Thứ Hai, 28 tháng 2, 2011

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn

Mục Đích Của Hoa Kỳ

Kỳ 7

6. Tính chính đáng là sức mạnh: Ngày nay, Hoa Kỳ có tất cả các loại sức mạnh trong nguồn tiếp liệu phong phú trừ một thứ: tính chính đáng. Trong thế giới ngày nay, đây là một thiếu sót quan trọng. Tính chính đáng cho phép một đất nước thiết lập chương trình hành động, xác định một mối khủng hoảng và huy động sự ủng hộ cho các chính sách giữa các sức mạnh của cả nhà nước lẫn dân sự như các giới doanh thương tư nhân và các tổ chức đại chúng. Tính chính đáng là tính cách khiến đã cho phép ca sĩ ngôi sao nhạc Rock Bono, chẳng hạn, thay đổi được chính sách của chính phủ trong một vấn đề hệ trọng, giải trừ nợ nần. Sức mạnh của ông ta nằm trong khả năng nắm bắt được căn bản quan trọng của trí thức và đạo lý của mình.


Tính chính đáng đến từ nhiều hình thái. Chính quyền Clinton đã dùng sức mạnh trong ba dịp quan trọng - ở Bosnia, Haiti và Kosovo. Không có trường hợp nào chính phủ mang vấn đề ra trước Hội đồng An Ninh LHQ, nhưng đã có một chút gợi ý là chính phủ nên làm như thế. Thực ra, ngay Tổng thư Ký Kofi Annan đã từng ra các tuyên bố như biện hộ cho hành động ở Kosovo, giải thích rằng chủ quyền quốc gia không nên được dùng đến như một che đậy cho các hành vi quấy nhiễu con người. Chính quyền Clinton đã có thể bỏ qua điều này một phần bởi vì một căn bản của lòng tin. Dù chính quyền Clinton - hay chính quyền George H. W. Bush - đã có tính quyết đoán trong nhiều cách, các nước còn lại của thế giới đã không cần đến sự đoan chắc về ý định của họ. Chính quyền Bush đương thời không phải chịu tất cả những chê trách về những đổi thay bi đát đến thế nào trong hiện tại. Bời vì ngày 9/11, chính quyền này không có lựa chọn nào ngoài việc phải quyết đoán sức mạnh của hoa Kỳ và hành động mạnh mẽ trên sân khấu thế giới. Nhưng tất cả những điều đó đã mang đến đủ lý do để áp dụng một cử chỉ tham vấn và hợp tác trong khi hành động những gì cần phải làm. Dọa nạt kẻ thù là một việc nhưng đồng thời việc ấy có thể gây kinh sợ đến cả thế giới còn lại.

Hoa kỳ giữ được khả năng đáng kể để thiết lập chương trình hành động, từ đó tham khảo được tính chính đáng trong liên quan đến những gì cấu thành một khó khăn, khủng hoảng hay vi phạm. Các ý tưởng và lý tưởng của Mỹ vẫn thống trị các cuộc tranh cãi về Darfur, vũ khí hạt nhân của Iran và Burma. Nhưng Washington cần phải am hiểu rằng việc khuyến khích sự ủng hộ của công chúng thế giới cho các quan điểm của mình là một nguyên tố quan trọng của sức mạnh, không phải chỉ là việc thực hành các quan hệ về công chúng. Các nước khác, dân chúng và các hội nhóm hiện nay có truy cập được đến các hệ thống và phương cách riêng của mình. Họ không yên lặng chấp nhận một phiên bản của các sự cố xỉa xuống mình. Washington sẽ phải chứng tỏ mình đúng và có tính thuyết phục. Nhiệm vụ này đã trở nên khó khăn hơn nhưng đồng thời cũng trở nên quan trọng sinh tử hơn. Về đường dài, trong một thế giới không ngừng dân chủ hóa và tăng cường sức mạnh, cuộc chiến tranh của các ý tưởng là gần như quan trọng hơn cả.

Chính quyền Bush hầu như chưa bao giờ hiểu được giá trị thực tiễn của tính chính đáng trong sự chuẩn bị cho cuộc chiến tranh Iraq. Các quan chức Mỹ sẽ không thừa nhận quan điểm cho rằng mình bị cô lập bằng cách đổ tội cho các đồng minh của mình ở vùng “Châu Âu mới”, Á châu và Phi châu - nhiều người đã bị mua chuộc hoặc bị dụ dỗ vào các lien minh hợp tác. Và trong khi các chính phủ ở Trung Âu ủng hộ Washington, dân chúng của họ vẫn chống lại trong một số lượng gần bằng với ở Châu Âu cũ. Mất đi sự khác biệt này, Washington đã hiểu lầm Turkey, một người đồng minh lâu dài và đáng tin cậy vốn đã trở nên dân chủ hơn nhiều từ những năm 1990. Chính phủ muốn ủng hộ Hoa Kỳ, nhưng hơn 90 phần trăm người Thổ Nhĩ Kỳ chống lại. Kết quả, sau một cuộc bỏ phiếu kín của quốc hội, Turkey không thể ủng hộ Mỹ được nữa – có nghĩa là cuộc chiến hai trận tuyến chống lại Saddam trở thành cuộc chiến đơn tuyến với những thất lợi hết sức nghiêm trọng. Vào lúc khởi đầu cuộc chiến tranh, Hoa Kỳ có được đa số dân chúng ủng hộ chỉ duy nhất trong một nước trên thế giới: Do Thái. Và dù có thể nghi ngờ lòng trung thành của Tony Blair, không ai có thể mong đợi một chính khách dân chủ nhất lờ đi nguyện ước của tuyệt đại đa số dân chúng mình.

Chủ nghĩa yêu nước trong một thế giới đơn cực có thể thường trở nên một thứ chủ nghĩa chống Mỹ. Làm cách nào để chứng tỏ mình là một người Brazil, Trung Quốc hay Nga ái quốc đáng tin ? Bằng cách đứng lên chống lại Ông Bự. Trong những năm 1970, nhiều chính sách nội địa của Indira Gandhi không được nhiều người biết đến. Tuy nhiên, chống lại Mỹ luôn luôn đạt được những lời tung hô trong các cuộc vận động tranh cử. Tại sao ? Ấn Độ khi ấy và hiện nay bị quyến rũ bởi nước Mỹ và giấc mơ Hoa Kỳ. Nhưng chính là một dấu hiệu của sức mạnh và lòng can trường mà Bà Gahndhi đã tự gán mình vào việc chống lại quyền bá chủ ấy. Người Mỹ từng phàn nàn rằng đấy là một sự phi lý, và rằng nước mình đã bị trở thành một cái bị cho thiên hạ đấm vào một cách bất công. Họ đúng. Nhưng hãy cố vượt qua đi. Là một siêu quyền lực, có rất rất nhiều thuận lợi, nhưng cũng có những phí tổn nữa. Những phí tổn đó dễ được giảm nhẹ xuống bằng một nền ngoại giao chu đáo.

"Làm cho sợ hãi thì tốt hơn là làm cho được yêu mến", Machiavelli từng viết. Đó là một khẩu hiệu mà Dick Cheney khắc ghi trong lòng. Trong một bài diễn văn vào năm 2007, ông đã trích dẫn Bernard Lewis đến một hậu quả rằng, trong thời chiến tranh lạnh, các nhà độc tài vùng Trung Đông đã hiểu rằng họ nên sợ Sô Viết chứ không phải Mỹ. Machiavelli và Cheney đều sai. Đúng, Sô Viết bị các đồng minh sợ hãi, trong khi Mỹ được đồng minh thương mến, hoặc tối thiểu là cũng ưa thích. Hãy nhìn xem ai là kẻ vẫn còn tồn tại. Thật là kỳ khôi và rối rắm nếu phó tổng thống Dick Cheney nên viện dẫn một cách ghen tức những chiến lược có thất bại và tính ăn cướp của một chế độ độc tài chuyên chế. Nước Mỹ đã chuyển hóa thế giới bằng sức mạnh nhưng cũng bằng lý tưởng của mình. Khi những người ủng hộ dân chủ tụ tập tại quảng trường Thiên An Môn, họ đã xây dựng nên một hình ảnh tạm thời về một bức Tượng Nữ Thần Tự Do, chứ không phải phản lực cơ F 16. Hình ảnh của Mỹ có thể không hiền từ vô hại như người Mỹ từng nghĩ, nhưng đúng là như vậy, bởi vì cuối cùng, hình ảnh của Mỹ vẫn còn tốt hơn những gì đang có thể thay thế. Đó là nguyên nhân vì sao Mỹ đã tạo nên một sức mạnh vô song được thế giới chấp nhận dài lâu như thế.


Sợ hãi và căm ghét

Tuy nhiên, trước khi có thể thực hiện được bất cứ chiến lược cụ thể nào, Hoa Kỳ cần phải tiến hành các điều chỉnh sửa chữa rộng rãi. Nước Mỹ cần phải chấm dứt thái độ hèn nhát vì sợ hãi. Đó là sự sợ hãi đã tạo nên một không khí hoảng loạn và hoang tưởng ở Hoa Kỳ và đã khiến cho các chiến lược của chúng ta đi trật bước. Từng tự mình bị ma ám vào sự tin tưởng rằng chúng ta không hề có được lựa chọn nào ngoài việc phải hành động đơn độc, đơn phương và không báo trước, chúng ta đã từng hủy diệt nhiều thập niên của thiện chí quốc tế, xa lánh đồng minh, khuyến khích kẻ thù trong lúc giải quyết một số khó khăn quốc tế mà chúng ta từng đương đầu. Để tái tạo lại vị trí của mình trên thế giới, trước tiên nước Mỹ cần tái lập lại lòng tự tin của mình.

Căn cứ vào hầu như tất cả các đánh giá khách quan, hiện nay Hoa Kỳ đang ở trong một vị trí có phước. Hoa Kỳ đối diện với các khó khăn, khủng hoảng và sự đề kháng, nhưng so sánh với bất cứ đe dọa khủng khiếp trong quá khứ - Đức Quốc Xã, gây hấn của Stalin, chiến tranh hạt nhân - các trường hợp là đều thuận lợi và thế giới đang di chuyển theo hướng của chúng ta. Vào năm 1933, Franklin Delano Roosevelt đã chẩn đoán mối nguy hiểm thực sự của nước Mỹ. "Điều duy nhất chúng ta cần phải lo sợ là chính bản thân sự sợ hãi", ông đã tuyên bố. "Những loại kinh hoàng, không tên, vô lối, không căn cứ". Và ông đã lập luận chống lại nỗi sợ hãi khi hệ thống kinh tế và chính trị Mỹ gần đổ xụp, khi một phần tư lực lượng làm việc bị thất nghiệp và khi chủ nghĩa phát xít đang tiến bước quân hành quanh thế giới. Bằng cách nào đó, chúng ta đã tự mình hoảng sợ trong một giai đoạn cả thế giới hòa bình và thịnh vượng. Giữ điều này trong tâm tưởng của mình là quan yếu để bảo đảm rằng chúng ta không hiểu lầm, tính toán nhầm và đánh giá sai.

Mỹ đã trở nên một đất nước héo hon vì lo lắng, xao xuyến về khủng bố và các nước ngỗ nghịch, người Hồi Giáo và người Mễ, các công ty nước ngoài và nền giao thương tự do, các di dân và các tổ chức quốc tế. Một quốc gia mạnh nhất thề giới giờ tự xem mình như đang bị cắt cổ bởi những sức mạnh vượt khỏi tầm kiểm soát của mình. Dù chính quyền Bush đã đóng góp một sức mạnh vĩ đại cho các công việc quốc gia, vẫn còn những hiện tượng vượt khỏi một nhiệm kỳ tổng thống. Nhiều người Mỹ đã bị thất kinh bởi các khoa trương của nỗi sợ hãi.

Cuộc tranh cử tổng thống năm 2008 đã có thể mang lại một cơ hội bàn luận mức quốc gia về một thế giới mà chúng ta đang sống. Về phía những người Cộng Hòa, đa phần đã là một cuộc diễn tập của chứng hiếu chiến vỗ ngực tự hào. Những đối thủ có lẽ đã rời khỏi hiện trường nhưng ngôn từ của họ đã phản ánh và định dạng ý thức của cả một dân tộc. "Chúng nó thù ghét quý vị !" Rudy Giuliani liên tục gào lên trong cuộc vận động tranh cử, không ngừng nhắc nhở các thính giả về những con người ghê tởm ở ngoài kia. "Chúng không muốn các bạn ở trong trường học này !", ông đã cảnh báo thính giả tại Trường Đại học Oglethorpe ở Atlanta "Anh này, anh này hoặc cả anh này nữa !" ông nói thêm, và được biết là còn chỉ cả ngón tay mình vào mặt các sinh viên nữa. Giuliani hối thúc rằng nước Mỹ không những chỉ duy trì tư thế tấn công của mình mà còn phải đi đến vị trí tấn công trên các mặt trận mới nữa.

Trong tác phẩm Courage Matters của mình, Thượng nghị sĩ John McCain, với một tiếp cận cảm tính hơn, đã viết "Hãy nhảy vào cái thang máy chết tiệt kia đi ! Lao lên chiếc máy bay khốn nạn đi ! Tính thử xem những phần rủi của việc bị đau đớn bởi bọn khủng bố. Thật vẫn không khác gì việc bị quét khỏi biển cả bởi một cơn sóng dữ". Trước tác vào cuối năm 2003, ông đã thêm vào những điều tựa như một quy luật căn bản: "Hãy để ý đến mức độ báo động khủng bố. Khi nào mức báo động xuống đến mức màu vàng mới nên đi ra ngoài". Bất hạnh thay, kể từ 9/11 mức báo động đã chưa bao giờ từng xuống dưới mức màu vàng (ám chỉ một mức độ rủi ro "cân bằng" cho một cuộc tấn công của khủng bố). Ở các phi cảng, hầu như lúc nào cũng ở mức báo động màu cam - nguy hiểm cao độ, "mức báo động cao thứ nhì từ hàng cao nhất". Đã thế, Bộ An ninh Lãnh thổ còn thú nhận rằng "lúc này vẫn tiếp tục chưa có được các thông tin đáng tin cậy về một mối đe dọa sắp xảy ra đến lãnh thổ". Kể từ 9/11, chỉ có ba trường hợp khủng bố nhỏ bị phát hiện trong toàn cõi, và không hề tìm được bằng chứng về các tổ hoạt động bí mật của Al Qaeda ở Mỹ.

Và như nhiều chính trị gia mô tả - kẻ thù của nước Mỹ vẫn còn rộng khắp trên toàn cầu và không thương xót. Giuliani cứ tuỳ tiện gom Iran và Ai Qaeda lại làm một. Mitt Rommey còn đi xa hơn, gom tất cả những kẻ xấu lại với nhau. Gần đây ông đã tuyên bố "Việc này là vì tụi Shia và Sunni. Chuyện này là vì Hizbullah, Hamas, Al Qaeda và những đồng đạo Muslim". Thực ra, Iran là một loại quyền lực Shiite và thực ra đã từng giúp Hoa Kỳ lật đổ chế độ Taliban ủng hộ Al Queda ở Afghanistan. Những người Sunnis cực đoan có bè cánh với Al Qaeda đã tàn sát người Shiite ở Iraq, và lực lượng vũ trang Shiite do Iran ủng hộ đã đáp trả bằng cách hành quyết người Sunnis Iraq. Hiện chúng ta đang lập lại một trong những sai lầm quan trọng của thời kỳ đầu chiến tranh lạnh - dồn tất cả các thành phần có tiềm năng là đối phương về một mối thay vì chia rẽ họ ra. Mao và Stalin đều ghê tởm cả. Nhưng họ là những kẻ gớm ghiếc ghét bỏ lẫn nhau, một thực tế vốn đã có thể bị khai thác để trở thành mối lợi cho cả thế giới tự do. Bỏ lỡ điều này thật chẳng phải là một sức mạnh. Đấy là sự ngu xuẩn.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét