại một tự phán của nhà văn Nhất Linh về nhà chính trị Nguyễn Tường Tam và qua đó là bản án của văn học đối với cách mạng?

Giòng Sông Thanh Thủy là một trường giang tiểu thuyết, gồm: Ba Người Bộ Hành, Chi Bộ Hai NgườiVọng Quốc. Toàn bộ viết về thời kỳ cách mạng Việt Nam tại Trung Hoa, thời kỳ 44-45, trên trục Côn Minh, Khai Viễn, Mông Tự, Hà Giang mà hoạt động chính trị của Việt Minh và Việt Nam Quốc Dân Ðảng, ở vào thế phải diệt nhau bằng những phương tiện tàn bạo nhất: ám sát, thủ tiêu. Hai nhân vật chính trong truyện: Ngọc, cán bộ Việt Quốc, Thanh, cán bộ Việt Minh đều biết người nọ có nhiệm vụ phải giết người kia nhưng đồng thời họ cũng yêu nhau bằng một tình yêu tuyệt đối: tình yêu đến chết.

Về văn phong và nghệ thuật, Giòng sông Thanh Thủy không phải là tác phẩm nổi bật nhưng là cuốn sách mạnh nhất về tư tưởng và chính trị của Nhất Linh, ông điều tra về con người, về các guồng máy chỉ đạo con người, về tội ác, về sự nhân danh lý tưởng, tổ quốc dẫn đến tội ác, về chỗ đứng của tình yêu, bên cạnh tội ác. Tóm lại là sự sa đọa của con người trong các guồng máy cách mạng nói chung.

Giòng Sông Thanh Thủy không phải là cuốn tiểu thuyết chống Cộng sản, bênh Việt Nam Quốc Dân Ðảng, ở đây Nhất Linh đứng lên trên địa vị đảng trưởng, ông dùng địa vị nhà văn để phân tích tâm lý và hành động của những người bẩm sinh hiền lành, nhân ái, nhưng khi đã sa vào guồng máy cách mạng, có thể trở thành những kẻ sát nhân lạnh lùng, không chút rùn tay, chùn bước. Giòng Sông Thanh Thủy là tác phẩm phản đề, phản lại những mẫu người cách mệnh trước, như Dũng, như Trúc v.v..., những nhân vật lãng mạn làm cách mạng mà không nhúng tay vào tội ác. Với Giòng Sông Thanh Thủy, Nhất Linh xác định: cách mạng và tội ác đi đôi với nhau, không thể khác. Trong Giòng Sông Thanh Thủy, Nhất Linh nhà văn, kết án Nguyễn Tường Tam nhà cách mạng, và đưa ra chân lý: cái đẹp trong văn chương và ý nghĩa nhân bản của văn học sẽ còn tồn tại lâu dài, như thơ Tô Ðông Pha, Ðỗ Phủ, trong khi những thành bại chiến tranh Chu Du, Tào Tháo... đều đã trôi vào quên lãng. Hiển nhiên hơn, 40 năm trôi qua, Nhất Linh nhà văn vẫn còn tồn tại, trong khi nhà cách mệnh Nguyễn Tường Tam đã đi vào bụi bặm của thời gian. Ðó là ý nghĩa sâu xa của tác phẩm.

*

Giòng Sông Thanh Thủy được cấu trúc như một cuốn tiểu thuyết trinh thám mà các đối thủ truy tìm chỗ hở của nhau để ra tay, toàn thể lồng trong không khí nghi ngờ, một nỗi nghi ngờ bệnh hoạn: không biết đối phương là ai? Là gián điệp đơn phương hay nhị trùng? Kẻ mình sắp giết có phải là nội gián cho địch? Hay chính mình sẽ bị địch giết trước? Ba người Bộ Hành mở vào cạm bẫy, rình rập tay ba giữa Ngọc, Tứ và Nghệ. Trong khi Chi Bộ Hai Người tìm sự đối chất tay đôi giữa Ngọc và Thanh. Cuối cùng, Vọng Quốc theo dõi đường về cõi chết của hai người.

Những nhân vật chính (cán bộ Việt Quốc và Việt Minh) xuất thân từ những môi trường khác nhau, họ tình cờ làm cách mệnh hơn là vì lý tưởng.

Ngọc (Việt Quốc) đang đi học, vì gia cảnh sa sút nên phải bỏ dở để học nghề đan ren ở làng bên cạnh. Ngọc yêu Thúy, con ông chủ. Thúy ho lao, mất. Ðang bàng hoàng trước cái chết của Thúy, Ngọc được Lê, anh ruột Thúy dẫn vào cách mạng, trở nên một cán bộ giao liên, phụ trách thủ tiêu những phần tử Việt Minh. Thanh (Việt Minh) được lệnh trà trộn vào hàng ngũ Việt Quốc ở Vân Nam và Hà Giang, quyến rũ Ngọc, giết Ngọc và tiêu diệt toàn bộ Việt Quốc. Thanh xuất thân con nhà giầu, có học, lấy chồng nhưng người chồng chơi bời, tiêu hết tiền hồi môn của vợ, hai người ly dị, Thanh gặp người tình thứ nhì, lại bị lừa lần nữa, thất vọng, gia nhập Việt Minh.

Những nhân vật khác cũng theo cách mệnh vì những lý do cá nhân hơn là vì lý tưởng, như Nam, trước làm y tá, vì nhà sa sút nên phải lấy một người chồng Tàu, theo chồng sang Vân Nam; chồng chết, ở hẳn lại Vân Nam, làm nghề thầy thuốc, đỡ đẻ và gia nhập Việt Quốc, thi hành các vụ thủ tiêu. Nam, dưới mắt Ngọc, “là người rất hiền lành thế mà bây giờ nàng cũng giết người không khác gì chàng” (Giòng Sông Thanh Thủy, Văn Mới 2003, trang 66). Về việc Nam thủ tiêu Vương Ðức, một cán bộ Việt Minh, Ngọc nghĩ: “chàng chưa hiểu được tại sao một người đàn bà nhu mì như Nam lại có thể giết người, mà lại tự ý giết một cách độc ác như thế, chàng thốt nhớ lại câu Thanh nói: ‘Bị cái guồng máy nó lôi kéo.’ [...] Ý nghĩ về cái tốt, cái xấu ở đời lại lảng vảng trong đầu óc chàng, [...] cũng như Tứ và Nghệ, đều là những người tốt, có lòng nhân đạo [...] Ngay lúc Nam kể cho chàng nghe về việc giết Ðức, chàng không khỏi ghê tởm vì lòng độc ác của con người; chàng thấy thương hại cho Ðức khi bị Nam bóp cổ; đôi mắt mờ ấy biết đâu đã không đau khổ vì không hiểu và biết đâu Ðức không có cha mẹ, vợ con hay một người yêu và trước khi chết đã không nghĩ tới những người thân yêu đó.” (Giòng Sông Thanh Thủy, Văn Mới 2003, trang 70).

Ngọc không hiểu tại sao Nam, một phụ nữ hiền lành, một bà đỡ, một thầy thuốc chuyên chữa bệnh cho người nghèo, một người “cứu nhân độ thế” mà lại có thể giết người không gớm tay, cũng như Ngọc không hiểu được chính mình, tại sao có thể thẳng tay thủ tiêu hai cán bộ Việt Minh, Tứ và Nghệ, một cách tàn ác và lạnh lùng không kém.

Ba Người Bộ Hành, mổ xẻ sự “không hiểu” ấy và mô tả tâm lý rình rập giữa Ngọc, Tứ và Nghệ. Cả ba đều đã dùng những thủ đoạn “dối trá, gian giảo, độc ác để hạ thủ nhau”: “Họ rình nhau như những con thú dữ mà người nào cũng vì một lý tưởng mình cho là cao đẹp” (Giòng Sông Thanh Thủy, Văn Mới, trang 127). Ở đây, Nhất Linh đã viết những trang lạnh lùng và rùng rợn nhất về tội ác của con người, nhân danh cách mạng. Ngọc dẫn Tứ và Nghệ đến một chỗ được gọi là “chỗ ấy”, tức là nơi Ngọc sẽ thi hành bản án; trên đường xuyên núi rừng, phong cảnh hùng vĩ, Ngọc vừa đi vừa hát: “Chàng cất tiếng hát cao giọng, đi thật mau cho bước chân ăn nhịp với bài hát mà chàng cố hát thật mau:
Hồn nước muôn năm sống cùng non nước!
Ngày nay ta noi tấm gương anh hùng,
Dù khó thế mấy quyết cùng nhau bước,
Làm cho vang tiếng cháu con nòi giống Tiên Long.
Chàng chuyển sang điệp khúc:
Mau, mau đồng lòng, tay cầm tay, trông cờ nước, ta đều bước,
Tuốt gươm, thề với núi sông...
Hồn nước muôn năm sống cùng...

Bài hát ấy là của Lưu Hữu Phước, đảng viên Việt Quốc trong thời kỳ bí mật từ trong nước truyền ra.” (Giòng Sông Thanh Thủy, Văn Mới 2003, trang 131)

Nhất Linh đã dùng tâm lý nghệ thuật để giải thích câu hỏi: Tại sao một người “bình thường” như Ngọc, có thể giết người - người đồng loại - cùng chung một lý tưởng đánh đuổi ngoại bang như thế? Câu trả lời có thể rất đơn giản: Họ giết người theo đơn đặt hàng của “tổ quốc”. Lạnh lùng hành sự, không chút chùn tay, vì cho rằng mọi hành động của họ đều “vì tổ quốc”, đều được tổ quốc phù trợ. Tổ quốc trở thành Thượng Ðế, một thứ cứu cánh biện minh cho phương tiện. Tổ quốc - cái tổ quốc ấy - được những giáo sĩ, tông đồ, thừa sai... rao giảng. Mỗi nhóm thừa sai có một ý nghĩa tổ quốc khác nhau: Tông phái Việt Minh và thiền phái Việt Quốc không cùng chung quan niệm về tổ quốc, về chính thể, về tổ chức xã hội... dù họ cùng là người Việt. Cho nên những pháp tăng như Lưu Hữu Phước, nay có thể cổ võ cho Việt Quốc, mai trở cờ đón gió Việt Minh, nhưng vẫn ở trong lòng “tổ quốc” và vẫn có thể nhân danh tổ quốc thanh toán, loại trừ nhau. Ở đây, cái ác của con người đã được mặc đồng phục tổ quốc để hành sự. Ngọc cũng là người bình thường như tất cả mọi người, nhưng khi cái ác trong anh được tổ quốc trưng dụng, anh có thể bình tĩnh làm những hành động điên cuồng nhất mà lương tâm không mảy may dầy vò. Lương tâm đã bị “chính nghĩa” chinh phục, nó cấm khẩu.

Vô hiệu hóa được lương tâm, Ngọc sung sướng thưởng thức cảnh đẹp, say sưa với nhịp bước hùng ca và tự do hành sự. Sau khi đã bỏ thuốc độc trong cà phê cho Tứ và Nghệ rồi, “chàng nhấc thây của Nghệ và Tứ đem ra đặt sát gần bức vách rồi đẩy mạnh một cái. Hai cái xác rơi từ trên cao xuống, lọt vào khe mấy tảng đá. Ðứng ở trên còn thấy hở ba cái chân, Ngọc bẻ một cành cây rậm lá quăng xuống, chàng phải quăng xuống bốn năm cành mới có một cành trúng và che phủ mấy cái chân hở. [...]

Ngọc ngửng lên: trời cao và xanh, lơ lửng một vài đám mây trắng. Các ngọn núi bao bọc chung quanh dưới ánh sáng mùa thu trong có một vẻ đẹp rực rỡ mà vẻ đẹp của trời thu như còn xa hơn nữa; nắng đẹp ở vườn sau nhà Thanh, nắng làm rám da mấy quả lựu và làm hồng đôi gò má Thanh đương đứng ngắm những cánh hoa lựu trắng, nắng còn đẹp ở những nơi xa xa nữa; lúc này Nga đương ra vườn cất quần áo đã khô, lòng chợt nhớ đến chồng, mong ngày chồng về; nắng đẹp ở trong vườn người chị thân yêu của chàng giờ này có lẽ đương cau mũi và mắng chàng:
-Thằng Ngọc chết tiệt, đi đâu biệt tích không một lá thư gửi thăm nhà.” (Giòng Sông Thanh Thủy, Văn Mới 2003, trang 143-144)

Phải có một bản lãnh cao cường như Nhất Linh mới có thể hoà trộn tội ác trong bối cảnh trời cao, mây rộng, yêu nước và yêu người như thế. Như để báo trước chủ đề: thế giới tâm linh không có làn ranh thiện ác, trước khi vào truyện Nhất Linh đã dẫn hai câu thơ Nguyễn Du: Trời kia đã bắt làm người có nhân, đã mang lấy nghiệp vào thân, và lời Pascal: Vérité en decà des Pyrénées, erreur au delà; bên này dẫy núi Pyrénées là sự thực, bên kia là sai lầm.

Nhất Linh thay rặng Pyrénées của Pascal bằng dòng sông Thanh Thủy. Trong con người không có rặng Pyrénées, cũng không có dòng sông Thanh Thủy, hoặc nếu có thì cả núi lẫn sông đều chìm lấp trong cái vực chung thiện ác là trái tim.

Ngọc và Thanh là tên một loài lan quý (Giòng Sông Thanh Thủy in 10 bản trên giấy Thanh Ngọc với 17 phụ trang do chính Nhất Linh vẽ). Lan Thanh Ngọc mà Nhất Linh đã tha thiết vun trồng bên giòng suối Ða Mê, được minh họa ở trang đầu với những dòng:
Sắc trong Thanh Ngọc hương thơm mộng
Một thoáng mơ tiên thoảng xuống trần.

Thơ và họa dạo đầu, phác thảo chân dung hai nhân vật chính, vừa trong như Ngọc, vừa Thanh như lan, nhưng chẳng bao lâu sẽ hoá thân thành ác quỷ, một khi họ bị guồng máy cách mệnh cuốn về hai phía đối đầu: quốc gia và cộng sản. Thanh Ngọc chỉ là tại kiếp, trước họ đã có tiền kiếp Linh Giang, sau họ là hậu kiếp Bến Hải. Hai trăm năm, hai mươi năm, vận hạn ngắn dài, tuỳ theo lịch sử và con người, nhưng tựu trung tất cả đều là những linh hồn đồng bệnh.

Cho nên, tác phẩm của Nhất Linh không chỉ viết cho một thời mà ông viết cho nhiều thời, không chỉ là sự tranh chấp giữa Việt Quốc - Việt Minh những năm 45, mà còn bao trùm những tranh chấp đã có từ trước Nhất Linh, sau Nhất Linh... hai trăm năm, hai ngàn năm... những guồng máy tranh chấp chưa bao giờ ngừng quay từ khi có loài người. “Thanh nói với Ngọc:
-Cái guồng máy ấy vẫn còn, còn mãi, anh đã xem Ðông Chu Liệt Quốc và Tây Hán chứ?

-Có, tôi có đọc nhiều lần.

-Ðấy, anh xem cái guồng máy đã có từ mấy nghìn năm trước. Anh chắc còn nhớ Vệ Ưởng nước Tần, Phạm Lãi với Văn Chủng nước Việt, Hàn Tín với Chương Lương đời Tây Hán. Vệ Ưởng, Văn Chủng, Hàn Tín đều bị cái guồng máy nó nghiền nát nhừ cũng như nó sẽ nghiến anh Ninh và cả anh nữa. [...] Anh bị lôi cuốn vào đó và tôi cũng vậy.” (Giòng Sông Thanh Thủy, Văn Mới 2003, trang 193-194)

Thanh gần gũi với Nhất Linh, tâm hồn nghệ sĩ, yêu cái đẹp, có tư tưởng. Ðã bao lần Thanh muốn bỏ tất cả để tìm đến thiên thai với Ngọc. Họ đã sống những giây phút thần tiên, lãng mạn với nhau, đã đi thuyền trong trăng, đã dạo vườn đào Côn Minh như Lưu Nguyễn. Thanh đã muốn bỏ tất cả tục lụy, tranh chấp, chém giết, nhưng guồng máy không tha cho Thanh, không tha cho Thanh-Ngọc. Như Thanh, Nhất Linh cũng đã bỏ tất cả, lên Ðà Lạt tu tiên, tìm một cõi đam mê, vượt khỏi bụi bậm cuộc trần, nhưng rồi rút cục Nguyễn Tường Tam cũng không thoát khỏi guồng máy, lại trở về trần, trở về với đấu tranh chính trị, để rồi bị guồng máy chính trị nghiền nát. Nhất Linh gánh cái nghiệp của nhà văn và nhà cách mạng: cả hai đều biết rất rõ về nhau nhưng không buông tha nhau và đeo đuổi nhau đến hơi thở cuối cùng. Văn chương và cách mạng đối với Nguyễn Tường Tam Nhất Linh như Ngọc và Thanh, như lan Thanh Ngọc, là một thứ tình yêu lạ lùng, tình yêu đến chết.

Khi Ngọc và Thanh biết đích xác nhiệm vụ của nhau, họ cùng đi với nhau đoạn đường cuối tên là Vọng Quốc. Họ cùng vọng quốc như nhau, cùng rời Côn Minh đi về biên giới, vượt cầu sang sông Thanh Thủy, về Hà Giang để phụng sự đất nước.

Ðất nước là của chung, nhưng cách phụng sự đất nước của đảng họ lại khác. Cho nên phải giết nhau. Ðoạn đường cuối ấy được Ngọc cảm nhận như sau: “Ngọc cho cuộc đi với Thanh về Hà Giang như một cuộc tìm kiếm thiên thai; thân chàng dù có bị guồng máy nghiến nát nhưng linh hồn chàng theo lời Thanh vẫn thường nói, sẽ tan đi như hạt muối trong nước hay biến thành một niềm vui hoà loãng trong cái mênh mông của hư vô. Phạm Lãi, Tây Thi chết đã mấy nghìn năm nhưng tâm hồn hai người vẫn tồn tại trong tâm hồn nhân loại.” (Giòng Sông Thanh Thủy, Văn Mới 2003, trang 295)

Trong hành trình này, hai người đã đồng ý với nhau rằng trước khi chết, nếu được nhìn một hình ảnh đẹp, nghe một điệu nhạc hay, thì cái chết chắc sẽ bớt đau hơn. Và họ cũng đạt đến giây phút thần tiên ấy:
“Thanh để hết cả tâm hồn khe khẽ ngâm, tiếng thoảng nhẹ như hơi gió trong đêm trăng sương mù:
Ðêm sương thoảng tiếng ai trong gió,
Lòng hỏi lòng biết có hay không?
Hay trong tiếng vọng mơ mòng
Của lòng mình nói cho lòng mình nghe...

Tiếng ngâm dứt đã từ lâu nhưng dư âm còn vang mãi trong hồn Ngọc. Tự nhiên chàng nghĩ đến hôm đi chơi hồ, Thanh ngâm bài phú Xích Bích và nói bây giờ còn đâu Tào Tháo, Chu Du nhưng câu thơ hay của Tô Ðông Pha và ánh trăng trong trên giòng Xích Bích thì còn mãi mãi. Chàng nghĩ Thanh và chàng có thể lát nữa sẽ chết, Việt Quốc, Việt Minh ám hại lẫn nhau cũng không còn nữa. Nhưng tiếng ngâm của người yêu thì như mãi mãi bàng bạc trong không gian của những đêm sương lạnh.” (Giòng Sông Thanh Thủy, Văn Mới 2003, trang 361-362)

Có phải đó là chúc thư văn học của Nhất Linh? Phải chăng Nhất Linh muốn nhắn lại rằng tất cả những tranh giành, quyền lực, lý tưởng... rồi sẽ chết cùng với con người. Nhưng tiếng thơ không chết. Tô Ðông Pha không chết, cũng như Nguyễn Tường Tam đã phần nào chìm trong quên lãng nhưng Nhất Linh sẽ sống mãi với Ðôi Bạn, Bướm Trắng, Xóm Cầu Mới, Giòng Sông Thanh Thủy... trong lòng người.

Với Nhất Linh, thực thể duy nhất đọng lại, kết tinh trên đống xương tàn, trên những nấm mồ của các guồng máy đấu tranh, vẫn là cái đẹp. Cái đẹp là khối tinh anh kết tụ cả thiên nhiên, vũ trụ lẫn con người. Cái đẹp là cứu cánh, cứu rỗi, không độc tôn như Thượng Ðế mà đa dạng, ai cũng có thể chiếm hữu và chia sẻ. Bản thân cái đẹp có thể chinh phục tất cả mọi linh hồn mà chẳng cần mảy may bạo động.

(Paris, tháng 5/2002, tháng 3/2003)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét