Thứ Bảy, 29 tháng 1, 2011

Đừng lập lại Kinh Nghiệm Chiến Tranh Việt Nam (XV)

Richard Nixon
Nường Lý chuyển ngữ

Kỳ 15

Nhiều năm sau đó, đài CBS phần tin tài liệu tuyên bố rằng sự thành công của địch quân trong dịp Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân một phần nhờ bởi sự dàn xếp do Tướng Westmoreland đứng đầu, nhằm ém nhẹm các tin tình báo cho thấy số quân Cộng Sản nhiều gấp đôi số lính mà các sĩ quan ta dự đoán. Phim tài liệu này đã dai dẳng tấn công vào sự ngay thẳng của một vị chỉ huy đáng kính nể trong quân đội Hoa Kỳ, cho thấy phẩm chất “lá cải” của cơ quan truyền thông này. Đại tướng Westmoreland là một người vô cùng chính trực, gần như quá ngay thẳng và theo đúng sách vở một cách chuyên nghiệp. Tôi không thể nghĩ ra được một quân nhân nào khác hơn ông là người hầu như không bao giờ có thể lừa dối các lãnh đạo chính trị Hoa Kỳ hay quần chúng bằng cách đưa tin sai lầm, lạc quan về tình hình quân sự tại Việt Nam. Ngược lại, tôi nhận thấy ông là một người chỉ huy thực tiễn hơn bất cứ một vị chỉ huy quân sự hay dân sự nào tôi từng được gặp trong các chuyến đi làm việc tại Việt Nam.

Tại Việt Nam, các tài liệu chiến trường cho thấy quân số hai phe trong cuộc chiến rất khó được đưa ra một cách chính xác, vì nó lệ thuộc rất nhiều vào cách định nghĩa thế nào là “lính địch”. Không ai thắc mắc gì về các con số bao gồm tất cả các tiểu đoàn du kích Việt Cộng. Nhưng một vài người, gồm cả những kẻ đã đưa ra các con số phỏng định được xem là thấp, đã muốn đếm cả những tên Việt Cộng nằm vùng và những đơn vị quốc gia chỉ chống trả để tự vệ và không được vũ trang. Tướng Westmoreland đã quyết định chỉ đếm các binh lính thực sự tham chiến khi kiểm kê quân số. Tất cả những nguyên tắc này đã được trình bày rõ ràng cho Tổng Thống Johnson và các vị cố vấn an ninh quốc gia của ông. Tướng Westmoreland đã hành xử đúng đắn một cách đáng kính. Duyệt qua các con số đáng tranh cãi, tường trình từ các tập phim tài liệu của CBS là sai lạc nhất so với sự thật.

Tết Mậu Thân là một thảm bại quân sự lớn lao cho Bắc Việt. Hồ đã chơi một ván bài tháu cáy và đã thua nặng nề. Các lực lượng quân đội Việt Nam Cộng Hòa và lực lượng Hoa Kỳ đã làm cỏ những đơn vị xuất sắc nhất của Cộng Sản Bắc Việt. Hàng ngàn lính tinh nhuệ nhất của Hồ, cùng nhiều cấp chỉ huy Việt Cộng đã tử trận hay bị thương nặng. Bản tin chính thức từ Bắc Việt mau chóng loan báo sự xuống tinh thần trầm trọng của lính Cộng Sản, vì họ “mất tin tưởng” vào cấp lãnh đạo, bởi vì họ “nghi ngờ chiến thắng”, và biểu lộ “trạng thái yếu kém”. Cần phải có thời gian ít nhất là 2 năm để quân đội Bắc Việt phục hồi khả năng.

Đồng thời, lực lượng quân sự của Mặt Trận Giải Phóng cũng hoàn toàn tan vỡ. Kỳ vọng vào chiến thắng, Hồ đã ra lệnh cho tất cả các tổ hoạt động kín cùng các nhóm khủng bố tại miền Nam tự lột mặt nạ để xuất hiện công khai. Khi cuộc tổng tấn công thất bại, những tên nằm vùng này nếu không tử thương trên chiến trường thì liền bị nhận diện và bị bắt giữ. Cảnh sát miền Nam đã nhân cơ hội bứng trọn gốc hệ thống nằm vùng của Cộng Sản.

Sau hết, cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân là một thảm họa chính trị cho Cộng Sản tại miền Nam Việt Nam. Cộng Sản thực sự chưa bao giờ được sự hỗ trợ của dân miền Nam, trừ một nhóm nhỏ, tuy điều này không có nghĩa rằng đa số dân miền Nam ủng hộ chính quyền đương thời tại Sài Gòn. Sự đe dọa của hiểm họa Cộng Sản đối với dân Sài Gòn lúc ấy còn quá xa vời, và những phong trào chống Cộng còn quá yếu đuối, rời rạc. Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân thay đổi bình diện chính trị này một cách không ngờ. Nó khích động sự căm phẫn Việt Cộng của người dân, qua sự kinh hoàng trước cảnh chiến tranh ngay tại thành phố và sự hoảng sợ trước thái độ tàn bạo của lính Cộng Sản khắp nơi. Khác xa với điều Hồ mong ước là được người dân nổi dậy tiếp trợ, cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân thúc đẩy mọi người dân miền Nam đồng tâm chống lại sự tấn công của Cộng Sản Bắc Việt.

Tuy đó là một chiến thắng lẫy lừng của người lính miền Nam Việt Nam và quân đội Hoa Kỳ, hầu như tất cả các tin tức trên truyền thông toàn cầu đều gửi đi một thông tin chính là chúng ta đã chịu một thảm bại ghê khiếp. Thông tin này đã được loan ra không chỉ trong vài tiếng đồng hồ đầu của trận chiến, mà còn kéo dài nhiều tuần lễ sau khi màn sương mù chiến tranh đã tan biến. Một cơ quan truyền thông thản nhiên báo cáo rằng chúng ta đã hoàn toàn thua trận. Một đài khác nói “tình hình càng ngày càng cho thấy cách duy nhất để giải quyết cuộc chiến là phải đàm phán, không phải trong tư thế kẻ thắng trận, mà là với tư thế kẻ thua trận trong danh dự”. Những nhịp trống thông tin sai lạc vang lên đều đặn đã khiến dân Hoa Kỳ tưởng rằng chúng ta thực sự đã thua một trận chiến quan trọng.

Các phóng viên báo chí, đa số đều không đủ kiến thức về quân sự, đã không nhìn thấy bức tranh lớn. Thay vào đó, họ chỉ chú tâm vào các sự kiện rời rạc, thổi phồng lên, và làm cho câu chuyện trở thành hoàn toàn sai lạc. Thoạt đầu, giới truyền thông loan tin cuộc tấn công vào Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn là chiến thắng của địch quân. Xướng ngôn viên một đài truyền hình lớn tiếng báo cáo rằng “hai mươi cảm tử quân Việt Cộng” đang “kiểm soát tầng một của Tòa Đại Sứ”. Đây không phải là điều đã thực sự xảy ra. Một tiểu đội quân phiến loạn đã phá nổ một lỗ hổng trên tường Tòa Đại Sứ, và vài người đã leo vào được phía trong trước khi tất cả quân địch bị lính canh bắn gục.

Sau đó thì truyền thông báo chí chú trọng đến chiến cuộc kéo dài suốt chin tuần lễ tại Khe Sanh. Họ diễn tả việc quân Cộng Sản chiếm căn cứ Hoa Kỳ tại Khe Sanh như một trận Điện Biên Phủ thứ hai, và một phóng viên lớn tiếng nhấn mạnh rằng “sự tương đồng quá hiển nhiên trước mắt tất cả mọi người.” Thực ra, chúng ta không bao giờ phải lo về chuyện sẽ bị mất Khe Sanh. Bắc Việt xua 40,000 lính vào trận chiến, và trên 10,000 người đã tử trận. Đây là một trận chiến đắt giá nhất của quân Cộng Sản trong toàn cuộc chiến Việt Nam.

Đáng kinh hoàng hơn cả, là việc truyền thông Hoa Kỳ đã không tường thuật đúng mức về vụ thảm sát tại Huế.

Khi Cộng Sản tràn vào thành phố Huế, họ đã sửa soạn sẵn một danh sách những người “mang nợ máu với Đảng”, được viết từ 5 tháng trước đó. Danh sách này gồm tên các vị cảnh sát quốc gia, các công chức, và các người chống lại Mặt Trận Giải Phóng Miền Nạm. Những người có tên trong danh sách này bị kết án tử hình và có thể bị xử tử lập tức mà không cần có lệnh của cấp trên. Ngay khi vào đến Huế, đội quân ám sát của Cộng Sản nhanh chóng giết chết trên 200 người có tên trong danh sách của họ. Nhưng họ không ngừng tại đó. Họ bắt đầu ám sát tất cả những ai họ nghĩ rằng có liên hệ với chính quyền Sài Gòn. Những người này gồm cả anh lao công tại một công sở, bị giét ngay trước sân nhà với hai đứa con thơ; một người bán thuốc lá dạo, bị giết vì có người chị làm nhân viên cho chính quyền. Nhiều chứng nhân thuật lại rằng nạn nhân bị bắt phải đào huyệt cho chính mình, trước khi bị bắn bởi bọn sát nhân.

Những điều này đáng ra phải là chuyện lớn. Dù sao đi nữa, thì định mệnh của Huế, thành phố duy nhất lọt vào tay Cộng Sản trong dịp Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân, chắc chắn cho thấy cách Cộng Sản sẽ đối xử với toàn dân miền Nam Việt Nam như thế nào. Nhưng tổng số tất cả các tin tức về chuyện thảm sát này chỉ vỏn vẹn có 6 bài trên các tin điện và 7 bài trên tất cả các báo hàng ngày. Không một tường thuật nào được đem lên truyền hình. Những bài viết này diễn tả việc lần đầu tiên khám phá ra mồ chôn tập thể, với khoảng 200 -400 người bị chôn sống. Không một bài viết nào xuất hiện trên truyền thông khi lần lượt 18 mồ chôn tập thể được khám phá trong những ngày sau đó. Phóng viên báo chí cũng không cả tìm đến những nơi có các nấm mồ này, gần chân núi, ven bìa rừng, hay dọc theo các đụn cát trên bờ biển. Tổng số đếm được vào giữa thập niên 1970 là 2,810 xác người, với 1,946 mất tích không tìm ra.

Chỉ trong 25 ngày chiếm quyền tại Huế, Cộng Sản Việt Nam đã sát hại từ 5% đến 10% dân số thành đô, nhưng giới truyền thông cảm thấy đây là các tin tức không đáng kể để đăng tải.

Sự tương phản rõ ràng giữa chuyện báo chí rầm rộ loan tin vụ Mỹ Lai trong khi nói rất ít về việc Cộng Sản thảm sát tập thể tại Huế cho thấy sự khác biệt đáng giật mình giữa thể chế dân chủ và chế độ Cộng Sản: Chúng ta vạch trần các lỗi lầm của chính phe mình, trong khi Cộng Sản bưng bít mọi tội ác của họ.

Những tin tức về vụ Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân làm người Hoa Kỳ mất hết mọi ảo tưởng về chiến tranh Việt Nam, và đã giúp chuyển hành vi xâm lăng của Cộng Sản thành một chiến thắng tâm lý chính trị lớn lao cho Bắc Việt. Chính quyền Johnson đã luôn luôn tỏ ra lạc quan về các bước tiến của chúng ta trong cuộc chiến. Lúc này người dân nghe thấy rằng chúng ta đang thua trận, và họ nhìn tận mắt cuộc chiến xảy ra ngay trên đường phố Sài Gòn từ truyền hình trong nhà họ. Tại sao chuyện này lại có thể xảy ra được khiến họ phải đặt câu hỏi về giá trị và uy tín của các chính sách nhà cầm quyền Hoa Kỳ đang theo đuổi.

Tháng 11 năm 1967 và tháng hai năm 1968, Viện Thống Kê Gallup thăm dò ý kiến quần chúng về cuộc chiến Việt Nam. Con số tin rằng Hoa Kỳ đang thua trận nhảy vọt từ 8% trước Tết Mậu Thân lên 23 % sau vụ Tổng Tấn Công. Cuộc thăm dò thứ hai cũng cho thấy 61% tin rằng Hoa Kỳ đang mất thế đứng hoặc đang đứng yên trong trận chiến tại Việt Nam. Quần chúng không bị ảnh hưởng bởi tinh thần phản chiến. Khác với nhiều người trong phe phản chiến, dân chúng Hoa Kỳ không muốn thấy quốc gia họ bị hạ nhục. Nhưng sau gần 3 năm chiến đấu, họ trở nên bực bội vì không nhìn thấy một dấu hiệu nào chứng tỏ chiến tranh có thể kết thúc nhanh chóng.

Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân làm chấn động nền tảng Tòa Bạch Ốc của chính quyền Johnson. Nhiều cố vấn của Tổng Thống đâm ra nghi ngờ về khả năng chiến thắng của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Khi Johnson hỏi ý kiến một nhóm nhân viên cao cấp trong chính quyền mà ông gọi là những “nhân sĩ”, tất cả đều là những người từng cam kết hỗ trợ việc tham chiến tại Việt Nam, ông nhận ra rằng 6 người tỏ ý muốn bỏ cuộc, 4 người chủ trương giữ vững lập trường, và một người thì không có quan điểm rõ ràng. Sau này, Johnson viết: “Nếu những người này còn bị ảnh hưởng nặng nề của các bài viết về Tết Mậu Thân, thì người dân thường suy nghĩ thế nào?” Ngày 31 tháng 3, Thổng Thống Johnson trả lời cho câu hỏi của chính ông bằng việc tuyên bố ông sẽ không tái tranh cử.

Sau vụ Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân, Tổng Thống Johnson ngày càng thêm bi quan về cuộc chiến. Điều này đưa đến việc ông có một quyết định ngoại giao không thực tế nhất trong lịch sử Hoa Kỳ: Những đàm phán dẫn đến việc ngưng thả bom tại Bắc Việt vào ngày 1 tháng 11 năm 1968.

Johnson nhiệt tâm muốn có hòa bình, và ông đã bị rúng động trước sự gia tăng mạnh mẽ của phong trào phản chiến sau Tết Mậu Thân. Các cố vấn của ông cho biết Bắc Việt Nam rất mong đạt đến một giải pháp cho cuộc chiến và lòng dân chúng Hoa Kỳ sẽ không tiếp tục ủng hộ các nỗ lực quân sự tại Việt Nam nữa. Ngày 31 tháng 03, thuận theo sự cố vấn, Tổng Thống Johnson đơn phương ra lệnh ngưng thả bom tại Bắc Việt, khởi đầu là phía trên vĩ tuyến 20, sau đó là trên vĩ tuyến 19, với hy vọng Bắc Việt sẽ có sự đáp ứng để cùng tiến tới hòa bình.

Nhưng sự đáp trả tương xứng không phải là cá tính của Hồ Chí Minh. Nhiều tháng trước đó, Hồ đã quyết định sử dụng chiến lược: “Vừa đánh vừa đàm”. Ông ta hiểu rằng đàm phán để thương lượng các giải pháp hòa bình sẽ nâng cao hy vọng cho dân Hoa Kỳ và sẽ làm tăng nhiều giới hạn về mặt quân sự cho chính quyền Mỹ. Nó sẽ làm cho việc tăng áp lực của Hoa Kỳ lên Bắc Việt trở thành khó khăn hơn, vì dân chúng Mỹ sẽ cho rằng điều này nguy hại đến việc đàm phán. Khi Tổng Thống Johnson tuyên bố ông sẽ tạm ngưng ném bom vào tháng 03, Bắc Việt trả lời: “Chính quyền nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa công bố họ sẵn sàng cử đại diện tiếp xúc với Hoa Kỳ để làm việc với phía Hoa Kỳ trong việc sửa soạn cho sự ngưng thả bom vô điều kiện cùng ngưng tức khắc tất cả mọi hành động chiến tranh với nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa để cuộc đàm phán có thể bắt đầu.” Hồ không nói gì đến đàm phán hòa bình, hay bắt đầu nói đến hòa bình. Hồ chỉ nói đến việc thương lượng các điều kiện do chính ông ta đưa ra trước khi có thể cùng ngồi xuống nói chuyện.

Chính quyền Johnson đón nhận thái độ này như một sự thông cảm lớn lao giữa hai bên. Hà Nội đòi hỏi rằng chúng ta buông vũ khí trước khi bắt đầu các thủ tục đàm phán sơ khởi. Johnson bổ nhiệm Averell Harriman và Cyrus Vance làm đại diện cho Hoa Kỳ. Trải qua suốt năm tháng trời thương lượng, phía Mỹ đưa ra 4 điều kiện cho việc ngưng thả bom Bắc Việt: (1) Đàm phán một cách nghiêm túc về giải pháp hòa bình, gồm cả đại diện miền Nam Việt Nam, phải bắt đầu ngay vài ngày sau khi Mỹ ngưng ném bom. (2) Bắc Việt không được xâm phạm vùng phi quân sự, dù bằng cho lính xâm nhập hay bắn đạn và phóng hỏa tiễn vào vùng này. (3) Các lực lượng Cộng Sản không được khởi động các cuộc tấn công lớn hay pháo kích vào các đô thị lớn tại miền Nam Việt Nam. (4) Bắc Việt phải cho phép các phi cơ không trang bị vũ khí của Hoa Kỳ bay ngang không phận Bắc Việt.

Bắc Việt Nam không chấp thuận tất cả các điều kiện đưa ra theo 4 tiêu điểm trên. Nhưng Harriman và Vance thuyết phục Johnson rằng các nhà lãnh đạo Hà Nội rất thực lòng muốn có hòa bình. Harriman lập luận rằng cản trở duy nhất cho cuộc đàm phán là sự đòi hỏi của Hoa Kỳ về các điều kiện ngưng thả bom phải là một phần trong Hòa Ước chính thức. Johnson liền cho phép họ chấp thuận một thỏa hiệp ngầm nhằm tôn trọng các điều kiện Hoa Kỳ đưa ra. Khi Hà Nội tiếp tục ngoan cố không chấp nhận, họ từ từ hạ thấp các đòi hỏi của Hoa Kỳ đối với những điều Hà Nội cần phải hứa sẽ thi hành.

Cuối cùng, ngày 11 tháng 10, Harriman và Vance nói với Bắc Việt: “Điều quan trọng quý vị cần hiểu là chúng tôi không đòi hỏi sự đáp trả hay đưa ra điều kiện gì, nhưng giản dị là sau vịêc ngưng ném bom, khả năng giữ vững tình trạng hiện tại của Tổng Thống chúng tôi sẽ bị ảnh hưởng bởi một số “yếu tố cần được cứu xét”.” Nghệ thuật ngoại giao hiếm khi nào có một sản phẩm “ngu dốt khờ khạo” như vậy. Những điều kiện chúng ta đưa ra lúc ban đầu, đến lúc này, qua lời của chính người Hoa Kỳ trong bàn thương lượng, trở thành: “hình ảnh một hoàn cảnh cho phép sự điều đình trở nên nghiêm túc hơn và việc ngưng ném bom sẽ phải tiếp tục.”

Ngày 31 tháng 10, năm ngày trước kỳ bầu cử Tổng Thống năm 1968, Johnson tuyên bố ngưng tất cả các việc ném bom Băc Việt và việc đàm phán bắt đầu. Chỉ trong vài tuần lễ, Hà Nội vi phạm trắng trợn tất cả mọi điều kiện chúng ta đưa ra và đòi hỏi họ phải thực thi. Chúng ta không có một phản ứng nào. Hồ đã lật ngửa bài và nhận ra chúng ta chỉ nói miệng mà thôi. Chúng ta đã đánh đổi vũ khí giá trị nhất trong cuộc đàm phán: - việc ném bom Bắc Việt – để chuốc lấy một loạt các “thông cảm” mơ hồ mà Hà Nội không bao giờ đồng ý và không bao giờ có thực tâm thi hành. Kết cục là việc ngưng ném bom không đạt đến một kết quả thực tiễn nào trừ chuyện tạo ra đỉnh điểm cho cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 1968.

Hồ, một kẻ chuyên nghiệp trong việc lạm dụng sự yếu kém của phe đối nghịch, không bỏ lỡ cơ hội. Chúng ta đã tự giới hạn khả năng can thiệp của mình vào lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Chúng ta cho phép Bắc Việt gửi quân lính, vũ khí, quân nhu thả dàn dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh. Chúng ta để mặc cho Hồ tự tung tự tác trong trận chiến như ý thích của ông ta, trên vùng kiểm soát của ta, với các điều kiện do chính Hồ đưa ra. Chúng ta bỏ quên một sự thực: chiến tranh – nhất là chiến tranh du kích – đòi hỏi nghị lực và quyết tâm ngang ngửa với tiềm năng quân sự. Trong khi chúng ta tấn công vào lực lượng quân sự của Hồ tại miền Nam Việt Nam, Hồ tấn công không ngừng vào ý chí, lòng quyết tâm, và sự kiên trì của dân tộc Hoa Kỳ. Vào cuối năm 1968, có vẻ như thời điểm đã đứng về phía Hồ.

Cuộc tranh luận về việc Hoa Kỳ có nên tiếp tục gia tăng việc tham chiến tại Việt Nam đã chấm dứt với Tết Mậu Thân và việc ngưng ném bom Bắc Việt ngày 1 tháng 11. Điều này làm phá sản các lựa chọn khác của chúng ta dù có muốn cam kết mạnh mẽ hơn. Tất cả những lý do chính đáng khi tham chiến, những cơ hội thắng trận của Hoa Kỳ, đã không còn là câu hỏi đặt cho vị Tổng Thống kế tiếp, mà là bao giờ Hoa Kỳ sẽ triệt thoái, và sẽ để lại phía sau những hệ lụy gì. (Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét