Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

Hà Nội, những mùa xuân phai II

Trong những lời nhạc ấy người ta còn “bắt” được những cách sử dụng động từ thật hay, thật lạ. Chữ “reo” chẳng hạn.

Thanh bình tiếng guốc reo vui
(Không phải là “… tiếng hát reo vui” như ít ca sĩ vẫn hát).

Mỗi lần nghe ca sĩ (những giọng hát tôi yêu) hát đến câu “Hà Nội ơi! Nước hồ là ánh gương soi / nắng hè tô thắm lên môi…” là mỗi lần tôi lại… hồi hộp, chỉ sợ câu hát tiếp theo bị đổi thành “thanh bình tiếng hát reo vui”, làm hỏng mất câu hát tôi yêu. “Tiếng guốc”, nói như tác giả bài nhạc, là “âm thanh rất ‘riêng’ của Hà Nội thuở ấy”. Thay “tiếng guốc” bằng “tiếng hát” thì… chẳng thấy đâu Hà Nội nữa (chưa nói là tiếng “hát” thì khó mà… “reo” được)! Đánh mất chữ “guốc” là đánh mất những âm thanh rộn rã rất “thanh bình” trên những hè phố cũ, là đánh mất bức tranh thật đẹp, thật sinh động và hình ảnh thướt tha, mềm mại của những tà “áo mầu tung gió chơi vơi” trong nắng trong gió Hà Nội.

Đâu phải chỉ có tiếng “reo” ấy thôi, ta còn nghe thấy những:
Mắt buồn dâng những đêm mưa…
(Không phải “… giăng những đêm mưa” như ít ca sĩ vẫn hát).

Hà Nội ơi, mỗi chiều sương gió dâng khơi…
Chữ “dâng” rất thơ, rất gợi hình ấy cũng gợi nhớ những câu hát trong những bài nhạc nào.
Gió dâng khúc đàn thanh bình… (“Tạ từ”, Tô Vũ)

Như hương hoa soan dâng bên thềm… (“Hoa soan bên thềm cũ”, Tuấn Khanh)

Và những:
Hà Nội ơi! Phố phường dãi ánh trăng mơ…
Liễu mềm nhủ gió gây thơ…
(Không phải “… nhủ gió ngây thơ” như ít ca sĩ vẫn hát).

Tóc thề thả gió lê thê…
Nắng hè tô thắm lên môi…
Dáng chiều ủ bóng tiên nga…
(Không phải “… phủ bóng tiên nga” như ít ca sĩ vẫn hát).

Bài hát nghe được hai tiếng “anh”, “Biết đâu ngày ấy anh về” và “Hãy tin ngày ấy anh về!” Tiếng “anh” ấy như vừa nói với thành phố ấy vừa nói với người em “dáng huyền tha thướt đê mê / tóc thề thả gió lê thê…” Nghe những lời ấy là nghe những lời tâm tình, là nghe nỗi ray rứt và tiếc thương của một người nặng tình với Hà Nội gửi về “thành phố xa xôi” ấy.

“Hãy tin ngày ấy anh về!” câu hát nghe như lời thề hẹn sắt son, thiết tha và tràn đầy niềm tin.

“Hướng về Hà Nội”, với những người tình một thuở của Hà Nội, là “hướng về” những năm tháng tươi đẹp nhất của một thời tuổi trẻ. Nghe bài hát mà tưởng như nghe được cả khí hậu, mùa màng của Hà Nội, nghe được cả những thoáng dư hương Hà Nội cũ còn rơi rớt lại. “Cứ nghe ai hát bài ấy, tôi lại thấy không gian xưa trở về, vượt qua mọi thời gian”, nhạc sĩ Hoàng Dương có lúc đã thốt lên như thế khi nói về bài nhạc của mình.

Bản nhạc “Hướng về Hà Nội” được nhà xuất bản Tinh Hoa ấn hành ở miền Nam năm 1955 với tranh bìa màu nâu của hoạ sĩ Duy Liêm, vẽ “người em gái” Hà Nội chít khăn “mỏ quạ”, tì tay vào má với vẻ mặt âu sầu. Xa xa là Hồ Gươm-Tháp Rùa. Trang trong, bên dưới tựa bài nhạc là dòng chữ “Riêng tặng Hoàng Trọng, bạn thân yêu, gửi đây niềm thương nhớ một mùa chia phôi...” Tác giả “Hướng về Hà Nội”–trong một bài báo ở trong nước–cho biết, bài hát được phổ biến lần đầu tiên trên làn sóng Đài phát thanh Hà Nội năm 1954 với giọng hát Kim Tước và ban nhạc Hoàng Trọng. Ông cũng nói thêm rằng ông được biết ca sĩ Kim Tước hiện vẫn còn giữ được cuốn băng thu âm bài hát phổ biến lần đầu tiên ấy, và ông “rất muốn có được một bản sao cuốn băng đó mà không biết bằng cách nào”.

Kể từ ngày đất nước chia đôi, người Hà Nội đã không còn được nghe “Hướng về Hà Nội”, tưởng như bài hát ấy chưa hề ra đời, tưởng như không hề có bài hát nào như thế về Hà Nội. Bài hát câm nín như Hà Nội câm nín. Hơn bốn mươi năm sau, “Hướng về Hà Nội” mới được phép phổ biến lại ở trong nước. Bài hát như từ quá khứ nào bước ra, như được tái sinh, như có hai đời sống.

Kể từ ngày bài hát được giọng hát mang tên loài chim quý ấy cất lên, đến nay đã có tới ba thế hệ
ca sĩ hát “Hướng về Hà Nội”, và thật khó mà biết được có bao nhiêu người đã hát, đã nghe và đã yêu bản tình ca ấy.

“Biết đâu ngày ấy anh về”

Trừ ít bài được sáng tác về sau này, hầu hết những bài hát cũ về Hà Nội thường được viết ra giữa thập niên 50’s, sau ngày đất nước chia đôi, khi mà vết cắt trong tim những người phải lìa xa Hà Nội vẫn chưa lành lặn, khi mà tình yêu dành cho Hà Nội vẫn còn nóng ấm.

Những bài hát về Hà Nội bây giờ có khá nhiều và cũng khá nhiều bài “rằng hay thì thật là hay”, tuy nhiên “nghe ra” có khác với những bài “hướng về Hà Nội” của những năm tháng cũ. Những bài hát hoài niệm về một dĩ vãng xa xôi, một quê hương xa khuất, một nơi chốn người ta đã sống đã yêu, đã hạnh phúc đã khổ đau, bao giờ cũng làm người ta bâng khuâng tiếc nhớ.

Hà Nội trong những bài hát cũ là một Hà Nội khác, một thành phố khác, không phải là Hà Nội bây giờ. Sau bao nhiêu là biến động của lịch sử, bao nhiêu là tang thương dâu bể, hầu như người ta khó mà tìm lại được dấu vết Hà Nội cũ. Hà Nội đã thay hình đổi dạng. Những người tình một thuở của Hà Nội muốn đi tìm lại Hà Nội cũ như tìm lại chính mình, như tìm lại tình yêu cũ, như tìm lại một phần đời của mình còn gửi lại nơi chốn ấy. Đi tìm nhưng không mong gì gặp được.

“Tôi kiếm hồn tôi xưa Hà Nội
thuở còn trong vắt gió vào thu” (1)

Còn đâu nữa Hà Nội của “ba mươi sáu phố phường”, của “ngàn năm văn vật”, của trai thanh gái lịch! Còn đâu nữa Hà Nội của những “áo mầu tung gió chơi vơi”, của những “thanh bình tiếng guốc reo vui”! Còn đâu nữa Hà Nội của những “khăn san bay lả lơi bên vai ai”, của những “dáng yêu kiều của ngày đã qua / thướt tha bên hồ liễu thưa”!…

Hà Nội chỉ còn là tấm nhan sắc của một thời vang bóng. Hà Nội chỉ còn lại trong những trang sách cũ, trong những câu chuyện kể, trong những tấm ảnh trắng đen mờ mờ và những thước phim cũ kỹ. Hà Nội chỉ còn lại trong những bài thơ, bài nhạc và trong những giọng hát người ta luôn muốn được nghe lại để tìm về những tháng năm kỷ niệm đã phôi pha.

Với những người tình năm xưa của Hà Nội, nghe lại những bài hát cũ ấy như tìm lại được những thoáng hạnh phúc, như lòng mình trẻ lại, như trái tim chưa bao giờ già cỗi, như… chưa bao giờ rời xa Hà Nội.

Hà Nội như thành phố mang vẻ đẹp mơ màng, huyền ảo trong “chuyện cổ tích”, trong những câu chuyện thần tiên. Hà Nội ấy, thành phố ấy đã mất hút, đã chìm khuất trong sương mơ.

Hà Nội như một người tình cũ. Người ta yêu Hà Nội như yêu mối tình cũ mà người ta tin rằng vẫn còn nguyên vẹn đó, vẫn suốt đời thủy chung. Người ta nhớ Hà Nội cả những lúc đang sống giữa Hà Nội. Người ta đi tìm Hà Nội trên những đường phố của Hà Nội. Như vậy thì Hà Nội chắc phải là thành phố nào khác chứ đâu phải thành phố cùng một cái tên gọi.

Tôi biết có những người yêu Hà Nội đến độ không muốn quay về Hà Nội vào cuối đời để không phải chạm mặt những hụt hẫng, xót xa và để nuôi giữ mãi trong lòng mình những kỷ niệm ấm áp, những giấc mơ êm đềm, ngọt ngào.

“Hà Nội anh giờ là giấc chiêm bao
cùng thơ ấu đã già đi trăm tuổi
Buổi sáng nay tâm hồn nghe thơ dại
một thoáng vui chợt tới, chợt bay đi” (1)

Ôi Hà Nội của những đời người đã cũ! Ôi Hà Nội chỉ còn là “hương xưa”!... Có phải là người ta đã cố tình xóa bỏ một Hà Nội, hay là Hà Nội như một cô gái quê không còn hợp thời trang nữa nên không tồn tại được. Không hẳn là những người yêu Hà Nội cứ muốn Hà Nội mãi mãi là “tháp cũ rêu xanh mờ”, là “tóc thề thả gió lê thê”, thế nhưng những đổi thay của Hà Nội trong những năm dài chinh chiến và sau ngày dứt chiến chinh chắc không phải là những gì người ta hằng trông đợi.

Chuyện trở về Hà Nội nay không còn là “giấc mơ hồi hương” nữa. Giấc mơ ấy có chăng là giấc mơ tương phùng với “người em Hà Nội”. Không rõ là đã có bao nhiêu cuộc “hội ngộ cố nhân” của những lứa đôi mỏi mòn ở “đôi bờ đất nước nhớ thương nhau” (5). Không rõ là đã có bao nhiêu là nước mắt và nụ cười, bao nhiêu là bẽ bàng và tiếc hận.

Một trong những người thực hiện sớm nhất giấc mơ “biết đâu ngày ấy anh về” là Phạm Huấn, một người lính miền Nam. Rời bỏ Hà Nội ngày đất nước chia đôi, mười chín năm sau, cùng với hai người lính miền Nam khác, ông đã có được cơ hội làm một chuyến về thăm “cố hương” vào một ngày tháng Hai năm 1973, trong một phái đoàn hỗn hợp và trong vai trò quan sát viên của đợt tiếp nhận đầu tiên những người tù nhân chiến tranh, và đã ghi lại những gì “quan sát” được trong tập hồi ký Một Ngày Tại Hà Nội (18/2/1973):
“Ngồi trên chuyến xe di chuyển từ Gia Lâm về Hà Nội, nhìn thấy Hồ Gươm, Tháp Rùa, tôi có trong lòng một nỗi xao xuyến muốn làm ứa lệ… Nỗi nhớ thương Hà Nội đã choán ngợp tâm trí đến độ trong khoảnh khắc tôi không còn nhận ra Hà Nội đã không còn là Hà Nội nữa. Nước hồ vẫn xanh. Tháp Rùa vẫn như tự bao giờ giữ màu vôi cũ kỹ. Nhưng tất cả vẻ đẹp của Hà Nội, màu sắc của Hà Nội đã mất hết… Hà Nội trong thơ văn, Hà Nội trong âm nhạc, Hà Nội trong trí nhớ, một lần nữa lại làm dấy động tâm khảm tôi. Cái Hà Nội thơ mộng tuyệt vời mới chỉ trong vòng hai mươi năm đã bị người ta làm cho biến đi không còn một dấu vết nào đó, liệu còn có một ngày nào có thể sống lại?

Hà Nội còn đó, nhưng Hà Nội đã làm chảy nước mắt tất cả những người nhìn thấy lại Hà Nội.”

Trong những trang sách ấy có một chi tiết, hay một hình ảnh, còn đọng lại trong tôi mãi đến tận bây giờ. Dương Phục, một bạn đồng hành của Phạm Huấn, kể lại rằng, những gì trông thấy được trong “một ngày tại Hà Nội” ấy khiến ông đã có những lúc phải bước vào phòng rửa mặt, lặng lẽ ôm mặt nấc lên, cố ngăn không để những giọt nước mắt ứa ra.

Tại sao phải bước vào phòng rửa mặt? Tại sao muốn khóc mà không khóc được? Tôi hiểu. Có những giọt lệ người ta phải giấu đi, không cho ai thấy. Có những giọt lệ chảy thầm mà đớn đau gấp nhiều lần những tiếng khóc bật ra được… Người sĩ quan ấy, người quân nhân dạn dày với đời sống quân ngũ ấy đã có những phút như thế, những phút không giấu được tiếng nấc nghẹn ngào khi chỉ mới vừa chạm mặt một phần rất nhỏ của Hà Nội, của thành phố mà suốt bao nhiêu năm trời ông chỉ mong được một lần trông thấy lại.

“Nếu về lại Hà Nội để mà nhìn thấy những cảnh như thế, tôi sẽ không bao giờ trở về nữa,” ông nói lời sau cùng.

Người ta đã làm gì Hà Nội để cho người lính ấy phải ôm mặt nấc lên như thế! Người ta đã làm gì Hà Nội để cho người lính ấy phải thốt lên những lời chua xót đến như thế! Người ta đã làm gì Hà Nội để cho những người được nhìn thấy lại Hà Nội sau bao nhiêu năm phải mang tâm trạng nặng nề đến như thế!
Hà Nội đổi thay như khuôn mặt người thân yêu sau bao năm cách xa đã thay đổi đến mức người ta phải quay mặt đi để không phải… bật khóc.

Dẫu thế nào đi nữa, điều may mắn là sau cùng chúng ta vẫn còn có được những bài hát cũ về Hà Nội, những bài hát còn sống mãi với thời gian, để người đời sau biết được rằng đã từng có một Hà Nội như thế, như thế…

Đêm xuân, nghe vẳng bên tai điệu nhạc cũ và những câu hát cũ về những ngày Tết Hà Nội xa xưa mà lòng bâng khuâng “Những người muôn năm cũ / hồn ở đâu bây giờ?” (6)

Cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng
Rừng đào phong kín cánh mong manh hé hoa lòng
Hà Nội mừng đón Tết
hoa chen người đi, liễu rủ mà chi
Đêm tân xuân, Hồ Gươm như say mê
Chuông reo ngân, Ngọc Sơn sao uy nghi
Ngàn phía đến lễ đền
chạnh lòng tôi nhớ tới người em…
(“Gửi người em gái”, Đoàn Chuẩn)

“Người em” ấy, “đêm tân xuân” ấy là Hà Nội của những ngày vui mơ hồ trong trí tưởng.

Cám ơn những bài hát cũ về Hà Nội đã giữ cho những giấc mơ về Hà Nội không bao giờ tắt hẳn. Hà Nội ấy còn đọng lại trong dư âm lời ca tiếng nhạc của những bản tình ca một thuở.

Hà Nội như một dĩ vãng đẹp và buồn. Hà Nội chỉ còn là những mùa xuân phai.

Lê Hữu

-------------------------------------
(1) Thơ Hoàng Anh Tuấn
(2) “Nghìn năm vẫn chưa quên”, Phạm Duy
(3) Thơ Nhất Tuấn
(4) “Gợi giấc mơ xưa”, Lê Hoàng Long
(5) Thơ Quang Dũng
(6) Thơ Vũ Đình Liên


1   2

(Ảnh: NguoiThangLong)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét