Thứ Năm, 3 tháng 2, 2011

Hải cảng yêu dấu

Nguyễn Tường Thiết

Cái tên hay nhỉ? Hải Cảng Yêu Dấu. Tôi vừa tự hỏi vừa giơ cao máy hình chụp hàng chữ néon trên nóc một toà nhà cao, hàng chữ sáng xanh in trên nền đêm đen: SYDNEY CONVENTION CENTRE DARLING HARBOUR. Gió lạnh thổi từ ngoài vịnh vào. Trên Cảng Dấu Yêu những bóng đen từng cặp dìu bước trong đêm tối.


Chúng tôi vừa rời vùng ánh sáng tấp nập của khu chợ Tàu thành phố Sydney để bước vào vùng cảng này, bất chợt cảm thấy không khí đêm lắng dịu hẳn xuống. Phía bên phải của vịnh là rạp chớp bóng IMAX với hàng chữ quảng cáo “màn ảnh lớn nhất thế giới”. Tại rạp này tối qua vợ chồng tôi xem phim 3D HUBBLE, cuốn phim nổi ba chiều về chiếc viễn vọng kính vệ tinh đặt trên thượng từng không gian. Trong rạp khi đeo chiếc kính đen lên mắt tôi nhớ lại thuở nhỏ lần đầu tiên được xem phim nổi ba chiều. Thuở ấy vào năm 1954 tại rạp Olympic đường Hồng Thập Tự Sài Gòn mỗi khán giả được phát một cái kính làm bằng miếng bìa cứng có hai lỗ dán giấy bóng màu xanh đỏ. Lúc đưa kính lên ngang mắt thằng bé há hốc mồm trông thấy từ màn ảnh thòi ra ngoài một thỏi kẹo xúc-cù-là to tướng đưa thẳng vào miệng nó. Hôm qua ở rạp xi-nê đi ra chúng tôi mua “cơm tay cầm” tại tiệm Subway ngay cạnh rạp rồi hai đứa ngồi trên bực đá vừa gậm bánh mì vừa ngắm hải cảng về đêm. Trên vịnh những chiếc thuyền trắng đậu im lìm; hai bên vịnh hiện những cột đen của khung những tòa cao ốc mà ánh đèn cửa sổ in những ô sáng chi chít. Dưới ánh đèn đường gần bờ đá những con chim biển đi kiếm ăn đêm mon men lại gần đám du khách. Chúng tôi vừa ăn vừa bẻ bánh mì vứt vào bờ cát trong đêm tối. Ðám hải âu bay lên tao tác giành mồi, những chiếc cánh trắng phau loáng hiện dưới ánh đèn.

Phía trái của vịnh sau tòa hội trường của thành phố là một dẫy nhà hàng ăn nằm dọc theo vòng cung của vịnh. Sau hai đêm dùng cơm tối tại China Town chúng tôi đã ớn đồ tàu nên định bụng tối nay đổi món tìm một hiệu cơm tây. Tiệm ăn nằm san sát nhau. Dưới những chiếc dù vải bàn ăn phủ khăn trắng bầy ngoài trời, dưới ánh mờ ảo của những lồng đèn mắc trên lùm cây, người hầu bàn bận đồng phục đứng khoanh tay chào khách ở cửa, tiếng nhạc dịu thoảng từ trong quán vẳng ra. Nghiên cứu thực đơn đặt trước cửa quán chúng tôi sau cùng chọn một cái quán nhỏ xinh xắn và ấm cúng. Thực đơn của quán này có món thịt cừu nướng mà tôi định bụng sẽ gọi. Món này nhắc tôi kỷ niệm về một lần đi ăn tiệm cơm tây với cha tôi tại quán La Cigale đường Đinh Tiên Hoàng (Albert 1er cũ) thuộc khu Đa-Kao Sài Gòn. Đó là vào khoảng năm 1953, 54 gì đó tôi không nhớ rõ và tôi mới 13,14 tuổi. Cha tôi gọi món thịt cừu và nói với tôi: “Không quen ăn thì thấy thịt cừu có vị hôi, nhưng thịt cừu ngon chính là vì cái vị hôi đó”. Ăn cũng là một cách tìm về kỷ niệm. Tôi nghĩ thế và theo chân cô hầu bàn tiến đến một cái bàn nhỏ đặt dưới gốc cây, trên bàn một ngọn nến thắp trong một hộp kính vuông. Hai tờ thực đơn được mang tới. Tôi nói với nhà tôi:
– Em chọn món cho em đi. Anh thì anh biết gọi món gì rồi.

– Anh gọi gì?

– Grilled lamb.

– Sao lại chọn thịt cừu, gọi beef steak đi, anh vẫn thích steak mà!

– Anh ăn thịt cừu để nhớ lại hồi bé được cậu dẫn đi ăn cơm tây và anh ăn thịt cừu lần đầu tiên trong đời. Đã bao nhiêu năm trời anh không bao giờ anh quên được kỷ niệm ấy, nhất là mỗi lần bước vào một hiệu cơm tây.

– Thế là anh có một đề tài để viết rồi nhé. Viết đi! Viết về kỷ niệm với cậu và cái quán này, quán tên gì nhỉ?

Nhà tôi nhìn dáo dác rồi nói tiếp:
– Anh nhớ đấy! Quán này tên The Plate. Plate là cái đĩa đó. Mình viết đúng tên thì độc giả mới tin là chuyện anh kể có thật.

Cô hầu bàn đi tới với cuốn sổ và cây bút trên tay. Thái Vân gọi salad với dressing để riêng như thường lệ, còn tôi ngoài grilled lamb còn gọi thêm ly vang đỏ.

Tôi nhìn xung quanh. Thực khách hầu hết đi từng cặp. Trẻ có, già có. Họ đến từ khắp nơi trên thế giới. Vừa ăn họ vừa nói chuyện và nhìn nhau qua ánh nến mờ ảo. Thảo nào hải cảng này có tên Darling Harbour. Tôi thoáng nghĩ thế. Nhưng bàn sát cạnh chúng tôi lại là một ngoại lệ. Một cô gái Tàu ngồi ăn một mình, đối diện với một chiếc ghế trống. Trước mặt cô có hẳn một chai rượu vang. Vừa ăn cô ta vừa tự rót rượu uống liên hồi. Thoạt đầu tôi tưởng chồng cô ta rời chiếc ghế trống để đi vào trong toilette. Nhưng chờ mãi vẫn không thấy ai xuất hiện ngồi trên ghế ấy. Một mình cô ta độc ẩm hết chai rượu vang rồi đứng lên ra quầy trả tiền. Cô này tửu lượng khá uống hết chai rượu mà bước đi còn vững. Tôi nghĩ. Thái Vân nhìn theo bóng cô ta khuất trong màn đêm, bảo tôi:
– Anh nhớ cho cô gái này vào trong truyện, chắc hẳn cô ta đang có tâm sự gì buồn.
Món ăn được dọn lên. Tôi cầm dao nĩa lên nhìn miếng thịt cừu trên đĩa tính cắt. Trí tôi thoáng hiện lời dậy của cha tôi từ một thời xa xăm: “Con cầm nĩa tay trái, cầm dao tay phải. Dùng nĩa cắm vào góc miếng thịt, đặt dao sát vào nĩa rồi cắt xuống thẳng góc. Cắt xong đưa nĩa lên miệng bằng tay trái. Chớ có chuyển sang tay phải để ăn. Miếng thịt cắt trông phải gọn ghẽ, không lòi phần thịt đỏ bên trong. Muốn thế phải cắt mạnh và thẳng góc. Đừng bao giờ cầm xiên con dao. Nhiều người khi cắt thấy thịt dai cứ để xiên con dao cứa cứa, thịt cắt là một miếng đỏ bầy nhầy trông mất cả ngon lành. Ăn đến đâu hãy cắt đến đấy. Đừng cắt hết miếng thịt thành những miếng nhỏ rồi ăn một lượt. Ăn như vậy là không đúng cách”.

Hai cha con bước vào tiệm La Cigale ở khu Đa Kao trên đường Albert 1er, gần góc đường Richaud. Người bồi bàn hướng dẫn chúng tôi đến một cái bàn trong góc có phủ khăn ca-rô hai màu đỏ trắng. Trên bàn muỗng nĩa để bên trái, dao tây bên phải. Giữa là khăn ăn, cùng màu với khăn bàn, xếp gọn thành hình cái thuyền. Lần đầu tiên đi ăn cơm tây tôi không biết phải làm gì nên chỉ biết nhìn cha tôi làm gì thì bắt chước. Ông gọi hai đĩa thịt cừu và một cốc rượu vang đỏ rồi ông lấy khăn ăn rải ra đặt phủ trên đùi. Ly rượu mang lên ông đưa lên miệng uống nhấm nháp. Tôi thích nhìn cha tôi uống rượu. Với cặp mắt sâu, chiếc mũi cao, hàng ria mép trông cha tôi giống như một ông tây. Giữa hai lần nhấp rượu ông đặt hai khuỷu tay lên bàn chống cằm nhìn tôi mỉm cười, cặp mắt mơ màng và đằm thắm.

Trên đĩa thịt có đậu Hà-lan cha tôi giải thích về cách dùng nĩa để ăn đậu: “Người Anh họ rất nghi thức trong cách ăn uống, không bao giờ để ngửa cái nĩa, ăn đậu cứ phải cắm từng hạt đậu một, mất bao nhiêu là thì giờ. Người Pháp họ dễ hơn, có thể để ngửa nĩa xúc đậu như kiểu người ta dùng thìa. Ăn xong thì để ngửa thìa, nĩa, dao trên đĩa, đây là cách báo cho bồi biết là mình đã ăn xong, bồi có thể dọn, cho dù là trên đĩa còn thức ăn”.

Uống hết ly rượu vang tôi biết là mình chưa say, nhưng vừa đủ để thấy lòng mình mềm xuống. Những kỷ niệm cỏn con sao lại thổn thức đến với tôi đến thế? Trong đêm tối từ ngoài vịnh tiếng sóng biển vỗ vào bờ rồi nhẹ nhàng rút ra nghe êm như những tiếng thở dài. Cha tôi đã ra đi gần nửa thế kỷ. Kỷ niệm bữa ăn cơm tây khiến tôi liên tưởng tới những buổi tiệc quan trọng mà cha tôi, nhà văn Nhất Linh, đã từng đi dự với tư cách Bộ trưởng bộ Ngoại giao Nguyễn Tường Tam. Tôi hình dung trong khách sạn Langbian của Đà Lạt lộng lẫy ánh đèn vào năm 1946 cha tôi ở bàn tiệc với tư cách trưởng phái đoàn đã nâng ly chúc Hội Nghị Sơ Bộ Việt Pháp thành công trước cả trăm nhân vật lịch sử của hai nước. Tiệc ắt hẳn là cơm tây. Là trưởng phái đoàn cha tôi không thể nào không biết rành rẽ về nghi thức ăn uống. Gần 10 năm sau ông đã truyền lại một ít cho tôi, nhưng ngày đó còn nhỏ nào tôi có biết gì? Ngậm ngùi tôi nhớ tới những người ngồi nơi bàn tiệc lịch sử ấy nay đã trở thành người thiên cổ, chỉ duy nhất một người mà tôi biết còn tại thế, đó là phó trưởng phái đoàn Võ Nguyên Giáp, người ngồi cạnh cha tôi trong bàn tiệc.

Ăn tối xong chúng tôi ra về theo lối chợ Tàu. Sau bốn ngày ở Sydney chúng tôi đã rành đường lối về khách sạn. Chợ Tàu đánh dấu bằng hai cổng chào sơn đỏ, đặt ở hai đầu con hẻm Dixon, nằm giữa hai đường Hay và Goulburn. Trên cổng có khắc 4 Hán tự thật to, dưới là hàng chữ Anh mà tôi đoán là dịch từ 4 chữ Hán ở trên: “Understand Virtue and Trust”.
China Town về đêm rực rỡ ánh đèn. Trên vỉa hè người đi bộ đông như chẩy hội. Mấy chục năm ở Mỹ quen cảnh ban đêm vắng lặng không mấy ai ra đường, chúng tôi ngạc nhiên về sinh hoạt tấp nập về đêm ở Melbourne và Sydney. Không khí vui nhộn quá làm chúng tôi chưa muốn trở về khách sạn ngay, nhưng nghĩ tới chuyến bay ngày mai đi Auckland chúng tôi đành phải trở về khách sạn sớm để sửa soạn cho cuộc hành trình mới tại New Zealand.

Nguyễn Tường Thiết
Seattle, mùa thu năm 2010

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét