Thứ Ba, 1 tháng 2, 2011

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn

Mục Đích Của Hoa Kỳ

Kỳ 2

Hiệu quả của sự cạnh tranh

Hoa Kỳ đã khởi đi như thế nào ? Hoa Kỳ đã từng có một vai trò phi thường để tham dự trong chính trường toàn cầu - một vai trò tốt nhất hơn bất kỳ quốc gia nào trong lịch sử. Tuy nhiên, từ bất cứ lãnh vực nào - khả năng giải quyết khó khăn, thành công đạt được, xây dựng cơ chế, tăng cường uy tín – Washington đã sử dụng vai trò này kém. Hoa Kỳ đã từng có một giai đoạn của ảnh hưởng không cân bằng. Đất nước này đã cho thấy gì từ điều đó?


Vượt khỏi các chính sách và tính cách riêng, những gì đã từng được hình thành, thật trớ trêu, các hoàn cảnh tạo nên các sai lầm đó lại chính là vì quyền lực quá lớn của Hoa Kỳ. Người Mỹ rất tin tưởng vào hiệu quả của sự cạnh tranh. Chúng ta tin rằng các cá nhân, tập thể và các công ty thương mại đã thực hiện được tốt hơn khi họ ở trong một môi trường cạnh tranh. Nhưng đến vũ đài quốc tế, chúng ta lại quên mất sự thực này. Suốt kể từ cuộc sụp đổ của Liên Xô, Hoa Kỳ đã cư xử với thế giới như một người khổng lồ vô địch, không thể kềm hãm. Điều này có những mối lợi của nó, nhưng đồng thời cũng đã tạo cho Washington trở nên bất cẩn, kiêu ngạo và lười biếng. Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ có thời giống như chiến lược kinh doanh của General Motors trong những năm 1970 - một lối tiếp cận bị lèo lái bởi các yếu tố quốc tế, với ít hiểu biết về môi trường rộng rãi hơn mà họ đang vận hành. Điều ấy không có hiệu quả tốt lắm cho GM và cũng như cả nước Mỹ.

Chúng ta đã không bắt đầu môt cách bất cẩn. Hầu hết các chính trị gia và chuyên viên, cả ở Mỹ và quốc ngoại, đều chậm nắm bắt được tính đơn cực. Vào những năm 1990, khi Liên Xô xụp đổ, Margaret Thatcher đã bày tỏ một quan điểm chung là thế giới đang di chuyển vào ba nhóm khu vực, “một nhóm có điểm tựa trên đồng đô la, một nhón trên đồng yen và một nhóm trên đồng Đức Mã”. George H. W. Bush miệt mài với trật tự lưỡng cực, không bao giờ phản ứng như một nhà lãnh đạo của một siêu quyền lực đơn cực. Ông đã tiếp cận một cách cẩn trọng với các thay đổi lịch sử trong hệ thống toàn cầu. Thay vì khẳng định vang dội chiến thắng cuộc chiến tranh lạnh, chính quyền của ông lại cẩn thận củng cố những gì đạt được từ sự xụp đổ của Liên Xô, chờ Liên Hiệp Quốc chấp thuận và theo sát sự uỷ nhiệm vốn mang lại tính chính đáng cho cuộc chiến tranh. Với Hoa Kỳ bị vây hãm bởi sự suy thoái và các thâm hụt dâng cao, Bush đã gởi James Baker, tổng trưởng ngoại giao của mình, đi quanh thế giới với cái mũ chìa ra trên tay để quyên góp tài trợ cho chiến tranh. Cuộc thống nhất nước Đức, thành quả của chính sách vĩ đại của ông, đã không đạt được qua sức mạnh đơn phương mà qua sự hợp tác về ngoại giao - mặc dù Hoa Kỳ đang nắm tất cả con bài chủ trên tay vào lúc ấy. Đức đã thống nhất trong khối đồng minh Tây Phương, và 340000 người Nga lặng lẽ rời khỏi Đông Đức - tất cả trong sự ưng thuận của Moscow.

Một số người không nhận ra rằng, với Liên Xô đang tan vỡ từng mảnh, Hoa Kỳ là “cực” duy nhất còn lại. Nhưng họ cứ cho rằng đơn cực đã là một thời kỳ qua rồi, trong câu viết của một nhà bỉnh bút, đó là một “thời huy hoàng” đã qua. Các lời bàn tán về sự suy yếu của Mỹ xâm chiếm cuộc bầu cử tổng thống năm 1992. “Chiến tranh lạnh qua rồi, Đức và Nhật chiến thắng”. Paul Tsongas đã nói như thế trong suốt thời gian vận động tranh cử mà ông được đảng Dân chủ đề cử. Henry Kissinger, trong cuốn Diplomacy của mình vào năm 1994, ông đã tiên đoán sự xuất hiện một thế giới đa cực mới, một quan điểm được nhiều học giả tin tưởng. Những người Âu châu tìn rằng họ ở trên con đường đến sự thống nhất và quyền lực thế giới, và những người châu Á đã phát biểu một cách tự tin về sự nổi dậy của “Thế kỷ Á Châu”.

Bất chấp các khẳng định này, các khó khăn đối ngoại, bất kể ở khoảng cách xa nào, luôn luôn kết thúc trong lòng Washington. Khi cuộc khủng hoảng trong vùng Balkans bắt đầu vào năm 1991, Jacques Poos của Luxembourg, chủ tịch hiệp hội Âu châu, đã tuyên bố “Đây là thời khắc của Âu châu. Nếu một khó khăn có thể được giải quyết bởi người người châu Âu thì đó là vấn đề của người Tiệp. Đây là một nước Âu châu và không thể để tuỳ thuộc vào người Mỹ được”. Thật không có gì bất thưòng cho một thứ quan điểm chống Mỹ; hầu hết các nhà lành đạo Âu châu, kể cả Thatcher và Helmut Kohl đều có như thế. Nhưng vài năm máu me sau đó, sự việc lại được bỏ mặc cho Mỹ để mà chặn đứng cuộc chiến tranh. Khi Kososvo nổ ra chiến tranh trong thập niên đó, Âu châu lập tức để Washington nắm lấy vai trò lãnh đạo. Mô hình tương tự xảy ra trong cuộc khủng hoảng kinh tế vùng Đông Á, cuộc đấu tranh cho độc lập của Đông Timor, dẫ đến các xung đột ở Trung đông và các món nợ không đòi được ở châu Mỹ La Tinh. Các nước khác là một phần của giải pháp, nhưng, trừ khi có Hoa Kỳ nhúng tay vào, các cuộc khủng hoảng vẫn cứ tiếp diễn. Và cùng vào lúc ấy, kinh tế Hoa Kỳ đang ở trong thời kỳ phát triển dài nhất kể từ sau Thế chiến thứ Hai, thực sự đã gia tăng phần chia của mình với đầu ra của thế giới khi Nhật và Âu châu bị đình trệ.

Khi Bill Clinton đắc cử vào năm 1993, ông đã hứa hẹn sẽ ngưng không lo lắng gì về chính sách đối ngoại và tập chú vào kinh tế “như một tia laser”. Nhưng sức kéo của đơn cực đã mạnh. Vào nhiệm kỳ thứ nhì, ông đã phải trở nên một vị tổng thống về chính sách ngoại giao, xử dụng gần hết thời gian, năng lực của mình để tập trung vào các vấn đề như hòa bình ở Trung Đông và khủng hoảng Balkans. George W . Bush phản ứng với điều ông xem là một khuôn mẫu của sự liên hệ quá đáng đến các công việc quốc tế - từ các vụ mua chuộc kinh tế đến xây dựng quốc gia – đã hứa hẹn vào lúc tranh cử là sẽ đi trở lại với các hứa hẹn của Mỹ. Thế rồi đến nhiệm kỳ tổng thống của ông và đến sự cố quan trọng hơn: 9/11.

Trải qua những năm tháng của Clinton, sức mạnh Hoa Kỳ đã trở nên rõ rệt hơn, Washington trở nên một chính phủ quyết đoán hơn và các chính phủ ngoại quốc trở nên đối kháng hơn. Một số cố vấn kinh tế của Clinton, như Mickey Cantor và Lawrence Summer, đã bị kết tội kiêu căng trong các cách giải quyết của họ với các nước khác. Các nhà ngoại giao như Madeleine Albright và Richard Holbrooke đã bị xem thường ở Âu Châu vì đã nói về Mỹ như thể “một đất nước không thể thiếu được” - từ của bà Albright. Bộ trưởng ngoại giao Pháp Hubert Verdine sáng chế ra ý nghĩa “Sức mạnh Thái quá” (hyperpower) – mà ông không có ý như một ý nghĩa về sự được quý trọng – trong những năm 1990.

Nhưng tất cả những điều phàn nàn này chỉ là những lời đối đáp lịch sự khi đem so sánh với tính thù địch gây nên bởi George W. Bush. Trong một vài năm, chính phủ Bush đã đặc biệt khoác loác về sự xem thưòng các thoả ước, các tổ chức đa phương, ý kiến công chúng quốc tế và bất cứ điều gì mang lại một tiếp cận hòa giải với chính trị quốc tế. Vào nhiệm kỳ thứ hai của Bush, khi sự thất bại của lối tiếp cận này đã rõ rệt, chính quyền đã bắt đầu thay đổi tiến trình trên một số mặt trận, từ vấn đề Iraq, tiến trình đề hòa bình Isreali-Palestinian đến Bắc Triều Tiên. Nhưng các chính sách mới đã thực hiện chậm, vì các lời lầm bầm, càu nhàu đáng kể và các yếu tố của một chính quyền rõ ràng không chịu hòa giải với chiến lược mới.

Để am hiểu được chính sách đối ngoại của chính quyền Bush, tập trung vào những xung lực loại “Jackonian” của Donald Rumsfield và Dick Cheney, căn bản Texas của Bush hay âm mưu tân bảo thủ bất chính là không đủ. Yếu tố quan trọng đã đưa đến các chính sách của Bush là yếu tố 9/11. Một thập niên trước cuộc tấn công, Hoa Kỳ đã không có cản trở gì trên sân khấu thế giới. Nhưng một số ràng buộc - tiền bạc, Quốc hội, ý kiến công chúng - đã khiến Washington khó theo đuổi một chính sách đơn phương và hiếu chiến. Cả các can thiệp quân sự và viện trợ nước ngoài đều là không bình thường khi thế giới muốn Hoa Kỳ rút lui ra khỏi thế giới sau những cơn rùng mình của chiến tranh lạnh. Các can thiệp vào Balkan, bành trướng của NATO, viện trợ cho Nga tất cả đều phải cần đến những nỗ lực đáng kể từ chính quyền Clinton, đôi khi rất gay go, bất chấp thực tế rằng những điều này là những chi tiêu tương đối nhỏ và chỉ cần đến một chút dự trữ. Nhưng sự cố 9/11 đã thay đổi tất cả. Sự cố này đã phá vỡ tất cả các câu thúc nội địa về chính sách đối ngoại của Mỹ. Sau cuộc tấn công khủng khiếp ấy, Bush đã có được một đất nước đoàn kết và một phần lớn thế giới chan chứa cảm thông. Cuộc chiến Afghan làm nổi bật tinh hoa quyền hạn tuyệt đối của Hoa Kỳ, khuyến khích đến các những thành phần cứng rắn nhất trong chính quyền, những người đã xử dụng thắng lợi ấy như một luận cứ để gây chiến với Iraq nhanh chóng và thực hiện điều ấy trong một tính cách đơn phương. Hoa Kỳ không cần đến cả phần còn lại của thế giới hay cơ cấu cổ lỗ của tính hợp pháp và sự hợp tác. Luận điểm đã là : một đế chế toàn cầu mới tạo nên một thực tại mới - Công thức để lý giải chính sách ngoại giao của Bush đơn giản là :

Đơn cực + 9/11 + Afghanistan = Chủ nghĩa đơn phương + Iraq.

Không phải chỉ thực chất của chính sách Hoa Kỳ đã thay đổi trong thời kỳ đơn cực. Mà cả phong cách, vốn đã từng trở nên oai phong và hống hách. Có rất nhiều đối thoại với các lãnh đạo nước ngoài, nhưng đó là các loại đối thoại một chiều. Các chính phủ khác thường chỉ được thông báo về chính sách của Hoa Kỳ. Các quan chức quan trọng của Hoa Kỳ sống riêng trong cõi của mình, hiếm khi có các giao tiếp chân thành với các đối tác ở nước ngoài chứ chưa nói gì đến những người ngoại quốc khác. "Khi chúng tôi hội họp với các quan chức Mỹ, họ nói và chúng tôi lắng nghe - hiếm khi chúng tôi có bất đồng hay nói chuyện thẳng thắn bởi vì đơn giản họ không thể lắng nghe. Họ cứ đơn giản lập lại vai trò của Mỹ, như một du khách nghĩ rằng anh ta chỉ muốn nói to hơn, chậm hơn và rồi tất cả chúng ta đều hiểu cả" một cố vấn quan trọng về chính sách đối ngoại trong một chính phủ quan trọng ở Âu châu từng nói với tôi như thế.

"Ngay cả đối với một viên chức ngoại quốc cao cấp khi giải quyết công việc với chính phủ Mỹ", Christopher Patten, người mạnh mẽ ủng hộ Hoa Kỳ, từng viết nhắc lại kinh nghiệm của ông với tính cách là một ủy viên Âu châu về công tác đối ngoại, "bạn ý thức được vai trò của mình như thể một người đi triều cống: dù bạn lịch sự tôn kính đến đâu, bạn vẫn đến như thể một người cấp dưới mang theo thiện ý và hy vọng để được bắt đầu bằng sự ban phước cho nỗ lực của mình...Sẽ hữu ích cho một số phụ tá của ông khi họ hãy thử đi vào văn phòng của mình mà tự họp với chính mình đôi ba lần, nếu quan tâm đến tính cách lãnh đạo khiêm tốn mà tổng thống Bush từng tự tin một cách đúng đắn !". Patten viết tiếp, "Tham dự bất cứ phiên họp ở nước ngoài nào, các quan chức nội các Mỹ đến với một kiểu tuỳ tùng ắt phải khiến Drious tự hào. Các khách sạn đều bị trưng dụng, các thành phố đều đi đến tình trạng ngừng hoạt động; những người bàng quan vô tội đều bị dồn vào các góc kẹt bởi những người to khoẻ với các thứ đồ nhựa đeo tòng teng trên tai. Thật không phải là một cảnh tượng có thể đạt được nhân tâm".

Các chuyến đi nước ngoài của tổng thống Bush như được sắp xếp càng ít tiếp xúc với những đất nước ông viếng thăm càng tốt. Ông thường được hộ tống bởi trên dưới hai ngàn người Mỹ cùng vài phi cơ, trực thăng và xe cộ. Ông không nhìn thấy gì ngoài những nơi chốn và các phòng họp. Các chuyến đi của ông không có quan hệ gì đến việc chứng tỏ lòng tôn trọng hay cảm kích quốc gia và nền văn hóa mà ông đến thăm. Cũng ít quan hệ gì đến việc thăm gặp hội họp với dân chúng bên ngoài chính phủ - các thương nhân, lãnh tụ dân quyền, các nhà hoạt động. Ngay cả việc một chuyến thăm viếng của tổng thống cần phải được soạn thảo kỹ càng trên danh nghĩa, một nỗ lực rộng rãi nhằm tiếp xúc va chạm với dân chúng ở các miền đất lạ cũng sẽ là một giá trị có tính biểu tượng cao. Hãy xem một chương đoạn có liên quan đến Bill Clinton và Ấn độ. Vào tháng Năm 1998, Ấn độ cho nổ năm thiết bị hạnh nhân ngầm dưới đất. Chính quyền Clinton thẳng thắn phản đối New Delhi, phê chuẩn việc trừng phạt và đình chỉ vô thời hạn một cuộc viếng thăm cấp tổng thống. Các cuộc trừng phạt đã cho thấy kết quả đau đớn, ước đoán gây tổn hại đến khoảng 1 phần trăm GDP của Ấn độ trong năm sau đó. Cuối cùng Clinton đã cởi mở và đến thăm Ấn độ vào tháng Ba năm 2000. Ông trải qua năm ngày trong nước này, viếng thăm các nơi nổi tiếng, khoác lên người bộ y phục cổ truyền của Ấn độ và tham dự vào các buổi múa hát cùng lễ lạc. Ông đã chuyển giao đến một thông điệp là ông vui thích và thán phục Ấn độ như một đất nước văn minh. Kết quả đã là một sự chuyển biến. Clinton đã trở thành một minh tinh nhạc rock ở Ấn độ. Và George W. Bush, dù là một tổng thống ủng hộ Ấn độ nhất trong lịch sử Mỹ, đã không gây được sự cảm mến, kiêng nể, lưu ý nào. Chính sách là hệ trọng nhưng các biểu tượng chung quanh cũng quan trọng không kém.

Kiểu cách hống hách quan quyền chẳng những đem lại các phẫn uất còn khiến các quan chức Mỹ không hưởng được lợi lộc gì từ các kinh nghiệm và tài trí của người ngoại quốc. Các kiểm soát viên Liên Hiệp Quốc ở Iraq đã từng khó xử bởi cách thức quan chức Mỹ không thích bàn bạc gì với họ trước cuộc chiến. Người Mỹ, ngồi lọt thỏm thoải mái ở Washington, lên lớp các kiểm soát viên - những người đã bỏ ra nhiều tuần lễ cày bới khắp Iraq - về các bằng chứng của vũ khí giết người hàng loạt. "Tôi ngỡ họ sẽ lưu ý đến các báo cáo mắt thấy tai nghe của chúng tôi về các loại cơ xưởng được cho là nước đôi ấy ra sao", một kiểm soát viên nói với tôi, "Nhưng không, họ giải thích cho tôi biết những cơ xưởng đó đã được dùng vào việc gì".

Đối với người ngoại quốc, các quan chức Mỹ dường như không biết gì về thế giới mà lẽ ra họ phải cai quản. "Có hai loại đối thoại, một loại với người Mỹ trong phòng họp và một loại không có", Kishore Mahbubani, cựu bộ trưởng ngoại giao, đại sứ Liên Hiệp Quốc của Singpaore đã từng nói thế. Bởi vì người Mỹ sống trong một cái "tổ kén", họ không nhìn thấy "cả một đại dương thay đổi trong tính cách nhìn về người Mỹ trên khắp thế giới".

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét