Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2011

GẶP GỠ TRÊN ĐẤT MỸ (XXIV)

Tiêu Dao Bảo Cự

Kỳ 24


Về Nam Cali lần này, chúng tôi cũng liên lạc để gặp gỡ những người quen cũ ở Bảo Lộc và Ban Mê Thuột là hai nơi tôi đã dạy học trong 8 năm trước 1975.

Minh Tâm, trước dạy cùng trường với tôi ở Bảo Lộc, có lần về Việt Nam đã đến thăm chúng tôi. Cô tuy chỉ làm việc ở nhà nhưng vẫn thường theo dõi tin tức trong nước qua Internet. Cô bảo về nước, nói chuyện với những người quen biết cũ, hầu hết họ chẳng biết gì về những việc đang xảy ra trong nước thường làm xôn xao cộng đồng ở hải ngoại, nhất là việc những người đấu tranh dân chủ bị đàn áp. Cô muốn đưa chúng tôi đi chơi nhưng không lái xe xa được nên đã nhờ cô em gái lái xe, đến nhà đón chúng tôi đi. Cô đưa chúng tôi đi thăm Richard Nixon Library and Birthplace Foundation, ở thành phố Yorba Linda.


Chị em cô Minh Tâm và BY trong phòng tượng
các nhà lãnh đạo thế giới thời Tổng thống Nixon.

Đường đi khá xa. Đây là nhà bảo tàng được xây dựng bên cạnh ngôi nhà của gia đình Nixon, nơi ông sống thời thơ ấu. Nixon là tổng thống Mỹ thứ 37, xuất thân từ bang California. Bảo tàng trưng bày trong nhiều phòng, theo thứ tự thời gian như một chuyện kể, các hình ảnh, tư liệu về cuộc đời Nixon qua các giai đoạn, không quên vụ tai tiếng Watergate với hình ảnh những người, nơi chốn và sự việc liên quan. Đặc biệt có một bức tranh thêu lớn hình Nixon ngồi hội đàm với Mao Trạch Đông và tủ trưng bày áo tù của những tù binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, áo màu trắng hoặc sọc đỏ có thắt bâu phía trước thay vì nút. Một phòng có tượng một số nhà lãnh đạo quốc gia trên thế giới cùng thời kỳ với Nixon, tượng lớn bằng người thật, trong tư thế đứng hoặc ngồi trò chuyện trông rất sinh động. Ngôi nhà của gia đình Nixon chỉ là một ngôi nhà gỗ nhỏ đơn sơ, còn giữ nguyên các đồ dùng sinh hoạt ngày xưa được bảo quản cẩn thận, có người thuyết minh cho khách đến thăm. Bãi cỏ trước nhà có mộ Nixon bên cạnh mộ của đệ nhất phu nhân Pat Nixon. Mộ của Nixon chỉ có một bia đá đen nhỏ ghi tên họ, năm sinh năm mất và một câu vinh danh ông như một “peacemaker”. Đối diện với bảo tàng, qua một vườn hoa, là tòa nhà lớn dùng làm thư viện, nơi lưu trữ các hồ sơ, tư liệu liên quan đến thời gian ông làm tổng thống. Tòa nhà này có dành một phòng lớn làm nơi tổ chức các sự kiện, kể cả cho thuê tổ chức đám cưới. Bên ngoài còn có chiếc máy bay trực thăng “Sea King” chuyên phục vụ các tổng thống được trưng bày. Bảo tàng cũng có chỗ bán quà lưu niệm và cô Tâm đã mua tặng chúng tôi mấy chiếc cốc và móc khóa có ghi tên của bảo tàng.


Ngôi mộ đơn sơ của Tổng thống Nixon và phu nhân trong vườn nhà.

Hôm sau, anh Hòa đưa chúng tôi đến thăm và ăn cơm tối ở nhà ông bà Nguyễn Tự Hào. Ông Hào là bác sĩ ở Việt Nam, qua đây đi học lại và tiếp tục hành nghề bác sĩ. Hiện ông là thanh tra của hệ thống y tế Mỹ vùng Nam Cali. Bà Khanh, vợ ông Hào trước cũng làm trong ngành y. Nhà ông bà ở trên đồi một thành phố có tên hơi lạ là Diamond Bar. Ông bà Hào không tham gia hoạt động chính trị nhưng cũng rất quan tâm theo dõi tình hình trong nước và có cảm tình với chúng tôi, vừa là người quen biết cũ vừa là người bất đồng chính kiến bị trù dập trong nước. Dù khi ra về đã khá khuya, nhưng cô Minh Tâm nhà ở gần đó cũng gọi điện đề nghị chúng tôi ghé lại nhà cô. Cô muốn tặng tôi một hộp thuốc bổ để giúp chữa cột sống. Hộp thuốc khổng lồ nặng trịch uống mỗi ngày hai viên phải mất nửa năm mới hết. Hình như ở Mỹ ai cũng uống thuốc, các loại thực phẩm bổ sung, nhất là người lớn tuổi. Tôi hơi “ngán” khi cầm hộp thuốc. Đi đâu các bạn cũng tặng thuốc bổ, khi về chắc chúng tôi phải mang đầy một va li. Chẳng hiểu tôi có đủ can đảm uống hết để khỏi phụ lòng các bạn không. Tôi vốn rất sợ uống thuốc và chẳng bao giờ đi kiểm tra sức khỏe, chẳng hề biết huyết áp của mình bao nhiêu.

Riêng BY còn có niềm vui gặp lại một người bạn cũ, cô Loan. Trước đây hai người ở Sài Gòn cùng dạy Jardin d’enfant của Caritas ở đường Đoàn Thị Điểm. Đây là tổ chức giáo dục của dòng Nữ Tu Bác Ái Vincent de Paul. Hồi đó BY vừa đi làm vừa học đại học Vạn Hạnh. Hai người rủ nhau đi thăm cô giáo Audrey, nay đã rất già nhưng qua đây vẫn còn tiếp tục làm công tác thiện nguyện.

Đồng nghiệp và học sinh cũ của tôi ở Trung học Ban Mê Thuột ngày xưa nay ở rải rác nhiều tiểu bang trên đất Mỹ. Trung học Ban Mê Thuột là nơi tôi dạy học trong 3 năm đầu khi mới ra trường, từ 1967 -1970. Học sinh cũ của tôi đến nay phần nhiều lớn tuổi, một số đã thành ông bà nội ngoại, có người hơn tôi đến 4 tuổi, do hoàn cảnh đặc biệt phải đi học trễ (dĩ nhiên lúc đó phải làm giấy khai sinh giả sụt tuổi). Đến Nam Cali này tôi có hai lần gặp lại học sinh cũ.

Hai cô học trò ban C, lớp văn chương đầu tiên do tôi thành lập ở trường Trung học Ban Mê Thuột, hẹn đưa chúng tôi đi ăn. Bùi Thanh Hải, đã từng tốt nghiệp cử nhân văn chương ở Đà Lạt, bây giờ ở nhà giữ cháu. Cô đặc biệt “hận đàn ông” nên ngoài nói chuyện thầy trò cũ ra, cô toàn lên án “bọn đàn ông xấu xa tệ bạc”. Dĩ nhiên là cô không hàm ý bao gồm tôi trong đó nhưng nói cho chúng tôi nghe hình như cô cũng “hả dạ” phần nào, nên tôi sẵn lòng “hùa” theo cô. Diệp Thanh Hương chân thành kể chuyện đời riêng. Cô đang làm chân chia bài ở Las Vegas. Cô bảo làm việc hơn mười năm mới được chuyển từ ca ban đêm sang ca ban ngày. Việc làm rất căng thẳng và ngủ được rất ít vì không quen ngủ ngày. Cô có chồng người Mỹ, cũng làm việc ở đó nhưng công việc khác, giờ giấc trái nhau nên vợ chồng ở cùng nhà mà ít khi gặp nhau, chồng ngủ vợ đi làm và ngược lại. Las Vegas là thiên đường ăn chơi nhưng không phải cho tất cả mọi người, ngay cả đối với những người làm việc ở đó. Cuộc sống vốn là như thế và cái gì cũng có mặt trái.


Diệp Thanh Hương (trái) và Bùi Thanh Hải (phải), hai cô học trò và thầy giáo cũ
lớp C văn chương trên xứ sở “Buồn muôn thuở” hơn 40 năm trước.

Buổi gặp thứ hai do Trần Thanh Xuân hẹn, cũng ở một tiệm ăn trong khu Bolsa. Thanh Xuân là đương kim Hội trưởng “tuổi trẻ tài cao” của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Ban Mê Thuột ở Mỹ, biệt danh Cô Bé Lọ Lem. Cô này không học tôi vì lúc đó cô còn quá bé, tôi chỉ dạy các anh chị của cô. Tuy nhiên trong mấy năm gần đây cô và tôi liên lạc email qua lại nhiều, ngoài chuyện Hội ra, cô còn chia sẻ chuyện riêng tư và trao đổi về cuộc sống ở Mỹ nên có thể nói chúng tôi khá thân. Cô đã từng giúp phát hành một số lượng khá lớn cuốn sách “Mảnh trời xanh…” của tôi trong giới thầy trò Ban Mê Thuột. Cô có nụ cười răng khểnh rất xinh, lấy chồng Mỹ, đã ly hôn, đang nuôi hai cậu con trai mới lớn một trăm phần trăm giống Mỹ mà cô gọi là hai “bồ nhí”. Cô làm việc ở một cơ quan nhà nước Mỹ, rất xông xáo, năng động trong công việc xã hội và lo “vác ngà voi” cho Hội nên mới được tín nhiệm bầu làm Hội trưởng, rất trẻ so với những người tiền nhiệm, và các bạn gọi đùa cô thuộc “thế hệ Obama”.


Với Trần Thanh Xuân, Hội trưởng trẻ tuổi “thế hệ Obama”
của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Ban Mê Thuột ở Hoa Kỳ.

Tại buổi gặp, ngoài Thanh Xuân, Thanh Hải, có vợ chồng anh cựu Hội trưởng Lê Xuân Roãn, Dương Đức Nhuệ, Nguyễn Thị Yến và vợ chồng ,b>Thu Hằng. Anh Roãn là học sinh của trường từ trước khi tôi đến dạy. Dương Đức Nhuệ, sau này là sĩ quan không quân, thời đi học nổi tiếng là một học sinh “quậy” nhất lớp. Nghe nói qua Mỹ, Nhuệ làm ăn rất thành đạt. Nhuệ ở tiểu bang khác, nhân dịp về đây dự đại hội thường niên của binh chủng Không quân đúng lúc tôi cũng có mặt ở đây.


Với một số cựu học sinh Trung Học Ban Mê Thuột.

Thu Hằng đối với tôi cũng là một trường hợp đặc biệt. Tôi chỉ dạy thay cho thầy khác ở lớp của cô vài tháng, lúc cô mới học lớp đệ thất, bé tí ti. Dĩ nhiên 3 - 40 năm sau tôi không nhớ cô là ai. Tuy nhiên mươi năm trước cô tình cờ vào nhà sách thấy tên tôi trên một cuốn sách. Cô rất mừng lập tức mua về đọc. Sau này cô kể cô rất xúc động đến “nổi da gà” khi đọc cuốn sách của tôi vì cô vốn thích văn chương và ngưỡng mộ thầy từ hồi còn bé. Một dịp khác cô đọc thấy bài của tôi đăng trên một trang web nên đã nhờ ban biên tập chuyển thư xin địa chỉ mail của tôi, từ đó thầy trò cũ liên lạc. Thầy trò cũ gặp nhau dĩ nhiên nói chuyện “ngày xưa”. Ngày xưa đó thật êm đềm và vui vẻ, trở thành kỷ niệm, tình cảm đẹp theo mãi người qua dòng đời và cuộc sống tha hương. Vì thế mới sinh ra Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh các trường hoạt động rầm rộ bên này. Và bây giờ sau khi ăn uống xong, Thu Hằng còn mời chúng tôi và vài bạn về nhà cô em gái ở gần đó đàn hát đến khuya, những bài tình ca xưa cũ của một thời quá khứ.


Thu Hằng đệm đàn cho thầy trò cùng hát những bài ca xưa cũ.

Kết thúc chuyến đi Nam Cali lần hai, chúng tôi quyết định trở về Bắc Cali bằng xe lửa để được nhìn phong cảnh bờ biển phía tây nước Mỹ. Buổi sáng sớm trước khi đi, cô học trò cũ Bùi Thanh Hải đến gặp chia tay và mang cho chúng tôi mấy ổ bánh mì thịt và café để ăn sáng. Nhà cô không xa nơi chúng tôi ở. Cô nghe BY khen bánh mì thịt Lee ngon nên cô mua mang đến. Tôi cám ơn và hỏi đùa “Sao tử tế quá vậy?” Cô trả lời bằng cách hát nhái một bài hát thời thượng: “Hãy tốt với tôi bây giờ…” Đúng là tình cảm thầy trò ngày xưa vẫn đẹp như ngày nào dù hoàn cảnh bây giờ đã quá khác trước.

Hòa và T. Sơn đưa chúng tôi ra ga xe lửa. Đáng lý ra ga gần nhất ở Anaheim nhưng vì phải đi sớm, sau đó đến Los Angeles lại phải chờ đợi lâu hơn 1 giờ vì đây là ga trung tâm phía nam, Hòa – T. Sơn quyết định ở nhà ăn sáng, café thong thả xong sẽ chở chúng tôi bằng xe hơi đi lên ga LA. Vì chưa từng đến đây, dù đã có GPS nhưng Hòa lái xe loanh quanh tìm đường mãi, cuối cùng đến nơi, mua vé xong vừa đúng lúc trước khi tàu chạy. Tuy vậy ba người đàn ông cũng kịp cùng nhau đứng dưới sân tàu hút một điếu thuốc và nói lời chia tay. Lời cám ơn thông thường không đủ đối với những người bạn trẻ quá nhiệt tình ở Nam Cali. Chúng tôi sẽ còn nhớ đến các bạn lâu sau này.

Chuyến xe lửa của hãng Amtrak này chạy dọc bờ biển phía tây nước Mỹ có tên Coast Starlight, ga tận cùng phía nam ở San Diego, California, phía bắc là Seattle, bang Washington. Từ LA đến San Jose, theo lịch mất gần 12 giờ, gấp đôi thời gian của xe đò, giá vé ngồi cũng hơn gấp đôi (phòng giường nằm còn đắt hơn vé máy bay). Tuy nhiên đi xe lửa thật thoải mái. Toa xe có hai tầng, ghế rộng, có thể ngả ra nằm. Ngồi mỏi, đứng lên đi lại cho dãn gân cốt. Lúc nào thích đến toa ăn uống ngồi nhâm nhi café ngắm cảnh. Toa này ở tầng trên, hai bên là kính trong suốt nên tha hồ nhìn ngắm. Đường xe lửa chạy dọc bờ biển, nhiều đoạn chạy vào trong nhưng cũng có những đoạn chạy theo sườn núi hay gần ngay mép nước, có thể nhìn ra biển khơi. Thỉnh thoảng có mấy bãi tắm khá đẹp, ít đá và cát không đen như các bãi biển ở miền bắc nhưng bãi cát cũng hẹp hơn nhiều so với các bãi biển Việt Nam. Trên toa ăn có hai ông bà cụ già là tình nguyện viên giới thiệu các công viên, khu du lịch ở miền trung Cali. Họ đến từng bàn nói chuyện với khách, đem bản đồ ra chỉ dẫn, giới thiệu các sản vật đặc biệt của các nơi họ giới thiệu và sẵn sàng giải thích mọi thắc mắc của khách. Việc làm này cũng giúp cho khách hiểu biết thêm.

Khoảng gần 10 giờ tối xe lửa đến San Jose. Xuống ga đợi chưa tới 15 phút, chị bạn chủ nhà đã lái xe đến đón chúng tôi về nhà. Chúng tôi được nghỉ ngơi cho lại sức sau chuyến đi thú vị nhưng khá mệt nhọc. Còn “sướng” hơn về nhà vì ở đây chúng tôi không phải làm gì cả, chỉ ăn và ngủ. Anh chị bạn đã đã lo cho chúng tôi quá đầy đủ trong thân tình ấm áp.


1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15 
16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét