Thứ Sáu, 4 tháng 2, 2011

GHÉ THĂM CÁC BLOGS: 4/2/2011

BLOG NGƯỜI BUÔN GIÓ


Trong tù giam cứu và tù cải tạo đón Tết khác nhau rất nhiều.

Tù cải tạo là đã có án, phân xuống trại tù để bắt đầu công cuộc lao động nặng nhọc mà người ta gọi là cải tạo. Trong trại cải tạo việc gặp gia đình dễ dàng hơn, tù được tiếp xúc với không gian như ruộng, đồi , rừng núi sông suối,có khi còn được mua bán trực tiếp với dân bản xứ hoặc tự chọn mua đồ ở căng tin trại cải tạo. Cái Tết trại cải tạo có đông bạn tù, có thể được đánh bài hay uống rượu (rượu mua lậu của tù tự giác), có nơi còn mua được cả thuốc phiện để dùng nữa. Tù cải tạo còn đun nấu được, có nước sôi pha chè hay xào nấu món ăn.


Tù giam cứu là tù trong thời gian xét hỏi hay đã xét hỏi xong nhận cáo trạng chuẩn bị ra tòa. Tù giam cứu cũng chia làm mấy loại, thường loại án không quan trọng thì giam chung vài chục mống với nhau , gọi là buồng ''chung''.

Loại án đặc biệt thì giam ở xà lim, hai người một phòng, có phạm nhân một mình một phòng.

Xà lim của cấp nào cũng chỉ khác nhau về cái cùm. Có xà lim cùm ở bên trong chôn liền với tường, có xà lim thì không, công an muốn cùm họ mang suốt sắt, móng cùm, khóa đến cùm tại xà lim. Cùm gắn liền tường là loại cùm ác nhất, nó khiến phạm nhân chỉ biết nằm tại chỗ hoặc ngồi dậy là cùng.

Tết ở buồng ''chung'' có vài chục mống, 3 ngày Tết tù được trại cho ăn thịt lợn luộc, miến nấu với nước luộc thịt. Miếng thịt mỡ bằng nửa bao thuốc lá, còn miến do quá trình nấu đến lúc chuyển vào buồng tù đã trương phềnh hút hết nước chỉ còn sợi miến không. Hôm 30 Tết tù ngồi đợi giao thừa, đêm đó là đêm duy nhất trong năm tù được thức khuya như vậy, có gì bỏ ra dùng đón giao thừa, sướng nhất là có nước chè nóng và thuốc lá kỳ công xoay sở được từ trước đó.

Như trong xà lim mà anh Cù Huy Hà Vũ ở bây giờ, Tết có khúc cá trôi kho, bát canh bí lõng bõng, một hai miếng thịt gà công nghiệp bằng bao diêm. Nơi ấy tiêu chuẩn tươm hơn các trại tù khác, nhưng ngặt nỗi lại khắt khe về mặt nội quy. Như tù ở nơi khác có thể xoay sở kiếm chác tự nấu nướng, hay mua bán với tự giác được bao thuốc, gói chè, hớp rượu. Thế nên tưởng là sướng hóa ra lại là nơi khổ nhất, tù an ninh không có chuyện hối lộ cán bộ, móc ngoặc với tự giác như tù hình sự. Với tù quan trọng nhất là được ăn ''tươi'', mà muốn ăn ''tươi'' nóng sốt thì phải được đun nấu. Ngày Tết giá rét đồ ăn của trại mang đến buồng tù lạnh ngắt như đá, thịt đóng mỡ, ngụm canh lạnh buốt.

Buồn nhất là nhớ nhà, người trong tù nhất là những người đàn ông trụ cột trong gia đình nỗi nhớ nhà mới cay đắng làm sao, người tù nhớ lại năm nao đưa con mình đi chơi xuân, đứa nhỏ cõng trên vai, đứa lớn cầm tay đi chơi Tết. Tầm có con lớn như anh Hải Điếu Cày, anh Vũ còn đỡ chút, nhưng tầm như anh Ba Sài Gòn con nhỏ, nỗi xót xa mới da diết thấu đến tâm can.

Biết điều kiện sống trong tù mới thấy các anh là người can đảm, sự can đảm ở trong tù không phải là sự can đảm một lúc như kiểu người lính xông vào làn đạn, không phải là kiểu mà chú lính cứu hỏa lao vào biển lửa chữa cháy. Trong tù sự can đảm phải bền bỉ, vì những thứ tấn công người tù không nhất thời như trận chiến, đám cháy, mà nó âm ỉ tấn công người tù hàng ngày, hàng giờ trong bữa ăn nguội lạnh thiếu chất hay trong đêm đông giá buốt thấu xương. Những người như anh Vũ, anh Ba, anh Điếu Cày đều có cuộc sống khá, anh Hải Điếu Cày từng qua bộ đội nhưng thời gian ấy cũng qua lâu rồi. Thế nhưng những người từng quen sống trong cảnh tương đối như các anh, ít lúc nào chịu khổ sở. Mà giờ các anh nằm trong tù thèm từng hơi thuốc, ngụm nước chè hay một miếng canh nóng bốc khói.

Hôm trước xem bài của Đông La, một gã nhà văn bồi bút hạng nặng đến nỗi thậm chí các đồng nghiệp ở hội nhà văn Việt Nam còn phải ghê tởm xa lánh. Tên Đông La này bới những bài báo của những tờ Công an, An ninh, Sài Gòn giải phóng... để xào xáo thành bài viết nhằm vào những chuyện gia đình của anh Vũ. Thấy đời còn lắm kẻ đốn mạt quá.

Nhưng con người kia có cuộc sống khá giả, họ chấp nhập từ bỏ để chịu đựng cuộc sống kham khổ, thiếu thốn trong tù vì niềm tin, vì sự suy nghĩ mà họ thấy là đáng để hy sinh. Thế nhưng lại có kẻ chỉ vì muốn thêm một miếng thịt, thêm dăm ba đồng như Đông La nhăm nhe rỉa rói họ để kiếm chút mồi như loại kền kền trên sa mạc.

Thế cho nên dù họ ở trong tù, là phạm nhân đấy nhưng những người như anh Vũ, anh Ba, anh Điếu và nhiều người khác nữa vẫn được đời nhắc đến một cách kính trọng. Loại như Đông La Nguyễn Huy Hùng đường đường là nhà văn, nhà báo chỉ làm cho thiên hạ thấy khinh bỉ vì cái lương tâm táng tận đến cùng của loại bồi bút hèn mạt đó.

Chỉ còn ngày mai nữa qua đi, năm mới sẽ đến. Dẫu bọn bồi bút hôm nay núp được bóng kẻ mạnh để chà đạp một cách đê tiện lên hình ảnh những người anh hùng đã sa cơ đến đâu, cá nhân tôi vẫn xin nói một điều, hình ảnh các anh luôn đẹp đẽ trong tôi. Và có khi còn cả trong muôn triệu người dân Việt có hiểu biết nữa.

Xin chúc các anh năm mới, quãng đường mới được an lành, giữ cho mình sự tỉnh táo trước những cạm bẫy, chông gai giăng từng ngày, từng bước.

Hãy rủ bạn tù cùng hát những bài hát đón xuân. Những bài hát sẽ khích lệ tinh thần, át đi những ưu tư, nhớ nhung.

Năm mới chúc các anh sẽ gặp nhiều an lành, may mắn.


BLOG KAMI



(Mến tặng Trương Duy Nhất và các bạn nhà báo của tôi đang còn lưỡng lự …)

Cách đây chưa lâu, nhà báo-blogger Trương Duy Nhất đã thông cáo cùng cộng đồng blog rằng Trương Duy Nhất đã “Nghỉ báo viết blog“, Trương Duy Nhất đã trả thẻ nhà báo để từ nay trở thành một blogger hoàn chỉnh, để có thể viết ra những điều mà vốn lâu nay vẫn đau đáu trong tâm mà chưa có điều kiện viết ra hết vì còn nhiều nỗi lo. Tới hôm nay sau chỉ vài ngày, cũng nhà báo Trương Duy Nhất đã thẳng thắn lên tiếng không chút e dè “Đừng đọc báo, hãy đọc blog!” và kêu gọi các nhà quản lý báo chí hãy đừng bảo thủ đến mức đi phân rạch báo chí chính thống chính thống với báo chí ngoài luồng.

Nghề báo ở Việt nam ta nhiều chục năm nay là như vậy, hẳn những ai đã từng là nhà báo hay viết báo dưới chế độ hiện nay đều rõ, muốn an tâm để coi nghề báo là một nghề kiếm sống, nuôi vợ con thì hãy viết những điều mà lãnh đạo tòa báo họ muốn, còn nếu ai muốn viết theo tâm của mình, hay viết vì độc giả, vì sự tiến bộ xã hội thì đó là việc chỉ dành cho mấy tay nhà báo “bất mãn” hay có tư tưởng chống đối như đánh giá của mấy vị làm công tác quản lý báo chí. Mà giả sử có ai viết như vậy thì họ cũng biết chắc bài viết sẽ bị biên tập cắt sửa cho đến khi hết nhẵn những ý của người viết cố cài vào thì họ mới chịu, để rồi cuối cùng khi bài viết xong xuôi được lên trang để đến với bạn đọc thì khi đó nó được ví như món đồ gỗ xộc xệch bởi một ông thợ mộc tay nghề dở sẽ làm mất công chửi của mấy bạn đọc nóng tính. Tóm lại, sau mỗi bài viết kiểu như vậy thì cả người viết và người đọc đều có cảm giác chung là chán, bực mình kiểu như vừa bị lừa, vừa bị coi thường. Tất cả cánh nhà báo ai rất hiểu rõ điều này, nhưng cuối cùng họ cũng vì miếng cơm, manh áo của bả thân và vợ con thì ai cũng đành tặc lưỡi, nhắm mắt viết cho xong, viết theo yêu cầu của lãnh đạo để đảm bảo kế hoạch công tác.

Chắc đó cũng chính là lý do buộc nhà báo Trương Duy Nhất phải nghỉ viết báo để quay sang viết blog với suy nghĩ “Trong thời buổi bạn đọc tẩy chay báo, chính người làm báo cũng không thèm đọc báo, mọi giới mọi ngành mọi người mọi nhà, từ gã thường dân đến quan chức hàng nguyên thủ, trung ương ủy viên… ai nấy đều quay sang đọc blog đến nghẽn mạng- Thế thì tại sao lại không nói không với báo, nghỉ làm báo để viết blog?”. Suy nghĩ đó cũng là tâm trạng chung của mỗi nhà báo còn có chút lương tâm của chính mình và còn biết phân biệt lẽ phải, đó là những người còn giữ được chút đạo đức nghề nghiệp của người làm báo, người cầm bút.

Chuyện kiểm soát, kiểm duyệt khắt khe và không cho tự do báo chí là điều thường xảy ra của một chế độ xã hội cai trị theo kiểu độc tài như ở Việt nam, mà ở đó những kẻ cầm quyền không có sự tin tưởng vào khả năng cai trị và sự tồn tại của chính họ, khi mà trong mắt họ thì lực lượng nhà báo có tính cách đối lập, thích động chạm đến sự thật và lẽ phải là lực lượng nguy hiểm, có khả năng gây bất ổn cho chính quyền. Các nhà độc tài cảm giác những ngòi bút của lực lượng nhà báo đó là những cái đòn bẩy có thể dùng để xoay hay lật đổ cả một chế độ như nhà thơ Sóng Hồng đã mô tả trong hai câu thơ:
“… Dùng ngòi bút làm đòn xoay chế độ.
Mỗi vần thơ, bom đạn phá cường quyền…”


Với suy nghĩ như vậy của các nhà cầm quyền độc tài thì đó chính là cách suy nghĩ hoàn toàn sai lầm, thiển cận dẫn tới họ có các phản ứng bằng cách làm ngược, thay vì phải lắng nghe và quản lý báo chí bằng luật, phải coi báo chí là cơ quan quyền lực thứ tư, có vai trò tham gia giúp cho chính quyền trong việc quản lý và thúc đẩy sự phát triển của xã hội theo tính chất tích cực vốn có của báo chí. Từ sợ báo chí, tới không biết quản lý báo chí để tận dụng mặt tích cực của nó thì họ lại dùng cách cấm đoán tới mức triệt để, bất kể điều đó vi phạm Luật báo chí hay Hiến pháp của đất nước.

So với tôi về tuổi đời thì Trương Duy Nhất ít tuổi hơn, tuy không nhiều, tôi từng có suy nghĩ như kiểu hôm nay của Trương Duy Nhất từ rất lâu, cũng từng lo lắng về cuộc sống không chỉ của cá nhân mà của cả vợ con và người thân vì luôn vướng víu chuyện không biết là nếu bỏ nghề viết “thuê”, không có nhuận bút thì sẽ làm gì để sinh nhai, nhưng quan trọng hơn cả thời ấy cái hành động bỏ việc cơ quan nhà nước ra ngoài làm tự do dưới con mắt mọi người hình như nó rất xấu thì phải. Nhưng cuối cùng tôi cũng đã vượt qua được và quyết định hành động như Trương Duy Nhất đã vừa mới làm, đó là trả lại tấm Thẻ Nhà báo, cái vốn là chiếc cần câu cơm của cá nhân mình, của gia đình mình từ rất lâu rồi.

Sau quyết định đó cuộc sống cũng có chút đảo lộn, xong mọi thứ đời thường rồi cũng đâu vào đấy, cuộc sống dần ổn định nhanh chóng và cũng ngày một tốt hơn, nhất là về mặt tư tưởng và tinh thần, viết lách cũng thoải mái vì được và dám viết ra những điều mình bức xúc về đời sống, con người và xã hội. Mà mãi đến sau này mới rút ra một điều nay muốn nói lại với mọi người rằng, tạo hóa đã sinh ra con người, đã sinh ra mình thì tạo hóa cũng cho con người cái bản năng sinh tồn rất mãnh liệt, chết được cũng không phải chuyện dễ. Nhất là con người Việt nam ta thường có bản năng “Đói thì đầu gối phải bò” để sinh tồn, rất dễ sống và tóm lại chẳng có lý do gì để sợ mà người cầm bút không dám dứt bỏ cái sợi xích vô hình đang bó buộc tâm hồn mình mà mình không còn thích. Nói ra điều đó để nhắn nhủ mọi người, nhất là những người đang cầm bút phải hiểu và lấy đó làm tôn chỉ cho mình khi cầm bút viết báo, không thể vì miếng cơm, manh áo của cá nhân vợ con mình mà bẻ cong ngòi bút, viết những điều họ (kẻ thuê mình) muốn mình viết bất kể đúng sai, chân lý kể cả chà đạp lên nhân phẩm của người khác như một số nhà báo đã và đang bị biến thành lũ bồi bút, hiện đang ngồi ở các tòa báo vốn là cái loa tuyên truyền của đảng CSVN như CAND, QĐND v.v… mà không biết xấu hổ, điều mà làm cho bạn đọc phải hứng chịu cái cảm giác đó lẫn sự bực mình khi đọc qua những bài viết của họ.

Tôi luôn luôn muốn mỗi một người cầm bút chúng ta, hãy là những nhà báo chân chính và xin hãy nhớ và làm theo như nhà thơ Phùng Quán đã viết trong bài thơ “Lời mẹ dặn” rằng:
“… Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêụ
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.”


Những điều đó phải được coi như tuyên ngôn của những nhà báo chân chính có lòng với đất nước và dân tộc. Nếu mỗi chúng ta làm được như vậy, trước hết chúng ta sẽ không phải cảm thấy hổ thẹn đối với bản thân ta, bạn bè ta và vợ con ta. Quan trọng hơn là chúng ta sẽ được bạn bè trong cộng đồng tôn trọng vị nể với cái nhìn thiện cảm hơn.

Nhưng chắc chắn dù viết báo hay viết blog thì Trương Duy Nhất, cũng như tôi chắc sẽ có cùng chung quan điểm là phải có trách nhiệm viết ra những suy nghĩ của mình vì một tương lai tốt đẹp hơn cho tổ quốc Việt nam bằng cách dùng ngòi bút của mình thông qua các loại phương tiện truyền thông để nâng cao dân trí xã hội, trên cơ sơ đảm bảo đạo đức, lương tâm người làm báo và tôn trọng sự thật, lẽ phải và sự công bằng. Chỉ có điều, với tôi đã là người cầm bút thì ở bất kỳ mặt trận nào, dù là viết báo hay blog thì chúng ta cũng chỉ có viết vì lẽ phải và sự trung thực, nhưng đừng nóng vội, bốc đồng, đặc biệt là không bao giờ nên sợ hãi hay tỏ ra mệt mỏi.

Đường xa mới biết ngựa hay, con người ta nói chung hay các bloggers cũng vậy, đích mà chúng ta đã và đang hướng tới không chỉ một thời gian ngắn mà có thể đạt được, nó là một quá trình lâu dài, mà vai trò của mỗi chúng ta, mỗi blogger là cùng góp sức nhỏ bé của mình để cải tạo những cái còn chưa đúng, còn chưa tốt, còn chưa công bằng của xã hội hiện tại. Mọi người chúng ta xin đừng quên rằng, một nền truyền thông đối lập, hoàn chỉnh và hiệu quả chưa chắc đã có khả năng lật đổ được một chế độ độc tài, nhưng chắc chắn một điều không có một hệ thống truyền thông tốt thì khó mà làm được việc đó. Bởi vậy, không chỉ các bloggers lề bên trái mà phải là toàn thể những người Việt nam đã và đang cổ vũ, ủng hộ cho cuộc đấu tranh vì sự dân chủ và tự do của dân tộc, mỗi chúng ta đều phải có trách nhiệm chung tay, bằng mọi cách, dưới mọi hình thức có thể.

Bạn hãy thử hình dung xem, với thực tế hiện tại của nền báo chí quốc doanh, khi mà như nhà báo Trương Duy Nhất nói “Trong thời buổi bạn đọc tẩy chay báo, chính người làm báo cũng không thèm đọc báo, mọi giới mọi ngành mọi người mọi nhà, từ gã thường dân đến quan chức hàng nguyên thủ, trung ương ủy viên… ai nấy đều quay sang đọc blog đến nghẽn mạng”. Nếu như chúng ta tạo điều kiện để vài chục, hay vài trăm nhà báo có tâm huyết với đất nước, với dân tộc đang ở trong nước sẽ làm theo Trương Duy Nhất đã làm, đó là trả thẻ nhà báo, không hợp tác để viết sai sự thật, trái lương tâm, viết theo sự chỉ đạo thì thử hỏi nền báo chí trong nước vốn quá nhàm chán sẽ còn lại những gì?

Xin đề nghị các tổ chức, các cá nhân hay các hội đoàn, các doanh nghiệp v.v… trong và ngoài nước hãy ủng hộ họ, thông qua các web site, các blog của cá nhân họ dưới mọi hình thức để các blogger sống và viết những điều họ muốn. Sự giúp đỡ đó có thể là dưói dạng đặt quảng cáo cho sản phẩm hay doanh nghiệp của mình, ủng hộ tài chính hay chỉ dù tối thiểu là những lần ta ghé thăm thường xuyên trang blog của họ nó cũng mang lại cho họ chút niềm vui và sự tin tưởng về tương lai của họ. Chúng ta không cần giúp họ để làm giàu nhưng phải giúp cho họ và gia đình đủ sống đàng hoàng, còn về phía họ, những nhà báo đó họ sẽ tự biết họ sẽ phải làm gì, viết gì mà không bị chính quyền sờ gáy, hoặc gây khó khăn cho gia đình và bản thân. Thế là đủ, nếu làm được việc đó là ta đã bắn một mũi tên trúng hai, ba đích, vừa tiêu hao sinh lực của đội bạn, vừa kích thích những tiếng nói đối lập dám lên tiếng. Nếu làm được điều đó, chắc chắn chỉ một thời gian ngắn số lượng các bloggers trong nước tham gia sẽ có số lượng không nhỏ, khi đó cái gì sẽ xảy ra?

Chắc chắn, chúng ta sẽ phá vỡ và làm càng suy yếu thế độc quyền của nền báo chí độc tôn của chính quyền, đó là một việc làm cần thiết và cấp bách. Được gác lại những nỗi âu lo về cơm áo, gạo tiền để có thể dám viết ra những điều mình trăn trở, đây là điều mà các blogger tự do trong nước vốn rất nặng lòng suy tư, xong vì hai chữ thể diện và danh dự của mình mà họ đã rất ngại không dám nói ra nhưng suy nghĩ như vậy.

Các bạn đã sẵn sàng dành sự ủng hộ của mình cho những bloggers tự do đang ở Việt nam, đang mong muốn được viết những điều họ còn nhiều trăn trở về đất nước, xã hội và cuộc sống hiện tại một cách tự do mà không bị chút bó buộc nào như blogger Trương Duy Nhất hay chưa?

Xuân đỉnh, 29 tháng Chạp - ngày giáp Tết Tân Mão


BLOG NGUYỄN HƯNG QUỐC



Hình: REUTERS

Không cần giải thích, ai cũng biết mấy chữ “đỉnh cao trí tuệ” ấy ám chỉ ai. Mà cũng không phải là ám chỉ nữa. Người ta tự nhận như thế. Một cách công khai, rõ ràng và đầy tự hào từ cả mấy chục năm nay.
Có ai hoài nghi về những điều ấy không?

Có. Từ phía dân chúng và những người đối lập.

Điều đặc biệt thú vị là, gần đây, những sự hoài nghi ấy được phát biểu ngay từ nội bộ đảng, từ các đảng viên, thậm chí, đảng viên kỳ cựu.

Điều đó có thể thấy rõ trong cuộc hội thảo để góp ý với đại hội đảng lần thứ 11 được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 7 tháng 11 năm 2010 với sự tham dự của mấy chục trí thức và cán bộ từng giữ những chức vụ cao cấp trong guồng máy đảng và chính quyền tại Việt Nam.

Trong cuộc hội thảo, họ bàn đến rất nhiều chuyện. Thú nhất là cách họ đánh giá giới lãnh đạo.
Hình như không có ai khen hay có chút gì khâm phục cả.

Ví dụ lời phát biểu của tiến sĩ Lưu Bích Hồ, cựu Viện trưởng Viện Chiến lược chính sách, Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Liên quan đến vấn đề trình độ của giới lãnh đạo Việt Nam, bà tỏ ra dè dặt: “câu hỏi này hơi khó trả lời.” Nhưng rồi bà cũng nói: “tôi xin phép nói thế này. Trong cái Trung ương mà tôi được ngồi chầu rìa và trong Bộ Chính trị thì không phải không có nhiều đồng chí có trình độ trí tuệ khá cao.”

Hình như nghĩ là chưa đủ rõ ràng, ngay sau đó, Lưu Bích Hồ lặp lại: “hiện nay, tôi cảm giác thấy là trình độ của các đồng chí kể cả trong Bộ Chính trị cũng có những đồng chí có những trình độ, trí tuệ khá cao chứ không phải thấp lắm đâu. Nhưng mà nói chung thì chưa bằng bên ngoài (có nhiều tiếng cười). Tôi xin phép… nói chung là trình độ lãnh đạo hay trí tuệ lãnh đạo chưa bằng ở bên ngoài.”

Tiến sĩ Lưu Bích Hồ nêu một ví dụ: Khi có người đề nghị cho xây dựng một thứ xã hội dân sự ở Việt Nam thì có một vị lãnh đạo gạt đi, bảo: “nói xã hội dân sự là vớ vẩn, rơi vào cái ‘Câu lạc bộ Petophi’ của Đông Âu ngày xưa, nó là đối chọi với Đảng Cộng sản, nó lật đổ đấy.”

Nghe đến đó, Trần Phương, cựu Phó Thủ tướng, cựu Ủy viên Ban chấp hành Trung ương đảng, chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, người điều khiển cuộc hội thảo, vọt miệng nói chen vào bài phát biểu của Tiến sĩ Lưu Bích Hồ:
“Nếu thế thì Mác cũng là ‘Petophi’ à? …Chính Mác là nói về xã hội dân sự rất nhiều. Thế thì các ông ý chẳng học chó gì cả!”

Biên bản cuộc hội thảo ghi nhận, nghe Trần Phương nói thế, “tiếng cười phá lên” trong hội trường.
Đọc những lời phát biểu của Tiến sĩ Lưu Bích Hồ và giáo sư Trần Phương, tôi chợt nhớ đâu khoảng những năm 1986 hay 1987 gì đó, khi chính sách cởi trói vừa mới khởi động, báo chí nhao nhao tố cáo và lên án những tệ nạn xã hội tại Việt Nam, tôi đọc được một bài báo của ai đó nói về những sự tự mãn vô bờ bến của giới lãnh đạo Việt Nam. Chuyện kể: một hôm, một nhà khoa học đề nghị một vị lãnh đạo cho gửi sinh viên ra nước ngoài du học về ngành xã hội học vốn là một ngành học vô cùng cần thiết trong việc tìm hiểu xã hội và hoạch định chính sách nhưng lại hoàn toàn vắng mặt tại Việt Nam thời ấy. Nghe lời đề nghị, vị lãnh đạo lớn tiếng nạt, đại khái: Cần gì phải ra nước ngoài học? Cứ xách cặp theo tôi, quan sát, ghi chép những gì tôi nói rồi học hỏi là được rồi!

Tôi đọc bài báo ấy lúc còn ở Paris, cảm thấy rất thích thú, bèn cắt giữ làm tài liệu. Nhưng sau bao nhiêu lần dọn nhà, gần đây, cố tìm, vẫn chưa thấy. Tôi hy vọng những người quan tâm đến Việt Nam có thể lục lại tài liệu này hoặc những tài liệu tương tự.

Trong khi chưa tìm ra tài liệu vừa kể, tôi vui mừng bắt gặp chi tiết này trong bài viết “Hoàng Ngọc Hiến, như tôi đã biết...” của Phan Hồng Giang:
“Mùa hè 1964, hàng trăm lưu học sinh Việt Nam ở Liên Xô được triệu hồi về nước để tham dự khóa chỉnh huấn tập trung 1 tháng tại Trường Đại học kinh tế Quốc dân ở Ngã tư Vọng - Đại La. [...] Cho đến giờ chúng tôi vẫn chưa quên những "lời có cánh" từ miệng các vị giảng viên cao cấp: "với ông anh cả Liên Xô, ta vẫn có thể ôm hôn, nhưng tuyệt đối không được hít (!?); "ta cương quyết đánh Mỹ, đồng nghĩa ta là trung tâm cách mạng, ta là người nắm chân lý, thiên hạ có cắp sách đến ta mà học thì đến, chứ việc gì ta phải đi học đâu! Cần có bằng tiến sĩ à? Thì ta cứ ngồi mà phong cho nhau cũng được, có sao đâu!"… (Kết quả của những lời này là hầu hết các học viên khóa chỉnh huấn nọ đều ở lại Việt Nam, mặc dù đồ đạc tư trang của họ vẫn để ở Liên Xô.)”

Hai câu chuyện trên đều xảy ra từ nhiều thập niên về trước.

Hiện nay giới lãnh đạo Việt Nam đã bớt tự mãn chút nào chưa?

Tôi có cảm tưởng là chưa.

Đọc các bài diễn văn, kể cả báo cáo hay dự án chiến lược phát triển của họ nhân kỳ đại hội đảng lần thứ 11 đang diễn ra tại Hà Nội vào giữa tháng 1 này, tôi có cảm tưởng họ vẫn rất tự tin vào trí tuệ của họ và bất chấp những khám phá hay thậm chí hiểu biết của cả thế giới.

Khắp nơi đều biết chủ nghĩa xã hội là một thất bại và đã bị sụp đổ rồi ư? Họ bất chấp, cứ khẳng định: đó là xu thế tất yếu của lịch sử.

Khắp nơi đều biết trong hơn nửa thế kỷ, các nước xã hội chủ nghĩa, từ Liên Xô đến Trung Quốc, từ Đông Âu đến Cuba và Bắc Hàn... đều là những nơi dân chúng bị chà đạp, thậm chí, tàn sát nhiều nhất, họ vẫn bất chấp và khẳng định: chỉ có chủ nghĩa xã hội mới mang lại tự do và dân chủ cho mọi người.

Khắp nơi đều biết nơi nào có chủ nghĩa xã hội, nơi đó đều bị chìm ngập trong lạc hậu và nghèo đói: trong khi Tây Đức phát triển vượt bậc, Đông Đức cứ lê lết khốn khổ; Nam Triều Tiên trở thành siêu cường ở Á châu trong khi Bắc Triều Tiên thì thiếu thốn từ chén cơm manh áo, thế mà họ vẫn cứ bất chấp và khẳng định: chỉ có chủ nghĩa xã hội mới làm Việt Nam phát triển và thịnh vượng.

Khắp nơi đều biết muốn dân chủ thì phải đa đảng, họ vẫn bất chấp và khẳng định: Việt Nam không cần và không bao giờ cần đa nguyên, đa đảng.

Vân vân.

Bài viết này xin phép không có câu kết luận.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét