Thứ Ba, 8 tháng 2, 2011

GẶP GỠ TRÊN ĐẤT MỸ (XXVI)

Tiêu Dao Bảo Cự
Kỳ 26

Một buổi tối, ông Thân Lê mời cả nhóm bạn ở đây và chúng tôi đi ăn nhà hàng. Tôi không biết gì về ông Thân Lê, ông cũng không nói. Cách tiếp đón của ông có một vẻ long trọng đặc biệt. Sau bữa ăn có chiếc bánh tráng miệng lớn với hàng chữ “Welcome BC&BY to Seattle”. Đây là một nhà hàng thuộc loại lớn nhất do người Việt làm chủ mà chúng tôi từng thấy ở Mỹ. Nhà hàng có hai phòng ăn, phòng nhỏ cho khách lẻ thông thường và một phòng rất lớn có thể tổ chức đám cưới hay tiếp vài trăm khách, có sân khấu biểu diễn ca nhạc vào cuối tuần và nơi khiêu vũ. Thực khách ở đây, phần lớn là người Việt, các ông ăn mặc sang trọng, các bà các cô phấn son lộng lẫy. Họ đi theo từng nhóm khá đông chiếm một hay hai bàn. Họ giới thiệu hay nói chuyện với nhau, nhắc đến những chức vụ cũ thời Việt Nam Cộng Hòa có vẻ hãnh diện. Trong khi ăn, khách được nghe ca nhạc do nghệ sĩ chuyên nghiệp biểu diễn. Ăn xong, nhiều người kéo nhau ra sàn nhảy, có người nhảy rất điệu nghệ. Không khí ở đây khác hẳn những buổi nói chuyện chính trị đầy lo lắng băn khoăn mà chúng tôi đã tham dự ở các nơi khác. Dĩ nhiên vì đây là nhà hàng ăn nhưng trong không khí đó, tôi cảm nhận với cuộc sống này, người ta cũng có thể chẳng cần quan tâm gì đến đất nước, cố hương nếu quê hương không có tự do dân chủ và không dành cho người ta một lối về và sự đón tiếp thân thương.



Chào mừng khách đến Seattle.


Ông Thân Lê và BY.


Một nhà hàng có ca nhạc và khiêu vũ ở Seattle.

Mấy ngày ở đây tôi lại có dịp gặp lại thầy trò cũ Ban Mê Thuột. Cũng hay vì thầy là đồng nghiệp, vợ là học trò cũ. Anh Nguyễn Văn Phúc dạy cùng trường với tôi mấy năm, sau đó chuyển đi làm hiệu trưởng một trường khác. Sau 75 anh phải đi cải tạo khá lâu vì là đảng viên đảng Dân Chủ (thời đó gần như bắt buộc theo kiểu “đánh trống ghi tên”) và đặc biệt trong trường có mấy giáo sư là sĩ quan biệt phái. Chuyện giáo sư phải đi học quân sự 9 tuần hoặc 9 tháng tùy theo thời điểm và tình hình chiến cuộc, rồi biệt phái về trường dạy lại bị “chính quyền cách mạng” coi là tình báo, CIA… Nếu hiệu trưởng không phải là ác ôn làm sao có những người này dưới sự điều hành của mình?! Vậy là cải tạo “mút mùa”. Ấy thế nhưng lại có cái may là khi qua đây, đã lớn tuổi, anh được hưởng trợ cấp và sau đó là tiền già nên hầu như không phải đi làm việc gì cả, chỉ lái xe đưa đón vợ. Ngọc Hà, vợ anh Phúc, em của Bích Thủy ở San Jose, là học trò ban C văn chương của tôi. Hồi trước tôi khá thân với hai chị em cũng như các học sinh khác của lớp “cưng” này. Bây giờ hai người cũng đã trở thành ông bà nội ngoại. Nhà của hai người có phòng và vườn chơi cho các cháu đúng kiểu Mỹ vì Ngọc Hà là giáo viên dạy mẫu giáo. Họ mời chúng tôi đi ăn ở một tiệm ăn tàu trong khu China town khá lớn. Khách hàng rất đông đến nỗi khách phải xếp hàng chờ khá lâu mới có chỗ. Chúng tôi lại nói chuyện xưa, đặc biệt anh Phúc kể cho tôi nghe những chuyện về đồng nghiệp cũ ngày ấy và bây giờ mà tôi không được biết vì tôi chỉ dạy ở đó 3 năm rồi chuyển đi nơi khác, sau này cũng ít liên lạc.


Với đồng nghiệp và học trò cũ (phía trước từ trái qua Nguyễn Văn Phúc, Ngọc Hà).

Ở Seattle, chúng tôi còn có niềm vui lớn là được gặp các bạn ở Canada sang thăm. Trước khi đến đây, tôi đã báo cho họ biết và cũng muốn sang Canada thăm họ vì từ đây sang Vancouver rất gần. Tuy nhiên thủ tục xin visa nhập cảnh vào Canada rắc rối, không phải dễ dàng như trước, hầu như không thể được. Thế là tôi đề nghị họ sang đây gặp nhau. Nguyễn Đức Tùng, Đỗ Quyên và một người bạn cũ của tôi từ thời ở Huế rủ nhau cùng đi.

Nguyễn Đức Tùng là bác sĩ nhưng lại nổi tiếng với loạt bài phỏng vấn “Thơ đến từ đâu” đăng trên trang web talawas. Có lần Tùng gởi mail đề nghị phỏng vấn tôi cho loạt bài này nhưng tôi từ chối vì vốn “ngoại đạo” về thơ. Qua liên lạc tôi biết Tùng là học trò cũ của một người bạn thân của tôi, anh Đỗ Tư Nhơn, dạy học ở trường Nguyễn Hoàng, Quảng Trị. Bạn tôi cho biết thời đi học Tùng rất mê và giỏi văn chương, được thầy luôn khen ngợi và đoạt nhiều giải thưởng về văn của trường. Bây giờ trò giỏi hơn thầy cũng là điều đáng vui, “con hơn cha, nhà có phúc”. Tùng và tôi liên lạc qua mail khá thường xuyên và đồng cảm trong nhiều vấn đề.

Đỗ Quyên tôi không quen, là bạn thân của Tùng. Quyên là nghiên cứu sinh ra đi từ miền bắc, học ở một nước Đông Âu, bây giờ định cư ở Canada, cũng làm thơ, viết văn và đặc biệt hay “bình thơ” như Nguyễn Đức Tùng. Tôi đã xem một vài bài loại này của họ và thán phục. Một bài thơ chỉ có vài câu nhưng họ có thể “bình” ra vài trang và thường viết về “văn chương hậu hiện đại”.

Người bạn cũ của tôi ngày xưa học y khoa. Anh là thành viên hoạt động tích cực của Tổng Hội Sinh Viên Huế sau khi tôi đã ra trường. Anh đã từng về nước mấy lần và gặp chúng tôi ở Đà Lạt hay Sài Gòn.

Ba người, cùng với Lena Sương, bà xã của Tùng lái xe đi về Vancouver – Seattle mất gần 10 giờ do phải chờ đợi làm thủ tục ở hải quan biên giới khá lâu và chỉ gặp chúng tôi khoảng hai giờ, vì họ phải về lại trong ngày để đón một người bạn cũng từ Việt Nam (nhà văn Tô Nhuận Vỹ) sang thăm. Thật là vất vả nhưng mọi người đều rất vui. Các bạn ở đây tổ chức đón các bạn từ Canada sang tại nhà một người bạn của ông Định, một người thích thơ và có làm thơ, lại còn thêm hai nhà thơ ở địa phương cũng đến tham dự. Mọi người ăn, uống rượu, đọc thơ và ca hát. Đặc biệt ông Định có giọng đọc thơ đầy xúc cảm và bà chủ nhà có tiếng hát điêu luyện như ca sĩ.


Với một số bạn ở Canada sang (từ phải qua Đỗ Quyên, Lena Sương, Nguyễn Đức Tùng).

Người bạn cũ linh hoạt của tôi ngày xưa bây giờ chậm rãi, đạo mạo. Nguyễn Đức Tùng cao lớn, mang kính trắng, có vẻ rất “bác sĩ”. Đỗ Quyên thấp người nhưng lại có bộ râu quai nón oai phong, nói năng nhanh nhẩu và giọng “đặc Bắc kỳ”. Lena Sương thon thả, xinh như người mẫu. Mọi người chụp hình kỷ niệm trước khi chia tay. Chúng tôi thật sự cảm động về chân tình của các bạn. Dù mới quen hay quen đã lâu, hay chỉ biết nhau qua mạng, đã có một sự đồng cảm nào đó trong tình người, tình yêu văn chương và tình cảm bè bạn vô tư trong sáng, làm cho người ta cảm thấy gần gũi và ấm áp. Riêng ông Trần Thế Khiêm tuy ở xa, bang Oklahoma, không đến gặp được nhưng thỉnh thoảng cũng gọi điện thoại thăm hỏi, kể cả khi chúng đã về lại Milpitas.

Hôm chia tay, ông Thân Lê lại hẹn một số người cùng chúng tôi ăn sáng ở một nhà hàng Mỹ. Đồ ăn Mỹ gọi món gì cũng quá nhiều so với sức chứa bao tử của chúng tôi. Một cô phục vụ người Mỹ rất xinh và có giọng nói dịu dàng, ai cũng lên tiếng khen làm cô cười vui vẻ. Sau đó hai ông Hồ Đăng ĐịnhTuấn Vũ đưa chúng tôi ra sân bay Seattle – Tacoma International Airport, trò chuyện mãi không dứt. Chuyến bay của hãng Alaska đưa chúng tôi về lại San Rose chỉ mất có 2 giờ.


Trước giờ chia tay Seattle (từ trái sang TV, BY, Chị Oanh, Liên Bình Định, TDBC, Hồ Đăng Định).


1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15 
16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét