Thứ Năm, 17 tháng 2, 2011

GẶP GỠ TRÊN ĐẤT MỸ (XXXIV)

Tiêu Dao Bảo Cự
Kỳ 34

8. Minnesota
Chúng tôi đến Minnesota theo lời mời của anh Bảo Trâm. Trâm là anh họ, cũng suýt soát tuổi tôi. Thuở nhỏ chúng tôi có thời gian sống gần nhau ở Huế nhưng lớn lên mỗi người đi mỗi nơi, tôi không biết nhiều tin tức về anh. Chỉ biết anh là sĩ quan Quân đội Việt Nam Cộng Hòa, cấp bậc không cao lắm, hình như chỉ là trung úy. Sau 1975, anh phải đi “cải tạo” tới 13 năm, về Sài Gòn một thời gian rồi qua Mỹ theo diện HO.

Sau này tôi biết thêm anh là sĩ quan an ninh quân đội, thuộc một đơn vị đặc biệt chuyên thu thập tin tình báo của Việt Cộng. Đơn vị này có phiên hiệu riêng mà ngay nhiều sĩ quan cao cấp của các quân, binh chủng cũng không biết. Từ khi qua Mỹ, anh và tôi có trao đổi thư từ, ban đầu khá gay gắt vì quan điểm khác nhau nhưng dần dà, qua những bài viết trên mạng và qua trao đổi email nhiều (từ khi có Internet), anh và tôi dần hiểu nhau hơn, không còn căng thẳng như trước và trở lại tình cảm anh em như ngày còn nhỏ.

Sau vài năm, tôi thấy tư tưởng của anh Trâm trở nên “đằm” hơn. Anh suy tư nhiều hơn về cuộc chiến, nhìn nhận vấn đề không còn một chiều mà nhiều chiều, nhất là khi đọc được các tài liệu của Mỹ về chiến tranh Việt Nam đã được giải mật. Có lần anh tự hỏi, trong cuộc chiến, nếu Việt Nam Cộng Hòa thắng, người Miền Nam sẽ đối xử với người Miền Bắc bại trận như thế nào và anh không chắc chắn được câu trả lời cho riêng anh cũng như cho nhiều người khác. Anh thấy cần thiết phải giải thể chế độ độc tài và cũng cần có sự đoàn kết, đồng thuận dân tộc. Nhiều vấn nạn hiện nay vẫn chưa có lời giải đáp đã làm anh băn khoăn không ít, như nhiều người khác vẫn quan tâm đến số phận đất nước.

Cùng đi đón chúng tôi với anh Trâm có anh Cao Bính. Bính là cựu giáo sư trung học Ban Mê Thuột và tôi cùng dạy với anh ở đây một năm, sau đó tôi đổi đi nơi khác. Anh Trâm đã cho biết, qua đây hai người tình cờ lại là sui gia. Vậy là chúng tôi gặp thêm người quen. Chuyến bay của hãng Northwest Airlines đưa chúng tôi đến phi trường Minneapolis/St. Paul Airport, viết tắt là MSP Air Port. Có cái tên dài dòng này vì đây là tên của hai thành phố được gọi là Twin Cities, thành phố sinh đôi. Anh Trâm giải thích nguyên thành phố St. Paul có trước, Minneapolis mới xây dựng sau nhưng lại có sân bay. Ban đầu sân bay được gọi tên là Minneapolis nhưng St. Paul không chịu, nói như thế là thiệt thòi cho mình, phản đối việc đặt tên đó nên cuối cùng chính quyền cho lấy một tên chung, gọi hai thành phố là Twin Citites, khỏi kiện cáo nhau lôi thôi, dù hai thành phố này có sắc thái khác nhau, một cổ kính, một hiện đại. Hóa ra Mỹ cũng thích “dĩ hòa vi quý”.

Anh Trâm đưa chúng tôi đến nhà anh Cao Bính ở St. Paul, chỉ cách phi trường khoảng 20 phút lái xe. Mọi người ăn bún với gia đình anh Bính xong anh Trâm chở chúng tôi về nhà anh ở thành phố Blaine khá xa. Vợ anh Trâm đã mất, anh ở với vợ chồng con trai đầu, có một cháu nhỏ. Ngày hôm sau anh Trâm mời đi ăn ở một nhà hàng Việt Nam, có đủ con, dâu và gia đình anh Bính để giới thiệu chúng tôi.

Chúng tôi đề nghị anh Trâm đưa đi thăm mộ chị Tâm, vợ anh, người chúng tôi đã gặp mấy năm trước lúc anh chị về Việt Nam. Cuộc tình của anh chị là một chương có kết thúc buồn trong đại tác phẩm bi kịch của Việt Nam trong và sau chiến tranh. Hai anh chị yêu nhau nhưng vì khác tôn giáo, quan niệm gia đình hai bên khá bảo thủ nên mãi mới lấy được nhau sau khi đã vượt qua nhiều trở lực. Chưa được hạnh phúc bao lâu thì năm 1975 đến, anh vào tù “cải tạo” để người vợ trẻ phải bươn chải kiếm sống, nuôi con, thăm nuôi chồng trong một thời khoảng khó khăn gian khổ trăm bề suốt 13 năm. Khi qua được Mỹ, hai anh chị đều đã lớn tuổi, nặng gánh gia đình, không thể học hành thêm, chỉ nai lưng đi làm, với những công việc chân tay. Điều an ủi là hai vợ chồng được làm chung một xưởng, cùng một dây chuyền sản xuất, chồng đứng trước vợ đứng sau liền kề. Như thể để bù đắp những tháng ngày xa cách. Nhưng rồi chị bỗng dưng mắc một căn bệnh quái ác, đột ngột qua đời. Anh không thể chịu được cú sốc này, chỉ muốn tự vẫn. Anh cắt đứt mọi liên lạc với bà con bạn bè, ngày ngày ra ngồi bên mộ chị, chỉ sống dật dờ với niềm thương nhớ và nỗi đau của mình. Hơn một năm sau anh mới dần dần hồi phục cuộc sống bình thường, tạm vui với con cháu. May mà các con anh chị đã trưởng thành, lập gia đình và có thể sống được trên xứ người.

Anh đưa chúng tôi đến nghĩa trang Resurrection Cemetery, một nghĩa trang Thiên Chúa giáo, nơi an táng chị. Minnesota nổi tiếng là xứ giá lạnh bậc nhất nước Mỹ, nhất là vào mùa đông nhưng hôm nay trời mới bắt đầu vào thu, có nắng ấm. Nghĩa trang rộng mênh mông như một thành phố nhỏ với đường xe hơi chạy ngang dọc, có đường còn được ghi tên hẳn hoi. Nghĩa trang chia làm nhiều khu, tất cả đều trồng cỏ dưới những hàng phong rợp bóng, như trong các công viên. Chỉ khác ở đây không có những bàn ghế dã chiến cho người đi picnic mà là những hàng mộ đơn sơ trên thảm cỏ. Nghĩa trang Mỹ ít có những ngôi mộ to lớn, “hoành tráng”, xây dựng cầu kỳ, tốn kém. Phần lớn chỉ là một bia mộ nhỏ, đứng hoặc nằm, in ảnh, ghi những chi tiết về người đã mất và câu tiếc thương hay ngợi ca của người lập mộ, kể cả mộ của tổng thống mà chúng tôi đã từng thấy. Tất cả đều bình đẳng dưới ba tấc đất chứ ít có chuyện phân biệt giàu nghèo, sang hèn thể hiện qua mộ phần. Trên các con đường chạy qua nghĩa trang, lác đác vài cây phong có lá đổi màu vàng, đỏ từng phần, chưa rộ lên sắc màu rực rỡ. Một cô gái nằm đơn độc trên bãi cỏ cạnh một ngôi mộ, chắc là đang tiếc thương người yêu vắn số, tạo nên một hình ảnh u buồn nhưng lãng mạn.


 Trong nghĩa trang Resurrection Cemetery.

Chúng tôi đến trước mộ của chị Tâm, thắp nhang và cắm hoa mà chúng tôi đã chuẩn bị mang theo. Trên bia mộ có hình ảnh của hai anh chị và ghi ngày cưới, phía dưới có hai hàng chữ. Bên trái là ngày sinh ngày mất của chị, bên phải ghi ngày sinh của anh, ngày mất dĩ nhiên còn để trống. Dưới nữa là hai chữ Together Forever. Anh đã dành sẵn chỗ nằm bên cạnh chị. Con người này thật quá chung thủy. Anh kể sau khi chị mất ít lâu, anh đã bán căn nhà hai người đã ở để về sống chung với con vì không chịu được sự đau đớn trong căn nhà chỉ còn một mình hiu quạnh thiếu bóng chị. Anh cũng không dám lái xe đi ngang ngôi nhà cũ vì mỗi lần qua là rơi nước mắt. Cũng như bây giờ anh kể chuyện cho chúng tôi nghe mà nước mắt lưng tròng, giọng nghẹn ngào làm chúng tôi cũng ứa nước mắt.

Anh Trâm và BY bên mộ chị Tâm.

Đối với chị, nỗi nhung nhớ không nguôi trong anh chưa bao giờ tắt, dù có nghĩ tới phận người mong manh, dù có nghĩ tới việc ra đi của một người ra khỏi trần gian này cũng chỉ là một bước vượt qua giai đoạn khác. Hình ảnh chị vẫn cứ đó, chập chờn trong giấc ngủ. Nhớ tới những kỷ niệm vẫn nhói đau tận tâm can… Thời gian 13 năm trong tù, anh thường mộng thấy dắt tay chị đi đây đó, nhưng một hồi là lạc nhau, nhưng sau khi hoảng loạn đi tìm nhau thì vẫn tìm ra nhau được. Nhưng nay cũng những giấc mộng y như vậy, nhưng cứ mỗi lần lạc nhau. Anh tìm cách nào cũng không tìm ra chị…và tỉnh dậy trong bàng hoàng, đau đớn..

Hôm sau, anh Trâm và vợ chồng anh Cao Bính đưa chúng tôi đi thăm thành phố du lịch Duluth, nằm cạnh bên một trong Ngũ đại hồ của nước Mỹ. Đường đi khá xa và không được êm lắm như ở miền tây hay miền đông nước Mỹ. Lý do vì vùng này giá lạnh, mùa đông có thể làm nứt đường nên người ta làm đường theo kiểu đúc từng miếng bê tông ghép kế tiếp nhau chứ không đúc liền hay trải nhựa như các nơi khác. Về sau này, nhờ công nghệ mới, người ta cũng làm được những con đường tráng nhựa láng nhưng số đường cũ vẫn còn. Chúng tôi dừng nghỉ ở một rest area, cây cối xanh tươi. Ngoài nhà vệ sinh và bàn ghế cho khách ngồi nghỉ, bên cạnh còn có một lối đi nhỏ chạy vào rừng có cắm tấm bảng ghi Pet exercise area và vẽ hình một người đang dắt con chó. Mỹ thật quá chu đáo, lo cho chó không kém gì người.


Cao Bính, TDBC, Bảo Trâm (từ trái qua) trước hồ Superior.

Hồ Superior nằm ven thành phố Duluth là hồ lớn nhất trong Ngũ đại hồ, giáp giới với Canada. Mới nhìn phải nghĩ đây là biển chứ không phải hồ vì mặt nước mênh mông không thấy bờ bên kia nhưng lại lặng sóng, xa xa vài chiếc tàu du lịch bập bềnh. Có đường xe hơi chạy sát bờ hồ để khách có thể lái xe xuống tận nơi. Dọc bờ hồ có nhiều cây lớn mát mẻ và người ta cũng làm những căn nhà có mái che, bên trong có bàn ghế, lò nướng cho khách ngồi ăn uống. Sát mép nước có đá sỏi nhỏ trải thành bãi dài, nghe nói hình như được mang từ nơi khác đến, thật quá công phu. Vợ chồng anh Bính chuẩn bị sẵn thức ăn mang theo và mọi người bầy ra ăn uống trò chuyện ngắm hồ.


Một rest area trên đường đi thành phố Duluth.

Trước đây tôi chưa biết nhiều về anh chị Bính. Qua cuộc trò chuyện tôi hiểu thêm về hai người. Bính học Đại học Sư Phạm Huế, ra trường sau tôi hai năm. Anh đi dạy mới được một năm thì bị động viên, ở trong quân đội hai năm rồi được biệt phái về dạy học lại trường cũ. Chính vì chuyện này, sau 75 anh phải đi cải tạo đến 6 năm. Theo anh nói, đúng ra anh chỉ đi 1 năm thôi nhưng vì tính ngang ngạnh, cứng đầu nên bị kéo dài thêm thời gian. Khi kiểm điểm, người ta yêu cầu phải an tâm tư tưởng, anh trả lời tôi không an tâm, an tâm sao được khi con không được đi học, vợ bị cán bộ tán tỉnh. Người ta nói không thả anh ra sớm vì thả ra thế nào anh cũng vượt biên. Anh trả lời đúng, ra ngoài trước sau tôi cũng sẽ vượt biên khi không sống nổi. Sau khi được thả, anh làm đủ mọi nghề, kể cả thợ mộc, kéo xe ba gác và buôn lậu, trăm đường khổ cực. Ấy thế nhưng trong cái rủi lại có cái may vì tuy là giáo sư, anh phải đi cải tạo đến 6 năm nên sau đó đủ điều kiện đi Mỹ theo diện HO.

Chị Bính ôn lại thời kỳ khó khăn một cách hài hước. Chị kể sau khi chồng bị đi cải tạo chị chỉ còn cách đi buôn lậu để nuôi con, như nhiều người khác, dù công việc rất bấp bênh và nguy hiểm. Vì thời kỳ đó nhà nước độc quyền quản lý mọi sản phẩm, ngăn sông cấm chợ, nên người ta buôn được cái gì thì buôn, như trà, café, vải vóc, thuốc tây… Chị thường bị một cán bộ quản lý thị trường bắt. Ức quá nên có hôm chị nói với anh ta trước mặt mọi người: Sao anh cứ cố tình bắt tôi hoài vậy. Bộ anh thương tôi hả. Anh thương tôi thì lấy tôi luôn đi, tôi có chỗ dựa để nuôi con. Anh dám không? … Bây giờ mọi chuyện đã là quá khứ xa vời như cơn ác mộng. Các con đã trưởng thành, anh chị vẫn còn đi làm việc, cũng hơi vất vả nhưng cảm nhận sâu xa hạnh phúc và tự do trong cuộc sống dù ở trên xứ người. Có lẽ vì muốn chia sẻ vị ngọt ngào của cuộc sống mới với chúng tôi, những người mà chị biết cũng nếm trải không ít đắng cay, chị đã mua tặng BY rất nhiều chocolate, loại nhãn hiệu mà tình cờ hai người cùng thích.


Chị Bính và BY trên thảm hoa vàng bên đường.

Chúng tôi đi dọc theo bờ hồ chụp hình. Đây đó có những bãi đá lớn gập ghềnh. Một đài tưởng niệm cựu chiến binh chiến đấu ở Việt Nam của miền bắc – Northland Vietnam Veterans Memorial – được xây dựng bên hồ từ năm 1992, trông đơn sơ, thanh nhã nhưng u buồn. Hầu như khắp nước Mỹ đều có người bỏ mình trong cuộc chiến Việt Nam. Món nợ gì đây giữa hai dân tộc cách nhau nửa vòng trái đất và một đại dương gọi là Thái Bình?


TDBC trước Đài tưởng niệm cựu chiến binh Mỹ ở Việt Nam của miền bắc.

Dọc theo bờ hồ Superior phía trên có rất nhiều khách sạn, khu nghỉ dưỡng đông khách đi lại. Trên đường chạy qua thành phố song song với bờ hồ có một chiếc cầu đặc biệt. Cầu nhỏ, không dài lắm nhưng độc đáo ở chỗ vài cầu bằng sắt với 5, 6 tầng độ cao khác nhau, sơn mầu xám bạc. Cũng là một kiểu thẩm mỹ, tuy trông khá nặng nề.


Chiếc cầu độc đáo nhưng quá nặng nề.

Trên đường về, trên đường cao tốc, chúng tôi may mắn bắt gặp mùa thu đến sớm. Trong cánh rừng ven đường, mấy cây phong đột ngột chuyển màu. BY thích quá đề nghị ngừng xe vào chụp hình. Chỉ có vài cây nhưng sắc màu thật rực rỡ. Vàng sáng lung linh. Nâu vẫn ngời ngợi. Và đỏ nồng nàn. Chỉ có mấy cây đổi sắc bùng lên giữa bạt ngàn rừng phong vẫn còn xanh thẳm. Đây là chút may mắn của chúng tôi. Chúng tôi đến Mỹ đầu mùa xuân nên chỉ nhìn thấy một ít tuyết còn trên các đỉnh núi cao ở Lake Tahoe và Yosemite, rời nước Mỹ đầu mùa thu và nhìn thấy được ở đây vài cây phong đổi màu trọn cây. Đành vậy thôi. Dĩ nhiên chúng tôi đã xem hình ảnh về tuyết và lá mùa thu ở khắp nơi trên mạng nhưng bốc một nắm tuyết, hái một lá phong vàng lại là cảm nhận hoàn toàn khác. Đó là cái chạm tay vào nét đẹp tuyệt vời của thiên nhiên ở những vùng xa ngát nơi ta chỉ có thể đến trong chuyến đi mộng tưởng.


Sắc thu đến sớm ở bang Minnesota.

1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15 
16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27  28  29  30  31  32  33  34  35

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét