Thứ Ba, 4 tháng 1, 2011

Xin được thảo luận với học giả Hồ Bạch Thảo về vài chi tiết lịch sử trong bài viết « Ðất Trung Quốc giáp biên giới Việt Nam : huyện Phòng Thành ».

Trương Nhân Tuấn

Học giả Hồ Bạch Thảo vừa qua có cho công bố bài : « Ðất Trung Quốc giáp biên giới Việt Nam : huyện Phòng Thành » đăng trên một số trang web của người Việt. Như những bài nghiên cứu có giá trị khác đã công bố trước đây, nhất là các bài liên quan đến lịch sử tranh chấp về đất đai, biển đảo giữa hai nước Việt-Trung, bài này tác giả cũng đã đưa ra nhiều dữ kiện lịch sử mới mẻ và hữu ích. Chủ đề bài viết này, như tựa đề, là nói về lịch sử thành lập huyện Phòng Thành của Trung Quốc, là vùng đất giáp giới với tỉnh Hải Ninh của Việt Nam, nhưng nếu không lầm thì tác giả cũng có ý muốn soi sáng lại « nghi án bán đất » của Mạc Đăng Dung. Theo sử sách (Việt và Hoa) những vùng đất mà họ Mạc nhượng cho Trung Quốc, hôm nay đều thuộc huyện Phòng Thành. Gọi là « nghi án » vì đến nay vẫn dằn co giữa hai giả thuyết, một bên cho rằng các vùng đất mà họ Mạc « nhượng », thực ra là chỉ trả những vùng đất (mà Việt Nam chiếm trước đây) lại cho Trung Quốc. Bên khác cho rằng những vùng đất mà họ Mạc nhượng nguyên thủy là đất của Việt Nam. Chủ đề này tôi cũng đã viết qua trong một bài, có đăng trên Talawas bộ mới (nhưng hiện nay không vào xem được, có lẽ do tin tặc tấn công, mặc dầu trang web này đã ngưng hoạt động từ vài tháng nay), có đăng lại trên trang blog của tôi:
http://vn.360plus.yahoo.com/truongnhantuan/article?mid=356. Theo tôi thì các vùng đất mà Mạc Đăng Dung nhượng cho Trung Quốc vốn là đất của Việt Nam. Trong bài nghiên cứu, các dữ kiện mà học giả Hồ Bạch Thảo đã ghi lại, một số cho thấy các vùng đất đó vốn là của Trung Quốc. Do đó mục đích bài viết này của tôi, là hy vọng cùng với học giả Hồ Bạch Thảo, bàn luận lại về các chi tiết lịch sử mới này. Nhân tiện, tôi cũng xin góp ý thêm vài chi tiết phụ thuộc khác, không kém phần quan trọng, mà học giả Hồ Bạch Thảo cũng đã viết trong bài. Phần trình bàycủa tôi xin chia làm hai phần : 1/ về hiệp ước Thiên Tân và các việc chung quanh và 2/ về nghi án Mạc Đăng Dung.

1/ Về hiệp ước Thiên Tân 9 tháng 6 năm 1885:
1.1 Tác giả viết : « Việc nhượng đất này do bởi hòa ước Thiên Tân, ký giữa thực dân Pháp và nhà Thanh, trong đó có điều khoản rằng nước Pháp trả lại những chỗ hải quân đã chiếm giữ tại mặt bể ; rồi để làm vừa lòng Trung Quốc, lúc bấy giờ người Pháp đã đem một vùng đất Việt Nam giáp biển nhượng cho họ. »

Đoạn này gồm có các điểm theo tôi là không đúng:
« Việc nhượng đất này do bởi hòa ước Thiên Tân». «Đất này», theo nội dung bài viết, là đất Phòng Thành.

Nếu có tham khảo nội dung hiệp ước Thiên Tân thì sẽ thấy đây là một hiệp ước về hòa bình, hữu nghị và thương mại (Traité de paix, d’amitié et de commerce). Hiệp ước này không có điều khoản nào nhượng đất của Việt Nam cho Trung Quốc, ngoài điều 3 xác định trong vòng 6 tháng sẽ phân định và cắm mốc biên giới Việt-Trung (thực ra việc này kéo dài đến 10 năm). Việc phân định biên giới Việt Trung được xác định theo công ước « Convention relative à la délimitation de la frontière entre la Chine et le Tonkin, signée a Pékin le 26 juin 1887 ». Vấn đề giải quyết tranh chấp biên giới Việt-Trung hay việc Pháp nhượng đất VN cho Trung Quốc hoàn toàn không quan hệ gì với hiệp ước Thiên Tân 1885.

Tác giả cũng cho rằng hiệp ước Thiên Tân « có điều khoản rằng nước Pháp trả lại những chỗ hải quân đã chiếm giữ tại mặt bể ». Thực ra Hiệp ước Thiên Tân 1885 không có điều khoản nào qui định việc Pháp trả lại cho Trung Quốc những chỗ đã chiếm trước đó trên mặt bể. Quả thực là trong thời kỳ chiến tranh Pháp-Trung lần thứ hai (1884-1885), các nơi như đảo Bành Hồ và một phần đảo Đài Loan đã do hạm đội của ông Courbet chiếm (cũng như việc phong tỏa cửa sông Dương Tử). Nhưng việc trả lại đất (và bãi việc phong tỏa) là điều kiện để hai bên ngồi vài bàn hội nghị ký kết hiệp ước hòa bình, tức hiệp ước Thiên Tân 1885. Đất ở đây là quần đảo Bành Hồ và phần phía nam đảo Đài Loan.

Tác giả viết « rồi để làm vừa lòng Trung Quốc, lúc bấy giờ người Pháp đã đem một vùng đất Việt Nam giáp biển nhượng cho họ ». Như đã viết, hiệp ước Thiên Tân 1885 không hề có điều khoản nào qui định đến việc « nhượng đất ». Không biết « vùng đất Việt Nam giáp biển » mà tác giả đề cập là vùng đất nào ? Và Pháp có nhu cầu gì, yếu kém hay muốn cầu cạnh về việc gì mà phải nhượng đất của VN để « làm vừa lòng Trung Quốc » ?

Từ lúc Pháp đặt chân đên VN cho đến ngày ký hiệp ước Thiên Tân với Trung Quốc không hề xảy ra các việc Pháp nhượng bộ về đất đai cho Trung Quốc. Nhưng có xảy ra việc triều đình nhà Thanh muốn thuơng lượng với Pháp để chia cắt Việt Nam, miền Bắc (cho đến Quảng Bình) nhượng cho Trung Quốc. Việc thuơng lượng này xảy ra trước và trong (1883-1885) lúc chiến sự hai bên Pháp-Trung nóng bỏng trên hai mặt trận : đất liền (vùng biên giới Việt-Trung) và trên mặt biển. Điều đáng ghi nhận là hai bên Pháp-Trung qua hai cuộc chiến không hề tuyên bố chiến tranh. Do đó, chiến sự tăng cao nhưng công việc ngoại giao vẫn quan hệ như bình thường. Việc « thương lượng » chia cắt VN do các quan chức nhà Thanh như Lý Hồng Chương và Tăng Kỷ Trạch phụ trách. Phe họ Tăng chủ trương dùng quân sự để đe dọa làm áp lực Pháp nhượng bộ trong khi phe họ Lý thì dùng « thủ đoạn » (như mua chuộc quan chức Pháp là ông Bourée, đang làm Đặc Sứ Toàn Quyền Pháp tại Bắc Kinh) để đạt mục đích. Nhưng việc đe dọa không thành, vì quân đội TQ yếu kém, và việc dùng kế cũng không xong vì mưu đồ mua chuộc ông Bourée bị bại lộ (ông Bourée bị bãi chức). Chiến sự bùng nổ lại (sau biến cố Bắc Lệ 23-6-1884), mặt dầu đã ký hiệp ước Fournier 11 tháng 5 năm 1984, một mặt do Pháp nắm được thực lực của Trung Quốc, mặt khác Pháp muốn đòi tiền bồi thường. Hậu quả chiến tranh làm hai bên đều bị thiệt hại về tài lực nhưng kết cuộc thì phần thắng có thể nghiêng về phía Trung Quốc, vì đây là lần đầu tiên chiến tranh với một cường quốc Tây Phương mà Trung Quốc không bị thiệt hại về đất đai hay phải bồi thường chiến phí. Riêng Pháp thì dành được chỗ của Trung Quốc trong quan hệ với VN.

Đặt giả thuyết, nếu âm mưu của Lý Hồng Chương thành công (việc này suýt thành công vì đã nhiều lúc chính phủ Pháp ngã lòng muốn bỏ Bắc Kỳ) chính phủ Pháp theo lời các khuyến cáo của ông Bourée, chắc chắn miền Bắc Việt Nam (đến Quảng Bình) đã thuộc về nước Trung Hoa.

Sau khi ký hiệp ước Thiên Tân 1885, Pháp đặt ra ủy ban nghiên cứu về Bắc Kỳ do Pelletan đảm trách, còn gọi là « Ủy Ban 33 », có mục đích nghiên cứu việc Pháp nên chiếm hay không nên chiếm Bắc Kỳ. Kết quả của ủy ban được Pelletan đệ trình lên quốc hội ngày 17 tháng 12 năm 1885, theo đó đa số ủy viên trong Ủy Ban 33 chống lại việc Pháp chiếm Bắc Kỳ. Cuối cùng, Quốc Hội biểu quyết theo đuổi việc chiếm Bắc Kỳ chỉ với 4 phiếu đa số nhưng sự biểu quyết này không công bằng vì đã loại ra 20 phiếu của phe chống đối. Ðiều này cho thấy, quyết định chiếm Bắc Kỳ của nước Pháp đã không rõ rệt và nhất quyết. Cũng nên nhắc lại, năm 1874, Quốc Hội Pháp biểu quyết chỉ có 1 phiếu đa số về vấn đề can thiệp hay không ở Bắc Kỳ. Nhắc lại các điều này để cho thấy dư luận lúc đó ở Pháp không « mặn mà » với việc chiếm Bắc Kỳ như nhiều sử gia VN đã nghĩ.

Một điều chắc chắn, nếu Pháp bỏ Bắc Kỳ, xứ này sẽ lọt vào vòng kiểm soát của một cường quốc khác, phần nhiều sẽ là nước Anh.

Vấn đề Pháp cắt đất Việt Nam nhượng cho Trung Quốc là có thật, nhưng không do hiệp ước Thiên Tân 1885, hay do Pháp muốn « làm vừa lòng Trung Quốc », mà do hậu quả của việc trao đổi quyền lợi kinh tế giữa Pháp và Trung Hoa.

Nếu công ước phân định biên giới 26 tháng 6 năm 1887 là do hiệu quả của điều 3 Hiệp ước Thiên Tân 1885 thì Công ước về thương mại (Convention de commerciale) ký ngày 25 tháng 4 năm 1886 là do hiệu quả của điều 6 Hiệp ước Thiên Tân 1885. Công ước thương mại 1886 là một thất bại lớn cho Pháp vì người ký kết là ông Cogordan (François-Georges), một người hoàn toàn không có kinh nghiệm, thương lượng và ký kết với ông Lý Hồng Chương, một con cáo già chính trị. (Có giả thuyết cho thấy rất có thể Cogordan đã bị họ Lý mua chuộc). Tất cả những đòi hỏi của Pháp đều không được đáp ứng trong khi các yêu cầu phi lý của Trung Hoa thì đều được ưng thuận. Để sửa chữa việc này, người Pháp cử ông Ernest Constans phụ trách ký kết Công ước 1887 về phân định biên giới, kiêm nhiệm luôn việc thương lượng để ký lại một phụ ước về thương mại (Convention additionnelle de Commerce, ký cùng ngày với công ước về biên giới 26-6-1887). Ông Ernest Constans cũng là một « cáo già chính trị » thuộc phái « thời cơ chủ nghĩa ». Để đạt được quyền lợi kinh tế, ông này đã nhượng cho Trung Quốc một số đất đai của Việt Nam gồm tổng Tụ Long khoảng 750km² đất thuộc Vị Xuyên (Hà Giang), tổng Đèo Luông (hay Lương) khoảng 300km² thuộc Cao Bằng, một số xã thuộc hai tổng Kiến Duyên và Bát Trang (Hải Ninh) đồng thời vùng huyện Trường Bình (Cương Bình), còn gọi là mũi Bạch Long (Pak Lung) ở giáp biển. Các vùng đất này đều có giá trị cao về kinh tế và chiến lược.

Nếu như việc ký kết công ước thuơng mại 24-4-1886 không do ông Cogordan phụ trách, mà được giao cho một người có kinh nghiệm hơn, chưa chắc Pháp đã nhượng đất cho TQ. Các học giả Pháp có đặt vấn đề : vì sao lại cử Cogordan trong khi ông này chỉ mới là một công chức hạng trung, mà việc ký kết với Lý Hồng Chương thì phải cần một người mang hàm bộ trưởng ? Ông Cogordan chỉ được đặt cách phong hàm thứ trưởng tại Bắc Kinh sau khi ký vào công ước một ngày, là ngày 25-4-1886 (để công ước có hiệu lực). Người ta cũng đặt vấn đề « favoritisme », tức phe nhóm, vì ông Cogordan là con rể của cựu thủ tướng Duclerc.

Tham khảo thêm về ý nghĩa của Hiệp ước Thiên Tân 1885:  http://vn.360plus.yahoo.com/truongnhantuan/article?mid=273

1.2 Về nội dung « biên bản hội đàm phân định biên giới làm tại Mông Cái ngày 29/3/1887 [ngày5 tháng 3 năm Quang Tự thứ 13] giữa đại diện chính phủ Pháp và triều Thanh ». Nguyên văn dẫn từ vài viết của học giả Hồ Bạch Thảo:
« Ủy ban phân giới cắm mốc đã xác nhận từ Trúc Sơn, Trung Quốc, biên giới xuôi theo con sông nhỏ từ Trúc Sơn, đến Mông Cái (3), Ðông Hưng (4), hướng từ đông sang tây, đường trung tuyến của sông [Bắc Luân] là biên giới. Ðường biên giới chia tách các nơi như La Phù, Ðông Hưng của Trung Quốc với các nơi như Mông Cái, Mautsay của Việt Nam.
Từ Mông Cái, Ðông Hưng đến Bắc Thị, Gia Long (5), đường biên giới hơi uốn cong, đầu tiên hướng từ đông lên bắc, rồi hướng tây bắc, xuôi theo sông chảy theo hướng đông qua hai nơi này : một bên sông biên giới là sông Na Chi, Gia Long của Trung Quốc ; một bên là Thác Lĩnh, Nam Tinh, Bắc Thị của Việt Nam.
Từ Bắc Thị, Gia Long, biên giới xuôi theo đường trung tuyến sông Gia Long, sông này là một nhánh nằm phía tây Bắc Thị. Ðường biên giới kéo dài 30 dặm (1 dặm = 561 m), chạy thẳng đến nơi cách chợ cũ thôn Ðộng Trung 3 dặm về phía bắc, từ điểm A trên mảnh bản đồ số 1. Lĩnh Hoài, Phi Lao, Bản Hưng và một quả núi có tên Phân Mao Lãnh nằm sát biên giới ở đông Nam Bản Hưng thuộc Trung Quốc; các nơi xa như Na Dương, Ðộng Trung thuộc Việt Nam.
Từ điểm A, biên giới chạy về ải Bắc Cương, núi Phái Thiên, nơi đây cách thôn Bình Liêu (6) của Việt Nam khoảng 30 dặm theo đường thẳng, các đồn trạm như Bản Thôn, Na Quang thuộc Trung Quốc ; các đồn trạm như Na Dương, Trình Tường thuộc Việt Nam. »

Học giả Hồ Bạch Thảo cho biết phần ghi trên là trích dẫn từ « Tư liệu lịch sử biên giới Trung Việt, Ủy ban biên giới quốc gia, bộ Ngoại Giao xuất bản : Hà Nội, 2008, tập 3, trang 591 ».

Về tài liệu này, nguyên bản từ CAOM (Centre d’Archives d’Outre-Mer, Aix-En-Provence, Pháp Quốc), đã được người viết bài này chụp hình và công bố trên internet từ những năm 2000. Đến năm 2005 thì đóng thành tập mang tựa đề : « Biên Giới Việt-Trung 1885-2000 Lịch sử thành hình và những tranh chấp ».

So sánh đoạn dẫn trên với nguyên văn của biên bản 29-3-1887 ở dưới đây thì ta thấy phần trích dẫn của học giả Hồ Bạch Thảo không đầy đủ với nguyên văn của biên bản. Phần trích dẫn thiếu đoạn phân định từ Bắc Cương Ải cho đến Chí Mã Ải.

Yêu cầu đầu tiên của tôi, nếu có thể, xin học giả Hồ Bạch Thảo làm sáng tỏ : nguyên văn của « Tư liệu lịch sử biên giới Trung Việt, Ủy ban biên giới quốc gia, bộ Ngoai Giao xuất bản : Hà Nội, 2008, tập 3, trang 591 » là như phần trích dẫn hay là còn thêm phần nào khác ?

Nguyên văn tiếng Pháp chép lại như sau : hình chụp các trang biên bản và xem phụ lục bên dưới.

Hình : Biên Bản 1



Hình: Biên Bản 2.



Hình Biên Bản 3

Biên Bản 4


Biên Bản 5

So sánh nội dung, ta thấy có một số điểm được gạch dưới trong phần trích dẫn đã không hoàn toàn chính xác so với bản chính tiếng Pháp :
« à partir de Tchou-chan (Trúc-sơn 竹山), qui appartient au territoire chinois, la frontière suit la rivière, de l’est à l’ouest, jusqu’à Tong-hing (Ðông-Hưng 東興) et Mang-kiai (Móng-Cái). Dans cette section, le milieu de la rivière forme la limite frontière, séparant Lo-feou-t’ong (La-phù-động 羅浮峒), Tong-hing et autres lieux ; qui appartiennent à la Chine, de Wou-che (Ngũ-sĩ 伍仕), Monkaï et autres lieux qui appartiennent à l’Annam. »

Biên giới xuôi theo con sông nhỏ. Nguyên văn không hề có « sông nhỏ » mà chỉ là con sông « la rivière ». La Phù phải viết là La Phù Động, Mautsay phải viết là Ngũ Sĩ.

« Depuis Tong-hing et Monkaï jusqu’à Pei-che (Bắc-thị, Pacsi 北市) et Kia-long (Gia-long 加隆), la frontière est assez sinueuse et se dirige de l’est au nord-nord-ouest ; suivant le milieu de la rivière depuis Tong-hing et Monkaï jusqu’à Pei-che et Kia-long et séparent ainsi Na-tche (Ná-chi 那芝), kia-long et autres localités, qui appartiennent à la Chine, de T’o-ling (Thác-lãnh 托嶺), Nan-li (Nam-lý 南里), Pei-che et autres localités, qui appartiennent à l’Annam. »

Đường biên giới không hề « hơi uốn cong » mà là assez sinueuse tức là khá quanh co, (sinueuse tức là uốn qua uốn lại). Đường biên giới không mô tả đầu tiên hướng từ đông lên bắc, rồi hướng tây bắc, mà là « se dirige de l’est au nord-nord-ouest », tức không có chữ « đầu tiên » và hướng đi là từ hướng đông đến bắc tây-bắc. Ý nghĩa « đầu tiên từ đông lên bắc rồi hướng tây bắc » với « từ hướng đông đến bắc tây-bắc » hoàn toàn khác nhau.

Không hề có việc « xuôi theo sông chảy theo hướng đông qua hai nơi này » mà là « suivant le milieu de la rivière depuis Tong-hing et Monkaï jusqu’à Pei-che et Kia-long », tức là « theo trung tuyến dòng sông từ Đông Hưng – Móng Cái cho đến Bắc Thị - Gia Long ». Văn bản không hề ghi « chảy theo hướng đông » mà ý nghĩa trong văn bản là đường biên giới chạy từ đông sang tây theo trung tuyến dòng sông.

Nam Tinh thực ra là Nam Lý. Nguyên văn chữ Hán trong biên bản là 南里 Nam Lý.

Không hề có việc « sông này là một nhánh nằm phía tây Bắc Thị » . Nguyên văn như sau : « Depuis Pei-che et Kia-long, la frontière suit le milieu de la rivière Kia-long, qui est un affluent occidental de la rivière de Pei-che (rivière de Pacsi 北 市 江). Le cours de cette rivière a une longueur de trente li environs [ Note : chaque li équivaut à 561 mètres ], et au-delà de ces trentes li, la ligne frontière se dirige directement jusqu’à trois li comptés juste au nord de l’ancien marché du village de T’ong-tchong 峝 中 村, c’est-à-dire jusqu’au point A 甲de la carte n° 1. Les localités de Ling-Houai (嶺 懷 Lãnh-hoài), de P’i-lao (Phi-lao 披 勞), de Pan-hing (Bản-hưng 板 興), la montagne située au sud-est de Pan-hing, touchant à la frontière et appelée Fen-mao-ling (Phân-mao-lãnh 分 茅 嶺) et autres lieux ; sont attribués à la Chine. Na-yang (Ná-duong 那 陽), Tong-tchong (Ðộng-trung 峝 中) et autres lieux sont attribués à l’Annam. »


1   2

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét