Thứ Ba, 22 tháng 2, 2011

GẶP GỠ TRÊN ĐẤT MỸ (XXXIX)

Tiêu Dao Bảo Cự

Kỳ 39


Chúng tôi lại được mời đến nhà Bùi Như Mai – Trần Kim Long chơi, gặp mặt lần nữa các bạn của đôi vợ chồng này. Mai coi tôi như người anh. Long cũng đã khá thân. Vì nhà ở gần nên lúc rảnh rỗi anh mời tôi sang uống café, chỉ mất 10 phút đi bộ. Long đơn giản, chân chất, rất băn khoăn phiền muộn về những chính sách và cách hành xử tồi tệ trong nhiều vấn đề của nhà cầm quyền trong nước. Các bạn của Long hỏi tôi có lạc quan không, tôi trả lời tôi luôn luôn lạc quan, không phải vì tình hình có thể thay đổi nhanh mà vì tôi luôn tin tưởng cái thiện sẽ thắng cái ác và dân tộc Việt Nam sẽ vươn lên khi tìm lại được sức mạnh của mình. Nếu toàn dân tộc, không phải chỉ một nhóm người, chưa ý thức được điều đó thì phải chấp nhận số phận của mình, không thể khác được. Dĩ nhiên không phải ngồi yên chờ thời, mà mỗi người, đặc biệt là tầng lớp tinh hoa, phải làm những gì có thể để thúc đẩy tình hình nhưng không nên quá ảo tưởng, sốt ruột hay bi quan thất vọng. Vài người trong nhóm bạn này tỏ ra ngạc nhiên về thái độ của tôi. Họ không hiểu sao một người ở trong nước, từng bị trù dập như tôi, lại có thể có tinh thần lạc quan như vậy, hầu như trái ngược với cách suy nghĩ của nhiều người ở ngoài này.


Bùi Như Mai (áo vàng) và các bạn.

Mai – Long rủ chúng tôi đi thăm Việt, một bạn thân của hai người, ở thành phố Berkeley. Nhà Việt ở một khu cao cấp trong rừng. Nhà ở khu này rất đẹp, yên tĩnh, tôi thấy đường vào lái xe rất khó nhưng đối với cư dân ở đây họ đã quen, xem như bình thường. Nhà ở sườn núi, từ đường phía ngoài muốn vào phải đâm xuống một đoạn ngắn rất dốc và cong. Xuống đến nơi là giang sơn riêng của mình, chẳng ai quấy nhiễu. Việt cùng lứa tuổi với các bạn nhưng tóc bạc trắng, tuy vậy khuôn mặt vẫn trẻ. Vợ đi vắng, anh tự mình làm bếp đãi khách món spaghetti rồi sau đó đưa mọi người đi thăm một vài nơi ở Berkeley.

Trước đây đã có lần Thái Anh đưa chúng tôi lên Berkeley Hills nhưng vì hôm đó trời mưa nên chỉ dừng lại ngắm đôi chút rồi xuống ngay. Lần này trời nắng đẹp, Việt dừng xe ở một vista point. Nơi đây có thể nhìn toàn cảnh vùng Vịnh với hai chiếc cầu dài bắc qua mặt nước mênh mông phía xa xa và thành phố Berkely dưới chân núi. Có lẽ vì điểm nhìn thơ mộng, lại nằm bên cạnh trung tâm nghiên cứu toán học nên chỗ này được gọi là Inspiration Point, hàm ý có thể gây cảm hứng cho cả văn học nghệ thuật và khoa học. Chúng tôi xuống chụp hình trong ánh nắng chiều chói chang làm nheo cả mắt.


Với Hoàng Thái Việt (trái) trên Inspiration Point.

Đại học Berkeley chúng tôi đã đến mấy lần nên không vào, chỉ chạy vòng các khu phố chung quanh và đến xem hai công viên Willard Park và People Park. Ngày trước, dân địa phương thường gọi công viên Willard Park là Ho Chi Minh Park vì đây là nơi tụ tập và xuất phát các cuộc biểu tình phản chiến trong thập niên 60 và 70. Công viên People Park ra đời vào cuối thập niên 60 với những họat động chính trị cấp tiến và nay trở thành một cái mốc (landmark) của thành phố. Đây chỉ là một công viên nhỏ, ngày trước sinh viên thường tụ tập để tổ chức biểu tình phản chiến. Bây giờ đặc biệt tập trung rất đông những người vô gia cư. Họ nằm, ngồi trên bãi cỏ, ghế đá, hay ngồi bên đường xin tiền người qua lại. Những người này phần lớn ăn mặc bẩn thỉu, râu tóc xồm xoàm, gia tài chỉ có chiếc ba lô hay túi xách nhếch nhác. Đây có lẽ là nơi tập trung đông nhất những người vô gia cư này mà tôi đã từng thấy. Những người này là một vấn nạn lớn đối với nước Mỹ. Tuy chính phủ có lo cho họ chỗ ăn ở nhưng một số không chịu vào sống trong đó, họ thích lang thang ngoài đường, phần lớn là những người nghiện ma túy hay bị tâm thần. Thỉnh thoảng ở các ngả tư có đèn đỏ hay trên các hè phố sang trọng có người cầm bảng ghi cần giúp đỡ và cầu chúa phù hộ cho những người hảo tâm là một sự tương phản nhói lòng. Không biết bao nhiêu người Mỹ vượt qua những kẻ đó nghĩ gì. Có lẽ nó đã trở thành chuyện thường ngày không làm người ta cảm xúc.


Góc công viên People Park (từ trái qua Trần Kim Long, TDBC, Bùi Như Mai, BY).

Tiếp theo công viên People Park, trên đường Haste có bức tường dài với một tranh vẽ trên tường “mural” rất đặc biệt, chịu ảnh hưởng của họa sĩ nổi tiếng người Mexico Diego Rivera. Tường cao khoảng 5 mét, dài gần 20 mét, được vẽ bằng sơn đặc kín. Nhìn nội dung có thể biết nó được vẽ khoảng đầu thập niên 80 (nội dung về các sinh họat xã hội và chính trị cuối thập niên 60 và 70) thế kỷ trước, qua hơn 25 năm vẫn còn gần như nguyên vẹn, không bị bôi xóa hay làm bẩn, chỉ có hơi phai mờ theo thời gian. Các hình vẽ cho thấy sự phản đối của người dân đối với chính quyền Mỹ về nhiều vấn đề, trong đó có cuộc chiến ở Việt Nam. Hình lá cờ Mặt Trận Giải Phóng nửa đỏ nửa xanh khá lớn và hình bé Kim Phúc bị bom napal đốt cháy trần truồng chạy trốn trên đường vẫn còn rõ nét. Những hình ảnh này cũng thể hiện quyền tự do bày tỏ chính kiến của người Mỹ. Tuy rằng người ta có thể có quan điểm khác hay đối lập nhau nhưng việc lưu giữ bức tranh này qua thời gian lâu dài như thế cho thấy người ta tôn trọng quyền tự do của người dân và chiến tranh Việt Nam là một vết thương sâu trong lòng người Mỹ.


Bức tranh tường trên đường Haste.

Ít lâu sau, Mai – Long mời chúng tôi đi xem Chương trình nhạc gây quỹ hàng năm có tên Mùa Thu cho Em 15 của VNHELP, tổ chức tại Santa Clara Convention Center Theater, nơi chúng tôi đã xem múa trước đây. Thành lập từ năm 1991, Quỹ Y tế Giáo dục Văn hóa VNHELP là một tổ chức thiện nguyện, bất vụ lợi, nhằm trợ giúp trẻ em, gia đình và các tổ chức tại Việt Nam về mặt y tế, giáo dục và văn hóa, đồng thời khuyến khích trao đổi khoa học, kỹ thuật và văn hóa giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Giám đốc điều hành của tổ chức này là Đỗ Anh Thư, kỹ sư công nghệ thông tin, cựu sinh viên đại học Berkeley. Trong những tổ chức truyền thông bảo trợ cho chương trình ca nhạc thấy có Little Saigon TV, New Life Media, Inc., Saigon TV và hai tờ báo VTimes của Trần Đệ, Việt Tribune của Nguyễn Xuân Hoàng. Mai – Long có chân trong tổ chức này. Mai cho biết trước đây hoạt động của tổ chức và những buổi ca nhạc gây quỹ cũng bị chống đối, gây khó khăn nhưng hiện nay đã trở nên bình thường.


“Mùa thu cho em 15” của VNHELP.

Tham gia chương trình có các ca sĩ ở Mỹ Đức Huy, Khánh Ly, Tuyết Minh, ban nhạc Phượng Hoàng, MC Thanh Tùng. Đặc biệt ca sĩ trong nước ra có Đức Tuấn, giải nhất Tiếng Hát Truyền Hình năm 2000, một giọng hát trẻ mạnh mẽ, trầm ấm và điêu luyện, chỉ sang Mỹ để biểu diễn trong chương trình này năm nay và năm ngoái. Khán giả đầy kín nhà hát. Sân khấu đơn sơ, không nhiều đèn đóm màu mè. Các ca sĩ trò chuyện với khán giả một cách gần gũi, thân tình. Buổi ca nhạc không hoàn toàn là một buổi trình diễn mà là cơ hội giao lưu giữa ban tổ chức, ca nhạc sĩ và khán giả. Đặc biệt khán giả đã cùng vỗ tay và hát với Khánh Ly mấy bài trong Ca khúc Da Vàng của Trịnh Công Sơn, nhất là bài “Gia tài của mẹ”.

Tôi đã đọc trên các website và báo chí hải ngoại nhiều bài phê phán, chống đối Trịnh Công Sơn rất dữ dội nhưng không khí ở đây cho thấy không phải mọi người đều nghĩ như thế. Có thể trên quan điểm chính trị, trước đây, cả hai phía chiến tranh, và hiện nay, nhiều người không tán thành Trịnh Công Sơn nhưng không ai có thể phủ nhận tài năng của ông, nhất là qua những bài hát về tình yêu và thân phận, kể cả những bài hát phản chiến mà ca từ mê hoặc với chất thơ đượm triết lý, suy tư sâu lắng, chạm đến hồn người. Theo tôi, Trịnh Công Sơn trước hết và sau hết vẫn chỉ là một nhạc sĩ thiên tài, một nghệ sĩ, một người tình mê đắm đi giữa cuộc đời trầm luân của dân tộc. Tuy thái độ chính trị của ông, có thể hiện trong một vài sáng tác, cho thấy đôi lúc ông hơi “xu thời” nhưng đó chỉ là để tồn tại trong guồng máy chiến tranh và một xã hội khắc nghiệt. Về phương diện này ông không “cao cả” như người ta đòi hỏi nhưng có thể cảm thông. Ông chưa bao giờ là bồi bút, văn nô rẻ tiền cho chế độ chính trị nào như biết bao văn nghệ sĩ khác. Tác phẩm của ông mới là cống hiến giá trị nhất cho đời. Âm nhạc của ông đã đồng hành với những người cùng thế hệ, như người bạn tâm tình thân thiết, tài hoa với biết bao rung cảm và còn có thể chảy lâu trong dòng đời với nhiều thế hệ kế tiếp.

Trong những ngày sắp rời nước Mỹ, Trần Kim Long lại đưa chúng tôi đi thăm một vài nơi nữa, có người bạn thân là Nguyễn Duy Nam cùng đi. Nam là một nhân vật gây ấn tượng mà chúng tôi đã gặp hai lần ở nhà Mai – Long. Một người thấp bé, đeo kính cận nặng, râu không cạo, chuyên mặc quần jean cũ bạc mầu rách ở đầu gối, nhìn bề ngoài không ra vẻ gì trí thức, được giới thiệu là một trong những sinh viên xuất sắc ở University of Chicago trước đây. Anh sống độc thân, không làm việc gì nhất định mà lang thang như một nghệ sĩ bụi đời. Long lái xe đưa chúng tôi đi Monterey Bay Aquarium và sau đó là 17-Mile Drive ở Pebble Beach. Từ Milpitas đến đó mất có thể đến 3 giờ lái xe.


Với Nguyễn Duy Nam (trái).

Nhà bảo tồn sinh vật biển Monterey Bay Aquarium xây dựng đã 25 năm, nằm ngay trên bờ biển, có hai tầng rộng lớn. Nhiều bể kính lớn nhỏ nuôi các loại cá bơi lội gần như trong môi trường tự nhiên, đặc biệt có nhiều người xem là cá mập trắng, chim cánh cụt và hải cẩu. Đến giờ được thông báo, khách tập trung xem nhân viên cho chim cánh cụt và hải cẩu ăn. Họ vào hẳn nơi ở của các con vật này mang thức ăn cho chúng, bên ngoài có người thuyết minh về các đặc điểm của loài sinh vật này và sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi của khách. Đây là bài học về sinh vật hết sức thú vị, nhất là đối với trẻ em. Xem xong, chúng tôi lên sân thượng ngắm biển một lúc rồi ra về.


Cho chim cánh cụt ăn trong Monterey Bay Aquarium.

Trên các con đường chung quanh khu vực này, chúng tôi thấy có đường phố mang tên nhà văn John Steinbeck và một tượng của ông, thể hiện một người đàn ông đứng tuổi có khuôn mặt hơi dài, thông minh và cao quý. John Steinbeck sinh ở Salinas, gần Monterey và lớn lên ở Monterey. Vùng đất này là bối cảnh của hầu hết những truyện của John Steinbeck như Tortilla Flat, Cannery Rows, The Grape of Wrath, East of Eden, Of Mice and Men, một số cuốn đã được dịch ra tiếng Việt. Nhà văn đã làm vinh dự cho một vùng đất hay vùng đất biết quý trọng tài năng, hãnh diện là nơi đã cưu mang và từng in dấu chân nhà văn. Cả hai đều là dấu chỉ của một xã hội có văn hóa.


Tượng John Steinbeck bên đường phố Monterey.

Đi tiếp không xa lắm, chúng tôi đến vùng gọi là Pebble Beach nằm dọc theo bờ biển giữa hai thành phố Monterey và Carmel. Đây là vùng được xem là “nơi gặp gỡ lớn nhất giữa đất và nước trên thế giới” với vẻ đẹp hài hòa của rừng và biển, nơi có những sân golf nổi tiếng và là chỗ sinh sống của cư dân giàu có. Trong khu vực này có con đường dài 17 dặm gọi là 17-Mile Drive chạy dọc theo bãi biển và vòng vèo bên trong, đi qua 21 điểm đáng xem là những cảnh trí đẹp, các vista point hay sân golf. Điều buồn cười là trên con đường vào khu nhà giàu này có cổng chắn từ các phía, thu tiền đường khi khách lạ lái xe đến tham quan, nhưng nếu vào nhà hàng ăn trả $25 trở lên sẽ được trả lại tiền đó. Long lái xe lướt qua một số nơi trên con đường xuyên rừng mát mẻ với những biệt thự sang trọng rồi quay ra trở về vì trời đã chiều và đường còn xa. Hai bạn Long, Nam đã dành cho chúng tôi trọn một ngày cho chuyến đi này.


1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15 
16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27  28  29  30  31  32  33  34  35
36  37  38  39  40

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét