Thứ Hai, 14 tháng 2, 2011

GẶP GỠ TRÊN ĐẤT MỸ (XXXI)

Tiêu Dao Bảo Cự

Kỳ 31

T. Sơn cũng là một anh chàng lang bạt lãng mạn rất hợp với chúng tôi. Lên đây được một người bạn cho mượn chiếc xe, T. Sơn rủ chúng tôi đi chơi khám phá thủ đô. Những nơi quan trọng ở trung tâm chúng tôi đã đi rồi nên T. Sơn chạy lòng vòng phía ngoài. Chạy trên cầu, trông thấy một nhà hàng rất trữ tình bên bờ sông Potomac phía dưới, T. Sơn nói sẽ tìm cách xuống đó. Nhìn rất gần và rõ nhưng chạy mấy vòng khu vực chung quanh vẫn không tìm được lối xuống, lại còn lạc ra xa. T. Sơn vẫn quyết tâm đến cho bằng được, kể cả việc đâm đại vào các con đường nhỏ hướng về phía bờ sông nhưng mấy lần gặp phải đường cụt phải trở ra. Một lần đường chật, quay xe khó khăn, lúc lái ra có người đứng bên đường lấy tay chỉ chỉ vào phía sau xe. Chúng tôi không hiểu họ có ý gì nhưng một lúc sau dừng xe lại xem, hóa ra xe móc, kéo theo nguyên cả vật dụng dùng ngăn đường phía sau. May mà chưa có gã “cớm” (không phải, cop mới đúng) nào phát hiện. Cuối cùng cũng tìm được lối vào.



Nhà hàng bên bờ sông Potomac.

Đây là một nhà hàng khách sạn lớn sát bờ sông, có nơi ăn uống rộng rãi dưới những chiếc dù trên bờ kè dọc theo mép nước, cả chỗ làm bến thuyền để đưa đón khách dạo chơi sông Potomac bằng tàu. Một nơi phong cảnh hữu tình và êm ả. Dòng sông lặng lờ xuôi chảy dưới chân cầu phía trước. Bên kia bờ là những con đường tấp nập xe cộ nhưng như viễn ảnh một nơi nào khác, không làm xáo động khung cảnh nơi đây. T.Sơn gọi bia và vài món thức ăn dù chúng tôi không đói. Lần đầu tiên T.Sơn tâm sự chuyện riêng tư. Anh kể cho chúng tôi cuộc đời long đong của mình từ Việt Nam, qua đảo tỵ nạn, định cư ở Âu Châu, cho đến nay khi tái định cư ở Nam Cali. Bây giờ T.Sơn vẫn sống độc thân và tham gia các công việc chung cho mục đích dân chủ hóa đất nước rất nhiệt tình nhưng thầm lặng. BY khuyên T.Sơn nên tìm một cô bạn gái cho đỡ cô đơn. T.Sơn nói cũng muốn vậy nhưng chưa tìm được ai phù hợp và lông bông quen rồi nên không muốn ràng buộc. Gặp mọi người ở Mỹ, ít ai nói chuyện riêng tư. T.Sơn tuy mới quen nhưng đã biết về chúng tôi từ lâu và có lẽ có nhiều đồng cảm nên không ngại tâm tình. Ngồi bên dòng sông lịch sử này của nước Mỹ, nghe tiếng nước thao thiết dưới sâu và câu chuyện hơi buồn của T.Sơn, tôi cảm nhận một tình bạn ấm áp với một người mới quen nhưng có duyên đã ba lần gặp nhau nơi xứ người.


Sông Potomac trước nhà hàng.

T.Sơn còn cùng với ông Nguyễn Mậu Trinh đưa chúng tôi đến thăm ông Bùi Diễm, một người quen của họ, nguyên trước đây là đại sứ của Việt Nam Cộng Hòa ở Mỹ. Tôi đã biết tên ông này qua một số sự kiện chính trị thời trước vì ông là người khá nổi tiếng. Nhà ông Diễm ở một khu vực sang trọng ngoại ô thủ đô. Nhà nào ở đây cũng là biệt thự lớn với vườn rộng mênh mông chung quanh mà theo ông nói, nhà nước quy định diện tích đó. Ông bà Bùi Diễm người cao lớn, hình như đã hơn 80 nhưng đều phương phi, da đỏ hồng, có vẻ phúc hậu. Ông Diễm, ông Trinh và T.Sơn thăm hỏi nhau vì hình như đã khá lâu họ mới gặp. Ông nói vẫn theo dõi tình hình chung nhưng ít khi gặp người trong nước ra nên cũng hỏi thăm tôi vài ba việc mà ông quan tâm. Ông tặng tôi cuốn sách rất dày “Gọng kìm lịch sử” của ông. Sau này tôi mới có thời gian đọc. Đây là một cuốn hồi ký chính trị của một người đã tham gia vào những biến cố của lịch sử, đặc biệt trong mối quan hệ giữa Việt Nam Cộng Hòa với Mỹ mà ông là người đóng vai trò trung gian chính trong một thời gian khá dài. Tôi thấy ông viết khá chân thật, khách quan, khiêm tốn, không cường điệu và thể hiện rõ niềm thao thức và nỗi đau của một người làm chính trị trong một giai đoạn khó khăn của đất nước. Trước khi chia tay, ông còn mời tất cả chúng tôi đi ăn cơm ở một nhà hàng không xa lắm. Tuy ông vẫn còn tự lái xe được nhưng ông Trinh đã đề nghị chở ông đi và đưa ông về. Tôi cũng đã gặp nhiều người Việt lớn tuổi ở Mỹ vẫn còn khỏe như ông, có lẽ nhờ dinh dưỡng và chăm sóc y tế tốt. Sau lần gặp này, T.Sơn cũng chia tay chúng tôi trở về lại Nam Cali.


Ông Bùi Diễm (phải) và TDBC.

Ông Nguyễn Mậu Trinh lại đón tiếp chúng tôi lần thứ hai, nhưng khác lần trước, để chúng tôi ở khách sạn, lần này ông đưa về nhà ở Maryland. Ông giới thiệu chúng tôi với vợ, bà Công Tằng Tôn Nữ Ninh Thuận, một phụ nữ có giọng nói và cử chỉ dịu dàng đặc trưng của xứ Huế. Sau này, một cách gián tiếp, chúng tôi được biết lần trước tuy ông Trinh quý chúng tôi nhưng bà hơi ngại khi nghe tôi vốn là “cựu việt cộng”. Tuy nhiên sau khi đọc cuốn sách “Mảnh trời xanh trên thung lũng” của tôi, bà đã thay đổi thái độ. Bà nói một người, một nhà văn có thể ngồi trò chuyện với hoa súng vàng (phần mở đầu trong tác phẩm của tôi) không thể là “cộng sản ác ôn” được. Mấy ngày ở nhà ông bà, bà đã đối xử với chúng tôi rất tốt và thân thiện.


Ông bà Mậu Trinh – Ninh Thuận.

Giữ lời hứa lần trước, ông Trinh đưa chúng tôi đi thăm Đền Thánh Đức Mẹ Lộ Đức – National Shrine Grotto of Lourdes ở thành phố Emmitsburg, Maryland, có bà Ninh Thuận cùng đi. Lần này không có gì vội vã và ông Trinh đã lái xe đến nơi dễ dàng. Đền thánh nằm trên sườn núi, ngay sau trường đại học công giáo Mount St Mary’s University, ở ngoài freeway có thể nhìn thấy được. Đền thánh này xây dựng rất sớm, là bản sao cổ nhất ở Mỹ của Đền Thánh Lộ Đức ở Pháp, chỉ 21 năm sau khi Đức Mẹ xuất hiện ở Lourdes vào năm 1858. Đây là nơi linh thiêng hàng năm thu hút hàng trăm ngàn người hành hương từ khắp nơi trên thế giới. Đền thánh chiếm một khu vực rộng lớn cả một sườn núi, có nhiều công trình từ dưới thấp lên cao, bên con đường dốc quanh co trong rừng. Dọc đường có những tượng thánh và đền thờ theo sự tích của Thiên Chúa Giáo để khách hành hương có thể dừng lại nguyện ngắm. Có một cái hồ chứa nước thánh từ trong núi chảy ra, khách có thể uống và lấy đem về từ những chiếc vòi được thiết kế thuận lợi và sạch sẽ. Dĩ nhiên BY đã chuẩn bị sẵn mấy chai để lấy vì đã nghe về nước thánh nơi này. Đền thánh chính nằm trên cao, dưới một núi đá giả không lớn lắm, với tượng Đức Mẹ nhỏ phía trên vách đá và nơi cầu nguyện sâu vào như một cái hang. Phía đối diện là một khán đài không lớn lắm, có nhiều ghế băng dài kiểu như sân vận động để khách ngồi nghe giảng đạo trong những ngày lễ. Khung cảnh ở đây u trầm, rất thích hợp với việc lắng lòng cầu nguyện của tín đồ Thiên Chúa Giáo.


Bà Ninh thuận và BY trước Đền thờ Đức Mẹ Lộ Đức.

Như để “cân bằng tôn giáo”, Ông Trinh lại đưa chúng tôi đi thăm một ngôi chùa. Ông bà Trinh theo Phật giáo, thời gian này lại đang mùa Vu Lan. Ngôi chùa Vạn Hạnh này của người Việt, nằm trong một cánh rừng bằng phẳng. Chùa không lớn và khá đơn sơ. Chung quanh ngôi chánh điện có mấy tượng khá lớn, hai tượng Phật Thích Ca ngồi tọa thiền và nằm nhập diệt, tượng Phật Di Lặc và tượng Phật Bà Quan Âm. Phía sau có một hồ sen đang nở hoa, giữa hồ có nhà thủy tạ nhỏ với cầu bắc qua hai bên bờ. Phật tử lần lượt đến khá đông, gần hàng trăm xe đậu trên bãi rộng phía trước và sau chùa. Ông Trinh quen với thượng tọa trụ trì, giới thiệu chúng tôi và đôi bên chỉ thăm hỏi qua loa vì thượng tọa đang lo công việc và tiếp rất nhiều khách. Chúng tôi không vào trong chánh điện vì trong đó đang chuẩn bị làm lễ nhưng đến trước đài Phật Bà Quan Âm đảnh lễ. Một số Phật tử đến làm công quả khá đông và có phục vụ nước uống, thức ăn chay phía trước chùa. Hình ảnh này gợi nhớ những ngày lễ Phật ở các chùa trong nước. Tuy ở đây không đông đảo bằng nhưng có lẽ các Phật tử cũng tìm thấy sự bình an và tình đồng đạo trong tín ngưỡng thiêng liêng của mình mà dù đi đâu, hoàn cảnh nào người ta cũng cảm nhận được khi quy tụ dưới mái chùa, nghe tiếng đọc kinh và ngửi mùi khói nhang trầm. Ngôi chùa là một nơi tụ họp ấm cúng tình đạo, tình người nếu người ta không để chính trị xen vào quá nhiều đến thành sự chia rẽ, khích bác lẫn nhau.


Ông bà Mậu Trinh – Ninh Thuận và TDBC trước chùa Vạn Hạnh.

Trên đường về, ông bà Trinh đưa chúng tôi đi ăn ở một nhà hàng Pháp la Madeleine – Country French Café. Nhà hàng này có chi nhánh ở nhiều bang và có cách trang trí khá độc đáo với nhà giả cổ kiểu nông thôn, các dụng cụ nhà nông xưa như liềm, cuốc…, các mô hình cối xay, bánh xe bò… gắn lên tường gỗ. Thức ăn phần lớn là món ăn Pháp, cũng có món Mỹ nhưng ít hơn, đặc biệt bánh mì kiểu Pháp với nhiều loại khác nhau ra lò nóng hổi ngay trong nhà hàng. Ngoài món chính phải order, còn lại các món ăn phụ được để dài theo quầy, khách cầm khay tự đi lấy. Xem ra chỗ này cũng khá đông khách.

Một dịp may là chúng tôi đến đây đúng lúc đang có Hội chợ nông nghiệp hàng năm của hạt Montegomery - 61th Montegomery County Agricultural Fair, nơi ông Trinh ở. Ông Trinh đưa chúng tôi đi xem cho biết hoạt động đặc biệt thú vị này. Hội chợ được tổ chức trên một bãi đất trống rộng, kéo dài cả tuần lễ. Từ xa đã thấy các vòng đu quay và dụng cụ phục vụ các trò chơi cảm giác mạnh được dựng lên cao vút in hình trên nền trời. Nhiều gian hàng san sát bán các mặt hàng nông sản và máy móc phục vụ nông nghiệp, các loại trò chơi kiểu ném cổ chai, ném vòng vịt, bắn súng…, các gian hàng ăn uống. Một khu vực riêng triển lãm các loại gia súc như thỏ, heo, bò, cừu… kết hợp với các cuộc thi gia súc đẹp. Chương trình được công bố dày đặc các cuộc thi và biểu diễn văn nghệ. Đây là dịp vui chơi giải trí của dân trong vùng, đặc biệt là trẻ con. Tiếng loa, tiếng nhạc rộn ràng khắp nơi. Chúng tôi cũng đã được xem các cảnh này trong phim nhưng chứng kiến thực tế mới cảm nhận được sự sinh động và không khí vui tươi của ngày hội.


Thi cừu đẹp trong hội chợ.

Buổi tối ngày cuối ở nhà ông Trinh có một buổi ăn uống họp mặt bạn bè. Chủ nhà mời vợ chồng ông Lê Khắc Hiển và vài người bạn khác. Còn có thêm hai người học trò cũ của tôi ở Bảo Lộc ngày xưa hiện ở Massachuset là Khánh và Quảng biết tôi ở đây cũng đến thăm. Đặc biệt có vợ chồng Trần Trung Việt ở Pittsburgh cũng đến để gặp chúng tôi lần nữa. Việt đến trễ và sẽ ở lại ngủ qua đêm. Vợ chồng ông Hiển về muộn hơn các khách khác. Ông Trinh đem máy móc và cây đàn guitar ra đàn hát. Mọi người đã uống rượu khá nhiều, nhất là mấy chai rượu vang “tự chế” nồng độ cao của Việt mang đến nên không khí rất hào hứng.


Trần Trung Việt – Thủy.

Ai cũng hát và Việt đệm đàn. Anh chàng này bề ngoài trông khô khan nhưng rất tài hoa. Lần trước ở nhà Việt tại Pittsburgh chúng tôi đã nghe Việt chơi piano. Lần này Việt chơi guitar rất nhuần nhuyễn, ai hát bài gì cũng đệm được và Việt hát rất hay, hơi dài, giọng khỏe, hát liên miên các bản tình ca. Ông Trinh cũng là một “cây văn nghệ”. Cánh đàn ông hát nhiều và để “cân bằng sinh thái”, các phụ nữ cũng được khuyến khích mỗi người hát một “bài ruột”. Thủy – vợ Việt và bà Tố Anh – vợ ông Hiển có giọng hát khá truyền cảm. Quá nửa đêm chúng tôi mới đi ngủ. Sáng hôm sau, vợ chồng Việt giã từ chúng tôi. Đã hai lần hai người lái xe mấy trăm dặm đến gặp chúng tôi khi chúng tôi sang miền Đông vì biết rằng cơ hội gặp nhau thật hãn hữu. Chúng tôi ôm nhau chia tay theo “kiểu Mỹ”, cảm thấy thực sự lưu luyến.


Ca hát đến quá nửa đêm (từ phải sang Lê Khắc Hiển,
Nguyễn Mậu Trinh, Trần Trung Việt, TDBC).

1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15 
16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27  28  29  30  31

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét