Thứ Năm, 10 tháng 2, 2011

GẶP GỠ TRÊN ĐẤT MỸ (XXVIII)

Tiêu Dao Bảo Cự
Kỳ 28

Mother Cabrini Shrine, đền thờ Mẹ Cabrini, lại mang tính chất khác. Đây là nơi không xa mấy, cũng giữa một vùng đồi núi rộng lớn khoảng khoát của thành phố Golden. Đền thờ nhỏ dưới chân núi, trang nghiêm, tĩnh lặng. Trước bức tượng của Mẹ là các dẫy nến nhiều mầu sắc và các hàng ghế. Đây được coi là đất thánh và nơi cầu nguyện. Phía ngoài, trong một khu vườn rợp bóng cây, có vòi nước thánh chảy từ trên núi xuống mà mọi người có thể uống tại chỗ bằng ly giấy hoặc lấy vào chai mang về. Từ đền dưới chân núi có đường lên đỉnh, trên đó tượng Chúa Jesus đứng trên một đài cao nhìn về thành phố phía xa xa. Đường lên núi được xây thành các bậc cấp, có 373 bậc, dọc ở giữa có thanh chắn phân chia đường lên xuống. Cứ khoảng vài mươi bậc lại có chỗ dừng rộng, với cây bóng mát và các tượng thánh để khách hành hương vừa nghỉ chân vừa cầu nguyện. Cách xây dựng này có thể giúp những người lớn tuổi hay yếu mệt vẫn lên được đến đỉnh. Tôi tuy đau chân nhưng vẫn cố đi lên trên đó để ngắm cảnh. Anh bạn ngồi dưới đợi và lấy giúp BY mấy chai nước thánh. Anh còn mua tặng BY mấy cây nến đặc biệt trong đền thờ. Xem ở đây cũng như sau này thăm Đền thờ Đức Mẹ Lộ Đức ở Virginia hay một vài nhà thờ, tôi ngạc nhiên thấy các công trình của Thiên Chúa giáo vĩ đại, công phu và xây dựng tốn kém hơn rất nhiều so với các nhà thờ Tin Lành dù đa số người dân Mỹ theo Tin Lành. Có phải đây là sự khác biệt, vừa về tinh thần, vừa về thể hiện vật chất cũng như lịch sử giữa hai tôn giáo cùng cội nguồn?


Hoa vàng bên đường dẫn vào Đền thờ Mẹ Cabrini.

Bên trong Đền thờ Mẹ Cabrini.

Một cơ hội đặc biệt cho chúng tôi đi thăm Học Viện Không Lực Hoa Kỳ - United States Air Force Academy (USAF Academy). Vợ anh bạn có một người quen là người Việt, vợ của một ông đại tá Không quân Mỹ làm trong Học Viện này. Ông này trước đây từng chiến đấu ở Việt Nam, hiện đã về hưu nhưng nhà ông ở gần Học Viện và dĩ nhiên ông vẫn có thể ra vào nơi đó dễ dàng. Anh lái xe đưa chị và chúng tôi đến thăm nhà ông bà đại tá này trước. Một ngôi biệt thự rộng lớn ở trên đồi, phía sau là sân golf, không xa lắm phía bên kia con đường là Học Viện. Trong khi cánh đàn ông ngồi ở phòng khách uống rượu nói chuyện thì bà chủ dẫn hai nữ khách đi thăm các phòng trong nhà. BY kể lại là bà chủ này có nguyên một phòng chứa quần áo và vải vóc mà bà tự may lấy một số quần áo theo sở thích, toilet rộng mênh mông có mọi thiết bị và các thứ để làm đẹp trong đó, chẳng hiểu bà có dùng hết được không.


Học viện Không Lực Hoa Kỳ.

USAF Academy là nơi đào tạo phi công cho quân đội Mỹ. Trước khi vào bên trong, ông đại tá đưa chúng tôi đến xem nơi trưng bày chiếc máy bay B 52 ở bên ngoài. Đây là chiếc máy bay thật, đã từng được sử dụng chiến đấu trong chiến tranh Việt Nam, với đặc điểm, tính năng và “thành tích” được ghi cụ thể ở một bức tường trước lối vào. Chiếc máy bay được gọi là “pháo đài bay” này không lớn lắm, đen trùi trũi, đứng trên một bệ cao, mũi hếch lên trời. Giữa những người bạn này và trong dịp thăm viếng này, tôi không muốn suy nghĩ nhiều về những gì chiếc máy bay được coi là “hung thần” này gợi ra trong chiến tranh Việt Nam. Một trang sử đã lật qua khá lâu và bây giờ phải suy nghĩ theo hướng khác.


Trước chiếc máy bay B 52 từng tham chiến ở Việt Nam.

Vào bên trong, chúng tôi được xem phòng truyền thống của sinh viên các khóa, nơi hội họp, biểu diễn văn nghệ. Ngoài hình ảnh, tư liệu về các sinh viên xuất sắc sau này trở thành những sĩ quan tài giỏi, những người lãnh đạo, ngay thành tích của các đội bóng sinh viên sĩ quan, các cúp họ giành được cũng được trưng bày trang trọng. Dĩ nhiên chúng tôi không được vào khu vực huấn luyện, chỉ có thể đứng xa xa nhìn các mô hình máy bay để trên các bãi cỏ, phần nhiều là các loại máy bay nhỏ. Phía sau còn có một nhà thờ dành cho nhân viên, học viên và gia đình. Kiến trúc nhà thờ này độc đáo ở chỗ tất cả có đường nét kỷ hà, với 17 nóc nhọn hình tam giác đâm thẳng lên trời. Nghe nói người ta có thể tiến hành nghi lễ của nhiều tôn giáo khác nhau trong nhà thờ này. Điều này có lý vì chắc chắn nhân viên và học viên theo nhiều tôn giáo khác nhau, mỗi tôn giáo một nhà thờ cũng phiền phức quá.

Nhà thờ “đa năng” với những mảnh ghép hình tam giác đặc biệt của USAF Academy.
Trong những ngày ở đây, anh bạn tổ chức một buổi gặp mặt bạn bè, mục đích gặp gỡ chúng tôi và giới thiệu cuốn sách “Mảnh trời xanh…”. Chúng tôi cùng anh đi siêu thị mua sắm các thứ. Các loại ly, chén đĩa bằng giấy, các loại trái cây, bia. Thức ăn chị đã chuẩn bị nấu hoặc mua sẵn vài món, riêng thịt bò barbecue đến gần giờ ăn anh mới nướng ở sân sau. Ở Mỹ trong những buổi ăn uống nhiều khách, người ta thường dùng ly chén, muỗm nỉa bằng giấy và ni lông, ăn xong bỏ vào thùng rác luôn, đỡ phải rửa, dọn dẹp. Thấy anh hôm ấy phải làm việc hơi nhiều, chúng tôi ái ngại nhưng anh bảo đây là việc của anh, lâu lâu vẫn tổ chức gặp bạn bè như thế. Đặc biệt cảm động là anh chuẩn bị một chỗ trang trọng trong phòng khách để trưng bày 4 cuốn sách của tôi đã xuất bản ở Mỹ. Anh là một trong số ít người sưu tầm đầy đủ sách của tôi mà tôi đã được gặp.

TDBC với 4 tác phẩm xuất bản ở Mỹ do người bạn sưu tầm.

Khách đến cũng khá đông, khoảng hơn hai chục người. Đương nhiên đây là những bạn bè thân hay những người thường giao du với chủ nhà. Phần lớn họ đi cả hai vợ chồng. Chúng tôi được nghe giới thiệu, một vài bác sĩ, các cựu quân nhân và những người viết văn làm báo. Trước khi ăn uống, chủ nhà mời mọi người tập trung ở phòng khách và giới thiệu tôi nói vài lời về cuốn sách mới của tôi. Quả thật tôi cảm động nên tôi chỉ nói rất ít về cuốn sách mà nói về mối quan hệ giữa anh và tôi. Từ chỗ bất đồng quan điểm, tranh luận gay gắt, anh và tôi đã vượt qua dị biệt để đến gần nhau hơn, trong tấm lòng đối với đất nước và số phận con người, bằng sự nhạy cảm và rung động của những người viết văn. Tôi tin rằng với sự đón tiếp này, dù không cần nói ra, anh đã coi tôi là bạn, không phải bạn bè thông thường mà chính là loại bằng hữu người xưa gọi là “mắt xanh tri kỷ”. Tôi cũng mong mọi người sẽ hiểu thêm về tác giả khi đọc sách của tôi. Đáng tiếc tôi chỉ còn 5 cuốn “Mảnh trời xanh…” để mang lên đây nên không đủ cho mọi người muốn đọc.

Trong khi ăn uống, mọi người nói chuyện theo từng nhóm về những đề tài chung chung và những việc diễn ra ở địa phương này. Tôi nghe một số người tỏ thái độ không hài lòng đối với những người đã qua đến đây mà còn giữ lối đối xử cấp trên - cấp dưới như hồi vẫn còn chức quyền trong nước. Họ mỉa mai thái độ này nhưng nói không trực tiếp công kích các đối tượng đó mà chỉ tránh xa. Đây cũng là một “vấn đề” đối với cộng đồng hải ngoại. Chuyện liên quan đến Việt Nam Cộng Hòa, không phải chỉ là thái độ chính trị đối với cộng sản mà còn có những bất đồng nội bộ kéo dài rất lâu như đánh giá đối với chế độ Ngô Đình Diệm, những người lãnh đạo tiếp theo từ sau năm 1963, chính sách của chính phủ Mỹ đối với Việt Nam, vai trò của Phật giáo, về những ngày tàn của chiến cuộc… hay những vấn đề liên quan đến một số cá nhân. Thật rất phức tạp và e rằng những người thuộc “thế hệ chiến tranh Việt Nam” sẽ không bao giờ giải quyết được.

Ở đây chúng tôi còn gặp nhà văn nữ Dương Như Nguyện do ông Nguyễn Mậu Trinh ở Maryland giới thiệu. Hai người này là bà con họ hàng. Chị mời chúng tôi và anh chị bạn đi ăn cơm Việt Nam. Để thuận tiện đi lại, mọi người đồng ý đến nhà hàng hôm trước chúng tôi đã được mời. Món ăn Việt Nam ở đây khá phong phú nên ăn hai lần vẫn còn thấy ngon. Dương Như Nguyện là tác giả của cuốn tiểu thuyết khá nổi tiếng viết bằng tiếng Anh “Daughters of the River Huong”. Qua chuyện trò, chị cho biết chị là luật sư, hoạt động trong giới luật sư Mỹ, là Assistant Professor, Sturm College of Law, University of Denver. Tuy mình không kém gì họ nhưng người Mỹ vẫn có tâm lý kỳ thị, coi thường dân châu Á nên nhiều khi chị cũng phải “đấu đá” với họ ra trò. Rất tiếc chúng tôi không có thì giờ gặp lại để nói chuyện văn chương vì chị quá bận rộn với công việc và chồng chị cũng mới đi công tác nước ngoài về.

Dương Như Nguyện và TDBC.
Chuyến bay từ Denver trở về San Jose của hãng Frontier Airlines là một chuyến bay đặc biệt chúng tôi sẽ còn nhớ lâu hơn mọi chuyến bay khác. Anh bạn chở chúng tôi ra sân bay sớm khoảng hơn 1 giờ để làm thủ tục như mọi lần khác anh vẫn đi. Thế nhưng có vẻ hôm nay hành khách đông khác thường. Trước mắt chúng tôi là một hàng người dài quanh co mấy vòng. Thời gian chờ đợi để vào được chỗ check in đúng 1 giờ. Qua kiểm tra an ninh cũng chờ đợi khá lâu. Chúng tôi rất sốt ruột vì sắp đến giờ bay. Sân bay ở đây lại rộng khủng khiếp. Đây là sân bay mới xây dựng lại sau này, rất hiện đại và diện tích mênh mông, với mái độc đáo như những chiếc dù bằng vải, có thể còn lớn hơn cả sân bay Dulles ở Washington DC. Từ chỗ kiểm tra an ninh đến nơi lên máy bay khách không phải đi bộ hay đi shuttle mà phải đi bằng xe lửa có nhiều toa. Tôi đoán chừng xe này phải chạy một khoảng cách không dưới 1 cây số. Sân bay có 3 khu vực A, B, C lớn, xe đi qua từng khu ngưng lại cho khách lên xuống. Đã thế có một nhầm lẫn tai hại. Anh bạn cẩn thận dặn chúng tôi xuống khu nào nhưng lại nói nhầm. Chúng tôi đi đến khu C, lên cầu thang xem lại vé mới phát hiện đã nhầm. Vậy là phải xuống chờ xe lửa trở lại khu B. Lại lên cầu thang tìm gate ra máy bay. Trời đất, có tới gần 100 gate mà nơi chúng tôi cần đến lại ở cuối đường. Đã sát giờ bay. Chúng tôi vừa đi vừa chạy, hành lang dài hun hút, quanh co. Tôi đau chân kinh khủng nhưng cố rán, vẫn phải thỉnh thoảng dừng lại ngồi xuống nghỉ vì không thể đi được. BY chạy lên trước tìm chỗ. Đến nơi nhìn đồng hồ thấy đúng giờ bay. Khách đã đi vào trong hết. Nhân viên đã đóng cửa. Chúng tôi đập cửa thình thình. Chẳng ai trả lời. Thế là “nhỡ tầu”.

Sân bay hiện đại Denver với “mái lều” độc đáo.
Chúng tôi ngồi nghỉ một lúc rồi hỏi thăm chỗ đổi vé đi chuyến bay tiếp theo. Cũng chờ khá lâu mới gặp được nhân viên phụ trách. Ông ta cho biết phải đến 5 giờ chiều mới có chuyến bay kế tiếp nhưng cũng chỉ có vé chờ chứ không chắc chắn. Bây giờ mới giữa buổi sáng, như vậy phải đợi gần suốt ngày. Cũng chẳng sao vì đợi ở đây cũng thoải mái. Chúng tôi đi mua thức ăn và tìm chỗ ngồi nghỉ. Bất ngờ tôi phát hiện mình không có cái ba lô nhỏ đựng các đồ lặt vặt cần thiết vẫn mang theo người, quan trọng là máy ảnh và các cuốn sổ ghi chú, sổ địa chỉ. Trong lúc vội vàng chạy tới chạy lui, tôi đã bỏ quên đâu đó. Chúng tôi tìm đến phòng Information để báo việc thất lạc hành lý. Họ yêu cầu tôi mô tả hình dáng của chiếc ba lô rồi bảo chúng tôi ngồi đợi, khi nào có tin sẽ thông báo. Trong khi chờ tôi nói với BY ngồi tại chỗ còn tôi sẽ trở lại chuyến xe lửa tìm hú họa, nhân tiện “khám phá sân bay” luôn vì chúng tôi còn rất nhiều thời gian. Vừa xuống cầu thang cuốn thì BY gọi điện nói phòng Information báo đã tìm thấy hành lý thất lạc. Tôi lại đi lên, theo một thang cuốn khác, nhưng lên đến tầng trên lại tìm không ra chỗ BY ngồi đợi. Chỗ nào cũng như chỗ nào. Đi sai hướng là càng đi càng lạc xa. Phải gọi điện thoại liên lạc mãi mới tìm ra chỗ. BY rất bực mình.

Nhân viên phòng Information chỉ chỗ cho chúng tôi đến nhận lại hành lý tại phòng Lost and Found ở khu vực gần cửa ra vào. Vậy là chúng tôi lại phải xuống cầu thang đi xe lửa trở về chỗ cũ lúc mới vào. Đúng là “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”. Nhân viên ở đây cho biết người ta báo đã tìm ra nhưng chưa đưa đến đây, phải chờ, khi nào có anh ta sẽ gọi. Vậy là chờ tiếp. Chúng tôi ngồi ở ghế đợi bên ngoài thỉnh thoảng vào hỏi. Anh chàng này rất niềm nở, lúc nào chúng tôi hỏi anh ta cũng sorry, làm như lỗi của anh ta không bằng. Đến giờ trưa đổi ca, anh ta tử tế gọi chúng tôi giới thiệu với người trực kế tiếp để khỏi trình bày lại rắc rối. Cuối cùng tôi cũng nhận lại hành lý của mình nguyên vẹn. Sau này nghe chuyện, anh bạn chủ nhà của tôi bảo ở Mỹ thất lạc hành lý đừng lo mất. Không ai muốn lấy và cũng không dám lấy vì sợ bị gài bom. Các hành lý thất lạc này phải được cơ quan an ninh kiểm tra nghiêm nhặt xem có nguy hiểm không rồi mới trả lại cho khách. Quả đúng như vậy.

Chỗ phòng Lost and Found này nằm ngoài khu kiểm tra an ninh. Muốn trở lại nơi đợi lên máy bay lại phải qua kiểm tra lần nữa. Cũng hơi phiền toái. Từ sau vụ 11/9, các sân bay kiểm tra rất nghiêm nhặt. BY có mang theo một lọ mỹ phẩm trong xắc, cũng ở khu vực kiểm tra này, lần trước nhân viên cho qua nhưng lần này nhân viên khác giữ lại, bảo là do kích cỡ lớn quá quy định. Thì ra máy móc quy tắc gì cũng do con người quyết định. Đành chịu thôi. Lại đi xe lửa, lên chỗ phòng đợi chuyến bay. Lần này chúng tôi đã rành “đường đi nước bước”. Tôi đã điện thoại báo cho anh bạn biết tình hình. Anh nói nếu cần anh sẽ quay lại đón chúng tôi về nhà nhưng tôi bảo ở đây chờ tốt hơn. Đi về nhà mất quá nhiều thời gian và nếu trễ lần nữa càng quá phiền phức.

Chúng tôi tìm chỗ thay nhau nằm nghỉ cho đỡ mỏi mệt. Có một số người khác chờ lâu cũng tìm chỗ nằm trong các góc khuất. Ở đây sàn có lót thảm sạch sẽ và nằm thế cũng chả ai nói gì. Đến chiều chúng tôi hồi hộp đợi giờ lên máy bay, thỉnh thoảng hỏi cô nhân viên nhưng cô ta bảo phải đợi khách có vé lên máy bay hết, kiểm tra xong mới giải quyết tới vé chờ. Cuối cùng chúng tôi cũng thở phào khi cô nhân viên gọi tên, còn đúng 3 chỗ, cho chúng tôi và một cô gái người Hàn quốc đang đợi. Tôi gọi điện báo và chào tạm biệt anh bạn. Về đến San Jose khi trời tối nhưng không thành vấn đề vì anh chị bạn tôi sẵn sàng đi đón bất cứ giờ nào. Chuyến bay trở về này khá vất vả nhưng cũng nhờ thế chúng tôi có thêm trải nghiệm về việc đi máy bay ở Mỹ và hiểu rõ cơ cấu, hoạt động ở sân bay, lần khác đi chắc chẳng còn gì đáng ngại nữa.

1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15 
16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27  28  29

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét