Thứ Bảy, 1 tháng 1, 2011

ĐỪNG LẶP LẠI KINH NGHIỆM CHIẾN TRANH VIỆT NAM (NO MORE VIETNAMS)

Richard Nixon
Nường Lý chuyển ngữ


Kỳ 13

Johnson cố tình giảm thiểu sự quan trọng của các hành động ông làm trong cuộc chiến tại Việt Nam. Ông tuyên bố rằng ông ra lệnh cho không quân Hoa Kỳ tham dự cuộc chiến trong một lời mở đầu ngắn ngủi của một cuộc họp báo. Ông không xin Quốc Hội cho phép gọi thêm lực lượng trừ bị. Ông không yêu cầu một quyết nghị cho tình trạng tổ quốc lâm chiến, hay ngay cả không xin một dự luật cho ngân quỹ hỗ trợ cuộc chiến. Ông không tường trình kế hoạch của mình cho chiến tranh vào buổi diễn văn đọc trước quốc dân. Ông không công bố mức độ lính tuyển mộ dự trù và không cả giải thích rằng lính Mỹ từ lúc này sẽ trực tiếp tham chiến. Ông không cắt giảm chi tiêu xã hội hay tăng thuế để sẵn sàng cho một đất nước đang lâm chiến.

Nói rõ ra rằng việc xảy ra tại Việt Nam chỉ là một cuộc chiến đáng lẽ sẽ dễ dàng, nhưng Johnson cố tình tránh né điều này. Trong khi thỉnh thoảng ông tuyên bố mạnh mẽ về cuộc chiến, ông không bao giờ chính thức huy động quần chúng Hoa Kỳ bằng cách giải thích rõ ràng lý do Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam. Đây là lỗi lầm lớn nhất mà vị chính khách lão luyện này phạm phải. Người lãnh đạo Hoa Kỳ không thể tham chiến mà không có sự đồng tâm hỗ trợ của quần chúng, và người Hoa Kỳ chỉ tham chiến khi nào họ được thuyết phục rằng đó là một cuộc chiến có lý tưởng. Một vị Tổng Thống Hoa Kỳ không bao giờ nên ra lệnh cho lính của mình tham chiến mà không có sự đồng lòng của tất cả dân chúng.

Khi Johnson can thiệp vào Việt Nam, ông phải đối phó với chiến tranh mà không có sự biết trước để chuẩn bị. Chiến trường xảy ra tại miền Nam Việt Nam, địch quân dùng chiến thuật du kích, và lúc ấy chính quyền Sài Gòn đang quá suy sụp. Ưu tiên đầu của chúng ta là giúp cho người bạn đồng minh đừng rơi vào sự thất bại trước quân du kích Cộng Sản. Nhưng chỉ riêng điều này không đủ giúp cho Việt Nam thoát hiểm. Ưu tiên thứ hai đáng lẽ phải là đẩy lui sự xâm nhập của Bắc Việt qua ngã Lào và Cam Bốt. Và bởi vĩ sau cũng các lực lượng quân sự của Hoa Kỳ sẽ rút lui, ưu tiên thứ ba của chúng ta phải là giúp chuẩn bị cho miền Nam Việt Nam một khả năng tự vệ với cả các đe dọa nội xâm và ngoại xâm.

Từ 1964 đến hết 1968, chiến lược của Hoa Kỳ hầu như chỉ đáp ứng ưu tiên thứ nhất – và vì chúng ta gần như tảng lờ hai ưu tiên kế, đã khiến chúng ta cầm chắc thất bại trong tay. Nếu chúng ta giải quyết cả ba vấn đề trên ngay từ bước đầu tiên khi tham chiến tại Việt Nam, Tổng Thống Johnson đã có thể chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam trước khi ông hết nhiệm kỳ. Ngược lại, nó đã trở thành một cuộc chiến dai dẳng nhất.
Dân chủ không đủ trang bị để chiến đấu trong một cuộc chiến kéo dài hay có nhiều giới hạn. Một chính quyền độc tài toàn trị có thể ép buộc dân của họ tham dự cuộc chiến vô hạn định, nhưng chính quyền dân chủ chỉ chiến đấu hăng say khi có sự hỗ trợ của toàn dân, và ý dân thường không hỗ trợ cho một cuộc chiến thiếu cả quyết, hay kéo dài mà không có triển vọng rõ ràng. Điều đáng ngờ này đã thực sự xảy ra khi chúng ta tham dự một cuộc chiến cách xa nửa vòng trái đất.

Vài người cho rằng lỗi lầm của chúng ta là do không theo sát với châm ngôn của Douglas MacArthur rằng trong chiến tranh chỉ chiến thắng là điều đáng kể. Theo họ, chúng ta nên hoặc không tham chiến hoặc tham chiến hết mình và quyết tâm đạt chiến thắng vô điều kiện như đã làm trong Thế Chiến Thứ Hai. Nhưng ít có chiến tranh nào cho phép chúng ta lựa chọn chỉ một trong hai điều kiện trên. Chiến tranh không giới hạn là một điều rất hiếm. Trừ Đệ Nhị Thế Chiến, chúng ta chưa chạm mặt với một tranh chấp thế giới nào dưới dạng một cuộc chiến toàn diện. Chúng ta không đòi hỏi sự đầu hàng của Madrid trong cuộc chiến giữa Tây Ban Nha – Hoa Kỳ, hay cuộc diễn hành ở Berlin vào Đệ Nhất Thế Chiến; chúng ta đã chấp nhận một cuộc ngưng chiến để chấm dứt chiến tranh Đại Hàn.

Một mục đích rõ ràng là điều tối cần yếu cho thể chế dân chủ khi lâm chiến. Nhưng theo đuổi chiến thắng không chỉ có nghĩa là kéo dài cuộc chiến vô hạn định với mục đích duy nhất là đánh bại địch quân và họ phải đầu hàng. Có những chiến thắng trong một cuộc chiến giới hạn như chiến tranh tại Việt Nam. Chiến thắng phải được định nghĩa bằng những mục tiêu chính trị rõ rệt mà chúng ta có thể đạt đến bằng phương tiện quân sự. Tại Việt Nam, chiến thắng có nghĩa là ngăn chặn sự áp đặt một chính quyền Cộng Sản tại miền Nam Việt Nam. Nhưng khi chúng ta tham dự vào cuộc chiến, chúng ta đã không biết cách dùng sức mạnh quân sự của mình để đưa đến mục đích tối hậu này.

Một chiến lược chu đáo tại Việt Nam đáng ra phải bắt đầu bằng sự nhận thức của năm sự thật sau:
1. Thứ nhất, sân khấu của tranh chấp bao gồm cả Đông Dương. Cam Bốt và Lào cũng bị can dự với vai trò không kém phần quan trọng so với vai trò của miền Nam Việt Nam. Điều này đúng không chỉ vì mục đích tối thượng của Hồ Chí Minh là lập đảng Cộng Sản Đông Dương vốn là thuộc địa của người Pháp trước đây, nhưng còn đúng vì lực lượng quân đội Bắc Việt chiếm đóng và điều hành từ các vùng đất thuộc cả ba quốc gia này.
2. Thứ hai, sự xâm lăng của Bắc Việt là lý do chính của cuộc chiến tại Việt Nam. Khi hoạch định chiến lược, chúng ta cần xác định nguyên ủy cuộc chiến. Kẻ địch có thể nào tiếp tục cuộc chiến nếu không có sự hỗ trợ lớn lao từ miền Bắc Việt Nam? Hay chính thực là sự tham dự của Bắc Việt là điều không thể thiếu trong cách phe địch điều động cuộc chiến? Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta có thể xem đó là một cuộc nội chiến tại miền Nam. Trong trường hợp thứ hai, phải định nghĩa đó là một cuộc ngoại xâm. Nếu chiến tranh Việt Nam là một cuộc nội chiến, Hoa Kỳ không nên can thiệp ngay từ bước đầu. Nhưng tất cả mọi bằng chứng đều cho thấy đó là một cuộc ngoại xâm, với sự xâm lăng bắt đầu từ Bắc Việt Nam.
Chính quyền Johnson có thừa các dữ kiện này, và còn cho xuất bản các tài liệu chứng cớ minh xác chuyện này trong tập “Bạch Thư” (White Papers). Vấn đề của chúng ta không phải là sự thất bại trong nhận thức, nhưng là sự cố ý không muốn hành động một cách thức thời, xứng đáng với các sự thật đã được vạch trần. Giá như chúng ta hành động thích hợp với các dữ kiện này, chúng ta đã có những bước cần thiết để ngăn chặn đường mòn Hồ Chí Minh.
3. Thứ ba, trong khi chúng ta giải quyết việc Bắc Việt Nam xâm nhập qua Lào và Cam Bốt, lý tưởng ra thì miền Nam có thể trách nhiệm chuyện đánh bại quân du kích phá rối trong biên giới miền Nam Việt Nam. Nhưng tình huống tại Việt Nam không lý tưởng đến như thế. Chiến tranh du kích là chiến thuật căn bản của Bắc Việt tại thời điểm mà người Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam. Chúng ta không còn cách nào khác để tránh giao tranh trực tiếp trong cuộc chiến tranh du kích, nhất là khi miền Nam Việt Nam còn quá yếu ớt. Nhưng nếu chúng ta có được một sự phân quyền rõ ràng, các ưu tiên của chúng ta đã khác. Ngay cả khi chúng ta đang chống lại cuộc chiến tranh du kích tại miền Nam, chúng ta đã có thể tập trung nỗ lực vào việc cắt đứt đường tiếp viện và thâm nhập của Bắc Việt cùng lúc với sự huấn luyện quân đồng minh trong việc chống trả các cuộc nội loạn.
4. Thứ Tư, cuộc chiến chống du kích quân Cộng Sản tại miền Nam không thể thành công theo chiến tranh quy ước. Theo truyền thống, một mục tiêu quân sự trong chiến tranh là tiêu diệt lực lượng quân sự của địch thủ. Nhưng cuộc chiến tại Nam Việt Nam mang nhiều tính chiến tranh chính trị cũng như quân sự. Mặt trận chính trị không dựa vào số phiếu dân bầu, nhưng dựa vào chính quyền nào có khả năng kiểm soát vùng làng quê. Chúng ta không cần phải thuyết phục người dân miền Nam Việt Nam rằng Cộng Sản không tốt cho họ. Trừ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, đa số dân Việt đều ghét và chống lại Hà Nội. Nhưng họ không thể ra mặt chống đối quân du kích Cộng Sản trừ khi chúng ta có thể bảo vệ họ để họ không trở thành nạn nhân các vụ trả thù của Cộng Sản. Với vấn đề này, chúng ta không cần có chiến lược chiến thuật vẽ ra kế hoạch làm giảm sức mạnh kẻ địch bằng các chiến dịch truy tầm và tiêu diệt vốn chỉ cho chúng ta sự kiểm soát an ninh nhất thời tại mỗi vùng. Chúng ta cần có một kế hoạch nhằm mở rộng tầm quyền soát và bảo đảm an ninh của chính quyền miền Nam Việt Nam qua các kế hoạch địa phương tự vệ.
5. Thứ năm, như Tổng Thống Eisenhower đã nhấn mạnh với Kennedy vào năm 1961, Lào là chìa khóa cho một chiến lượng toàn thắng. Quân đội Bắc Việt xâm nhập qua đường này, và lực lượng du kích kháng chiến tại miền Nam nương nhờ vào các chỗ ẩn náu an toàn tại cả Lào lẫn Cam Bốt. Đáng ra chúng ta phải có một lực lượng phòng bị lớn ngay tại phía sau vòng phi quân sự để giúp đẩy lui các cuộc xâm nhập dọc theo biên giới từ Lào đến sông Cửu Long và kiểm soát địa thế tại đây để phòng sự xâm lăng của Bắc Việt. Điều này sẽ tăng vùng phi quân sự lên 100 dặm về phía Tây. Quan trọng hơn nữa, nó sẽ giúp tạo ra một biên giới phòng thủ và cắt đường Bắc Việt trong việc tiếp viện lính, quân nhu và quân cụ cho lực lượng du kích tại miền Nam. Vì không có vòng đai phòng thủ này, Bắc Việt đã tự tung tự tác thêm quân và tiếp tế lực lượng chiến đấu của họ. Nếu chúng ta thiết lập vòng đai phòng thủ này, lực lượng miền Nam Việt Nam đã dễ dàng dẹp tan quân kháng chiến một lần rồi không còn lo ngại gì nữa.

Nhưng chúng ta đã không chiến đấu như thế trong chiến tranh tại Việt Nam. Một sự tin tưởng mù quáng vào thuyết “cách mạng giải phóng” vô nghĩa, sự trung thành tuyệt đối vào Hiệp định Geneva về sự trung lập của lãnh thổ Lào, nỗi lo sợ không đúng về sự can thiệp của Trung Cộng vào cuộc chiến, và sự không muốn động viên tinh thần dân chúng Hoa Kỳ vào việc chiến thắng cuộc chiến tại Việt Nam đã dẫn chính quyền Johnson đến việc chấp nhận một chiến lược leo thang chiến tranh một cách nhỏ giọt trong lúc giới hạn chiến trường ngay tại miền Nam Việt Nam. Johnson tuyên bố: “Chúng ta không muốn nới rộng cuộc chiến” và hứa sẽ không tấn công Bắc Việt hay lật đổ Hồ Chí Minh. Nhưng vì không để ý đến sự lo lắng của Bắc Việt là chúng ta có thể dùng tiềm lực quân sự siêu quần của Hoa Kỳ, Johnson đã tự làm mất động lực khiến các nhà lãnh đạo Bắc Việt nghĩ đến chuyện ngừng cuộc chiến xâm lược miền Nam.

Từ 1964 đến hết 1968, chúng ta bị mắc kẹt giữa ý muốn giới hạn chiến tranh của chính mình, và biệt tài kéo dài một cuộc chiến vô hạn của chúng ta. Hậu quả là quân lực Hoa Kỳ phải chiến đấu trong một cuộc chiến không thích hợp, với chiến lược chiến thuật không thích hợp.

Trong suốt các năm đầu tiên khi người Mỹ tham chiến, chúng ta theo đuổi hai chiến lược hoàn toàn không hữu hiệu. Tại Nam Việt Nam, chúng ta cố gắng trong một cuộc chiến làm tiêu hao lực lượng Hoa Kỳ. Nhưng chúng ta đã không nhìn ra rằng Hoa Kỳ sẽ không thể thắng nếu chúng ta không cắt đứt con đường xâm nhập và tiếp vận của quân Bắc Việt qua ngã Lào và Cam Bốt, đồng thời phải bảo vệ dân chúng miền quê trước sự đe dọa của quân Việt Cộng nằm vùng. Tại Bắc Việt Nam, chúng ta đã tự giới hạn chặt chẽ áp lực quân sự của mình và chỉ tăng nhỏ giọt trong hy vọng khiến Bắc Việt ngồi vào bàn hòa ước. Đáng ra chúng ta phải biết rõ rằng Hoa Kỳ không bao giờ có thể dẫn dụ được Hồ Chí Minh bỏ rơi cuộc chiến cho chính ông ta khởi động. Đáng ra chúng ta phải bắt buộc Hồ từ bỏ tham vọng này.

Đánh bại quân du kích nằm vùng có tổ chức chặt chẽ là điều rất khó khăn. Có người còn cho rằng đây là một điều không thể. Nhưng các lực lượng cách mạng dùng du kích chiến đã thất bại nhiều hơn là thành công. Hy Lạp đánh bại quân du kích Cộng Sản ngay lập tức sau Đệ Nhị Thế Chiến. Việc này cũng xảy ra tại Thái Lan, Phi Luật Tân, và Mã Lai. Du kích chiến là chiến thuật của kẻ yếu. Do đó, cơ hội thành công của họ thực ra không nhiều.

Một chuyên gia về chiến thuật du kích nhận xét rằng sự thành công của quân phiến loạn tùy thuộc vào việc cuộc cách mạng ấy có chính nghĩa hay không và có tổ chức hữu hiệu hay không. Nếu hội đủ cả hai điều kiện, thì cuộc nổi dậy hầu như chắc chắn thành công. Nếu thiếu cả hai, thì ngay cả một chính quyền yếu kém nhất cũng không bị lật đổ. Nếu có chính nghĩa nhưng thiếu tổ chức, thì chính quyền đương thời sẽ dẹp tắt cuộc nổi dậy dễ dàng. Nhưng nếu họ thiếu chính nghĩa mà có tổ chức mạnh mẽ và hiệu quả, thì cuộc chiến sẽ kéo dài thành ra vô cùng dai dẳng. Đó là trường hợp cuộc chiến tại Việt Nam.

Cuộc chiến tại Việt Nam có hai mặt: chính trị và quân sự.

Cộng Sản tiến hành chiến tranh chính trị của họ từ các làng xóm. Họ đã không chỉ rải truyền đơn tuyên truyền mong được sự ủng hộ của dân chúng, nhưng thực ra là các kế hoạch tàn nhẫn nhằm thay đổi nhà cầm quyền địa phương bằng người nằm vùng của họ. Trước tiên, họ tìm cách tiêu diệt chính quyền địa phương của miền Nam Việt Nam bằng cách ám sát hoặc bắt cóc những người này. Thứ hai, họ tìm cách khích động cho người dân miền Nam trở thành kẻ chống đối chính quyền trung ương. Quân du kích nằm vùng tìm cách hoặc xúi xiểm nông dân khiến họ thù hận chính quyền bằng cách đưa lên các vụ khiếu kiện và thổi phồng các điều oán than, hay nếu điều này không thành công, họ trở mặt khủng bố dân lành bằng bạo lực để ép người dân phải nghe lời.

Bên ngoài làng xã, Cộng sản tiến hành cuộc chiến tranh quân sự bằng chiến thuật du kích. Các đơn vị cỡ trung đội được rải mỏng vào vùng núi đồi. Họ được triển khai thành các nhóm riêng biệt chỉ nhằm đánh rỗi rút lui, và chỉ tập hợp lại cho các vụ tấn công lớn.

Cả hai mặt trận chính trị và quân sự này được nối kết chặt chẽ với nhau: mặt trận chính trị giúp tạo môi trường thích hợp cho sự tấn công bằng quân sự. Vài người Việt đã có thể gia nhập lực lượng Cộng Sản một cách tự nguyện, nhưng đa số phải thuần phục chỉ vì quân du kích Cộng Sản có súng.

Những người tình nguyện theo Cộng Sản được đưa vào một hệ thống bí mật, hay các cơ sở hạ tầng trong làng xóm. Hệ thống nằm vùng này theo dõi những ai cộng tác với chính phủ quốc gia. Họ cung cấp cho quân kháng chiến nhu liệu, tin tức tình báo, và thêm lính mới tuyển mộ được. Họ giúp quân du kích tìm chỗ ở, lương thực, chỗ dấu khí giới, và con đường thoát khỏi các vụ tuần tra của lính quốc gia. Nếu không có hệ thống hạ tầng cơ sở với khoảng 10 phần trăm dân địa phương là cán bộ nằm vùng này, chiến tranh du kích không thể tồn tại.

Nhưng sự kiểm soát của Cộng Sản tại miền quê tùy thuộc vào việc họ tạo ra một không khí khủng bố, làm người dân sợ hãi. Ban ngày, lính quốc gia có thể đi tuần trên đường làng. Nhưng khi đêm xuống, khi lính về đồn, Cộng Sản nằm vùng tha hồ tự tung tự tác trong các làng quê. Hai mươi người lính quốc gia không thể nào bảo vệ tất cả dân làng từ một đồn lính đóng tại mỗi góc trong khu vực rộng hai mươi dặm. Khi cán bộ Cộng Sản xuất hiện trước cửa nhà dân, không một người tỉnh trí nào lại từ chối không cộng tác và thi hành điều Cộng Sản đòi hỏi, cho dù đó là đóng 10 ký gạo hay nộp thằng con trai cho đi theo đoàn quân du kích.
Chúng ta có 3 chiến lược khả dĩ đối phó được với chiến thuật du kích của địch. Chúng ta có thể đập tan lực lượng du kích để làm tiêu hao quân lực của họ. Chúng ta có thể nhổ sạch tận gốc bọn nằm vùng tại các làng xã. Và chúng ta có thể làm cả hai điều cùng một lúc.

Tiến hành song song hai mặt trận quân sự và chính trị cùng một lúc là chìa khóa cho chiến thắng. Đã có nhiều bàn cãi về chủ thuyết chống quân phiến loạn dưới thời Kennedy và Johnson. Nhưng không chính quyền nào đưa ra được một chiến lược có thể đánh bại quân du kích nằm vùng trên cả hai phương diện như người Anh đã làm tại Mã Lai Á. Nỗ lực của chúng ta nhằm xây dựng dân chủ và phát triển kinh tế đã không có khả năng làm chùn bước Bắc Việt trong việc xâm lăng miền Nam và cũng không giúp tăng cường khả năng kiểm soát làng xã của chính phủ Sài Gòn.

Thuyết “chống sự nổi dậy” của chúng ta cuối cùng chỉ có nghĩa là chúng ta phải chiến đấu ngay trên lãnh thổ của miền Nam Việt Nam. Những lực lượng đặc biệt, như Lính Mũ Xanh (Green Berets) và Trung đội Tổng Hợp (Combine Action Platoons), với chủ đích bảo vệ an ninh và bứng gốc hạ tầng cơ sở của Cộng Sản, đã không đi quá ưu tiên thấp chỉ nhằm trình diễn. Các cố vấn quân sự Hoa Kỳ huấn luyện quân đội miền Nam Việt Nam cách chống chiến tranh quy ước, và chính lực lượng của chúng ta lại làm bộ như chúng ta đang tham dự một cuộc chiến tranh quy ước tại Âu Châu hay Đại Hàn.

Đại Tướng Earle Wheeler, Tư lệnh quân sự, nói năm 1962: “Người ta thích nói một cách thời thượng rằng vấn đề chính tại Đông Nam Á là kinh tế và chính trị hơn là quân sự. Tôi không đồng ý. Vấn đề chính yếu tại đây là quân sự.” Ngũ Giác Đài, vốn được giao cho trách nhiệm điều hành diễn biến hàng ngày tại Việt Nam sau khi xảy ra thảm họa Bay of Pigs, tiến hành việc soạn thảo giải pháp hoàn toàn quân sự. Đó là chiến lược tấn công vào quân lực địch. Lực lượng của chúng ta “truy lùng và tiêu diệt “ các lực lượng lớn và căn cứ của Cộng Sản. Điều này, cộng với nỗ lực cắt đứt đường xâm nhập và tiếp viện từ Bắc Việt, sẽ đưa đến việc làm quân lực Cộng Sản “bị tiêu diệt dần dần”.

Truy lùng và tiêu diệt trở thành chiến thuật chính của chúng ta. Trên lý thuyết, lực lượng Hoa Kỳ sẽ dùng khả năng pháo binh siêu quần và sự chuyển vận nhanh chóng để giải phóng các vùng bị địch quân chiếm đóng rồi sau đó trao lại cho quân lực miền Nam Việt Nam để họ có thể tận diệt hạ tầng cơ sở của Việt Cộng nằm vùng và bảo đảm an ninh lâu dài cho dân chúng. Trên thực tế, miền Nam Việt Nam không đủ sức phụ trợ kế hoạch tiếp theo các chiến thắng này vì thiếu nhân sự có huấn luyện vững vàng. Chúng ta có tổng cộng hàng trăm chiến thắng về quân sự - thường là đoạt lại một quả đồi nhiều lần – nhưng không đưa đến chiến thắng thực sự trong cuộc chiến. Nhiều vùng đất được giải thoát khỏi sự kiểm soát của Cộng Quân nhưng rồi lại rơi vào tay Việt Cộng ngay sau khi quân lính chúng ta rút đi.

Vì chúng ta đã không để ý đến khía cạnh chính trị, chúng ta đã dậm chân tại chỗ. Trong khi lính của chúng ta bỏ thời giờ truy lùng, giao tranh, và tiêu diệt các đội binh lớn của Cộng Sản, thì Việt Cộng kiểm soát làng xã. Sự có mặt của Việt Cộng nằm vùng tại đây luôn luôn được người dân cảm nhận. Hệ thống hạ tầng cơ sở của họ không hề hấn gì. Lính Việt Cộng trở lại làng vài ngày sau khi chúng ta rút đi, và nỗ lực gây chiến của họ không hề thay đổi.

Khi quân đội Anh chủ trương giải pháp hoàn toàn quân sự tại Mã Lai, Ngài Robert Thompson, chuyên gia chống phiến loạn, đã bất đồng ý kiến và nói: “Các vụ thả bom, hàng loạt trực thăng, khả năng phi pháo mạnh mẽ, … tất cả đều rất tốt, nhưng không điều nào trong sức mạnh quân sự này có thể tận diệt tổ Cộng Sản núp trong các trường học với khả năng tuyển mộ 50 lính một năm vào các đoàn quân nằm vùng.” Tại Việt Nam, trong lúc chúng ta chiến đấu tại vùng đồi núi, Việt Cộng tự tung tự tác trong các xóm nghèo.

Chỉ chú trọng tấn công vào quân đội Cộng Sản bằng quân sự là một chiến lược sai lầm chết người. Chúng ta đã xem thường khả năng bù đắp thiệt hại chiến trường của địch quân bằng cách tăng quân thâm nhập vào từ miền Bắc. Mặc cho chúng ta mở ra những trận chiến quyết liệt, họ có thể tránh né bằng cách lẩn trốn chúng ta, hay rút lui vào các khu trú ẩn an toàn tại Cam Bốt và Lào. Du kích quân Cộng Sản nhận được tin tức nhạy bén về mọi di chuyển của lính Mỹ do hệ thống nằm vùng tại thành phố và làng xã cung cấp. Nếu du kích quân Cộng Sản không muốn giao tranh, họ chỉ cần nằm yên cho quân đội Hoa Kỳ đi qua vùng họ chiếm đóng. Trong chiến tranh du kích, vì quân du kích có sự chủ động, nên Việt Cộng có thể kiểm soát được mức tử vong của họ và tránh né các cuộc tấn công quân sự ngang tầm với họ.

Chiến lược của chúng ta nói chung đã thất bại vì chúng ta không ngăn chặn luồng sóng xâm nhập đều đặn của quân chính quy Bắc Việt qua đường mòn Hồ Chí Minh từ Bắc vào Nam. Sự thành công của chiến tranh quy ước tùy thuộc vào việc chúng ta vượt qua được mức sự tổn thất của địch lớn hơn khả năng tuyển lính mới từ miền Nam và nhận quân tiếp viện từ miền Bắc. Mức quyết định này đã không bao giờ đạt được. Từ tháng giêng 1965 cho hết tháng chạp 1967, quân Cộng Sản tử thương tất cả 344,000 người với 179,000 lính chết ngay trên chiến trường. Thế nhưng lực lượng Cộng Sản tại miền Nam lại tăng từ 181,000 vào tháng 12/1964 lên đến 262,000 vào tháng 12/1967. Qua 3 năm này, Bắc Việt và lính tuyển mộ tại miền Nam đã tiếp vận trên 400,000 lính. Thống kê dân số cho thấy mức cung cấp này có thể tiếp tục: mỗi năm có 120,000 thanh niên miền Bắc đến tuổi nhập ngũ.

Đáng ra, chúng ta phải nhìn thấy rằng không thể thắng cuộc chiến bằng cách tấn công quân sự vào du kích quân miền Nam khi đường mòn Hồ Chí Minh còn tiếp tục được phép hoạt động. Nhưng trong suốt thời gian Hoa Kỳ tham dự sâu hơn vào cuộc chiến, chúng ta chưa bao giờ tạo ra một chiến lược loại bỏ sự xâm nhập miền Nam của Bắc Việt.

Từ 1965 đến 1968, Hoa Kỳ có chiến dịch thả bom miền Bắc. Mục tiêu của Tổng Thống Johnson là chính trị, không phải quân sự. Ông ta không cố ý ngăn chặn sự xâm nhập của Bắc Việt , mà chỉ muốn giúp cho quân đội miền Nam lên tinh thần, và làm cho Hà Nội phải tổn phí nhiều hơn khi tiếp vận lính và quân nhu vào miền Nam.


Trong suốt các năm đầu tiên khi người Mỹ tham chiến, chúng ta theo đuổi hai chiến lược hoàn toàn không hữu hiệu. Tại Nam Việt Nam, chúng ta cố gắng trong một cuộc chiến làm tiêu hao lực lượng Hoa Kỳ. Nhưng chúng ta đã không nhìn ra rằng Hoa Kỳ sẽ không thể thắng nếu chúng ta không cắt đứt con đường xâm nhập và tiếp vận của quân Bắc Việt qua ngã Lào và Cam Bốt, đồng thời phải bảo vệ dân chúng miền quê trước sự đe dọa của quân Việt Cộng nằm vùng. Tại Bắc Việt Nam, chúng ta đã tự giới hạn chặt chẽ áp lực quân sự của mình và chỉ tăng nhỏ giọt trong hy vọng khiến Bắc Việt ngồi vào bàn hòa ước. Đáng ra chúng ta phải biết rõ rằng Hoa Kỳ không bao giờ có thể dẫn dụ được Hồ Chí Minh bỏ rơi cuộc chiến cho chính ông ta khởi động. Đáng ra chúng ta phải bắt buộc Hồ từ bỏ tham vọng này.

Đánh bại quân du kích nằm vùng có tổ chức chặt chẽ là điều rất khó khăn. Có người còn cho rằng đây là một điều không thể. Nhưng các lực lượng cách mạng dùng du kích chiến đã thất bại nhiều hơn là thành công. Hy Lạp đánh bại quân du kích Cộng Sản ngay lập tức sau Đệ Nhị Thế Chiến. Việc này cũng xảy ra tại Thái Lan, Phi Luật Tân, và Mã Lai. Du kích chiến là chiến thuật của kẻ yếu. Do đó, cơ hội thành công của họ thực ra không nhiều.

Một chuyên gia về chiến thuật du kích nhận xét rằng sự thành công của quân phiến loạn tùy thuộc vào việc cuộc cách mạng ấy có chính nghĩa hay không và có tổ chức hữu hiệu hay không. Nếu hội đủ cả hai điều kiện, thì cuộc nổi dậy hầu như chắc chắn thành công. Nếu thiếu cả hai, thì ngay cả một chính quyền yếu kém nhất cũng không bị lật đổ. Nếu có chính nghĩa nhưng thiếu tổ chức, thì chính quyền đương thời sẽ dẹp tắt cuộc nổi dậy dễ dàng. Nhưng nếu họ thiếu chính nghĩa mà có tổ chức mạnh mẽ và hiệu quả, thì cuộc chiến sẽ kéo dài thành ra vô cùng dai dẳng. Đó là trường hợp cuộc chiến tại Việt Nam.

Cuộc chiến tại Việt Nam có hai mặt: chính trị và quân sự.

Cộng Sản tiến hành chiến tranh chính trị của họ từ các làng xóm. Họ đã không chỉ rải truyền đơn tuyên truyền mong được sự ủng hộ của dân chúng, nhưng thực ra là các kế hoạch tàn nhẫn nhằm thay đổi nhà cầm quyền địa phương bằng người nằm vùng của họ. Trước tiên, họ tìm cách tiêu diệt chính quyền địa phương của miền Nam Việt Nam bằng cách ám sát hoặc bắt cóc những người này. Thứ hai, họ tìm cách khích động cho người dân miền Nam trở thành kẻ chống đối chính quyền trung ương. Quân du kích nằm vùng tìm cách hoặc xúi xiểm nông dân khiến họ thù hận chính quyền bằng cách đưa lên các vụ khiếu kiện và thổi phồng các điều oán than, hay nếu điều này không thành công, họ trở mặt khủng bố dân lành bằng bạo lực để ép người dân phải nghe lời.

Bên ngoài làng xã, Cộng sản tiến hành cuộc chiến tranh quân sự bằng chiến thuật du kích. Các đơn vị cỡ trung đội được rải mỏng vào vùng núi đồi. Họ được triển khai thành các nhóm riêng biệt chỉ nhằm đánh rỗi rút lui, và chỉ tập hợp lại cho các vụ tấn công lớn.
Cả hai mặt trận chính trị và quân sự này được nối kết chặt chẽ với nhau: mặt trận chính trị giúp tạo môi trường thích hợp cho sự tấn công bằng quân sự. Vài người Việt đã có thể gia nhập lực lượng Cộng Sản một cách tự nguyện, nhưng đa số phải thuần phục chỉ vì quân du kích Cộng Sản có súng.

Những người tình nguyện theo Cộng Sản được đưa vào một hệ thống bí mật, hay các cơ sở hạ tầng trong làng xóm. Hệ thống nằm vùng này theo dõi những ai cộng tác với chính phủ quốc gia. Họ cung cấp cho quân kháng chiến nhu liệu, tin tức tình báo, và thêm lính mới tuyển mộ được. Họ giúp quân du kích tìm chỗ ở, lương thực, chỗ dấu khí giới, và con đường thoát khỏi các vụ tuần tra của lính quốc gia. Nếu không có hệ thống hạ tầng cơ sở với khoảng 10 phần trăm dân địa phương là cán bộ nằm vùng này, chiến tranh du kích không thể tồn tại.

Nhưng sự kiểm soát của Cộng Sản tại miền quê tùy thuộc vào việc họ tạo ra một không khí khủng bố, làm người dân sợ hãi. Ban ngày, lính quốc gia có thể đi tuần trên đường làng. Nhưng khi đêm xuống, khi lính về đồn, Cộng Sản nằm vùng tha hồ tự tung tự tác trong các làng quê. Hai mươi người lính quốc gia không thể nào bảo vệ tất cả dân làng từ một đồn lính đóng tại mỗi góc trong khu vực rộng hai mươi dặm. Khi cán bộ Cộng Sản xuất hiện trước cửa nhà dân, không một người tỉnh trí nào lại từ chối không cộng tác và thi hành điều Cộng Sản đòi hỏi, cho dù đó là đóng 10 ký gạo hay nộp thằng con trai cho đi theo đoàn quân du kích.

Chúng ta có 3 chiến lược khả dĩ đối phó được với chiến thuật du kích của địch. Chúng ta có thể đập tan lực lượng du kích để làm tiêu hao quân lực của họ. Chúng ta có thể nhổ sạch tận gốc bọn nằm vùng tại các làng xã. Và chúng ta có thể làm cả hai điều cùng một lúc.

Tiến hành song song hai mặt trận quân sự và chính trị cùng một lúc là chìa khóa cho chiến thắng. Đã có nhiều bàn cãi về chủ thuyết chống quân phiến loạn dưới thời Kennedy và Johnson. Nhưng không chính quyền nào đưa ra được một chiến lược có thể đánh bại quân du kích nằm vùng trên cả hai phương diện như người Anh đã làm tại Mã Lai Á. Nỗ lực của chúng ta nhằm xây dựng dân chủ và phát triển kinh tế đã không có khả năng làm chùn bước Bắc Việt trong việc xâm lăng miền Nam và cũng không giúp tăng cường khả năng kiểm soát làng xã của chính phủ Sài Gòn.

Thuyết “chống sự nổi dậy” của chúng ta cuối cùng chỉ có nghĩa là chúng ta phải chiến đấu ngay trên lãnh thổ của miền Nam Việt Nam. Những lực lượng đặc biệt, như Lính Mũ Xanh (Green Berets) và Trung đội Tổng Hợp (Combine Action Platoons), với chủ đích bảo vệ an ninh và bứng gốc hạ tầng cơ sở của Cộng Sản, đã không đi quá ưu tiên thấp chỉ nhằm trình diễn. Các cố vấn quân sự Hoa Kỳ huấn luyện quân đội miền Nam Việt Nam cách chống chiến tranh quy ước, và chính lực lượng của chúng ta lại làm bộ như chúng ta đang tham dự một cuộc chiến tranh quy ước tại Âu Châu hay Đại Hàn.

Đại Tướng Earle Wheeler, Tư lệnh quân sự, nói năm 1962: “Người ta thích nói một cách thời thượng rằng vấn đề chính tại Đông Nam Á là kinh tế và chính trị hơn là quân sự. Tôi không đồng ý. Vấn đề chính yếu tại đây là quân sự.” Ngũ Giác Đài, vốn được giao cho trách nhiệm điều hành diễn biến hàng ngày tại Việt Nam sau khi xảy ra thảm họa Bay of Pigs, tiến hành việc soạn thảo giải pháp hoàn toàn quân sự. Đó là chiến lược tấn công vào quân lực địch. Lực lượng của chúng ta “truy lùng và tiêu diệt “ các lực lượng lớn và căn cứ của Cộng Sản. Điều này, cộng với nỗ lực cắt đứt đường xâm nhập và tiếp viện từ Bắc Việt, sẽ đưa đến việc làm quân lực Cộng Sản “bị tiêu diệt dần dần”.

Truy lùng và tiêu diệt trở thành chiến thuật chính của chúng ta. Trên lý thuyết, lực lượng Hoa Kỳ sẽ dùng khả năng pháo binh siêu quần và sự chuyển vận nhanh chóng để giải phóng các vùng bị địch quân chiếm đóng rồi sau đó trao lại cho quân lực miền Nam Việt Nam để họ có thể tận diệt hạ tầng cơ sở của Việt Cộng nằm vùng và bảo đảm an ninh lâu dài cho dân chúng. Trên thực tế, miền Nam Việt Nam không đủ sức phụ trợ kế hoạch tiếp theo các chiến thắng này vì thiếu nhân sự có huấn luyện vững vàng. Chúng ta có tổng cộng hàng trăm chiến thắng về quân sự - thường là đoạt lại một quả đồi nhiều lần – nhưng không đưa đến chiến thắng thực sự trong cuộc chiến. Nhiều vùng đất được giải thoát khỏi sự kiểm soát của Cộng Quân nhưng rồi lại rơi vào tay Việt Cộng ngay sau khi quân lính chúng ta rút đi.

Vì chúng ta đã không để ý đến khía cạnh chính trị, chúng ta đã dậm chân tại chỗ. Trong khi lính của chúng ta bỏ thời giờ truy lùng, giao tranh, và tiêu diệt các đội binh lớn của Cộng Sản, thì Việt Cộng kiểm soát làng xã. Sự có mặt của Việt Cộng nằm vùng tại đây luôn luôn được người dân cảm nhận. Hệ thống hạ tầng cơ sở của họ không hề hấn gì. Lính Việt Cộng trở lại làng vài ngày sau khi chúng ta rút đi, và nỗ lực gây chiến của họ không hề thay đổi.

Khi quân đội Anh chủ trương giải pháp hoàn toàn quân sự tại Mã Lai, Ngài Robert Thompson, chuyên gia chống phiến loạn, đã bất đồng ý kiến và nói: “Các vụ thả bom, hàng loạt trực thăng, khả năng phi pháo mạnh mẽ, … tất cả đều rất tốt, nhưng không điều nào trong sức mạnh quân sự này có thể tận diệt tổ Cộng Sản núp trong các trường học với khả năng tuyển mộ 50 lính một năm vào các đoàn quân nằm vùng.” Tại Việt Nam, trong lúc chúng ta chiến đấu tại vùng đồi núi, Việt Cộng tự tung tự tác trong các xóm nghèo.

Chỉ chú trọng tấn công vào quân đội Cộng Sản bằng quân sự là một chiến lược sai lầm chết người. Chúng ta đã xem thường khả năng bù đắp thiệt hại chiến trường của địch quân bằng cách tăng quân thâm nhập vào từ miền Bắc. Mặc cho chúng ta mở ra những trận chiến quyết liệt, họ có thể tránh né bằng cách lẩn trốn chúng ta, hay rút lui vào các khu trú ẩn an toàn tại Cam Bốt và Lào. Du kích quân Cộng Sản nhận được tin tức nhạy bén về mọi di chuyển của lính Mỹ do hệ thống nằm vùng tại thành phố và làng xã cung cấp. Nếu du kích quân Cộng Sản không muốn giao tranh, họ chỉ cần nằm yên cho quân đội Hoa Kỳ đi qua vùng họ chiếm đóng. Trong chiến tranh du kích, vì quân du kích có sự chủ động, nên Việt Cộng có thể kiểm soát được mức tử vong của họ và tránh né các cuộc tấn công quân sự ngang tầm với họ.

Chiến lược của chúng ta nói chung đã thất bại vì chúng ta không ngăn chặn luồng sóng xâm nhập đều đặn của quân chính quy Bắc Việt qua đường mòn Hồ Chí Minh từ Bắc vào Nam. Sự thành công của chiến tranh quy ước tùy thuộc vào việc chúng ta vượt qua được mức sự tổn thất của địch lớn hơn khả năng tuyển lính mới từ miền Nam và nhận quân tiếp viện từ miền Bắc. Mức quyết định này đã không bao giờ đạt được. Từ tháng giêng 1965 cho hết tháng chạp 1967, quân Cộng Sản tử thương tất cả 344,000 người với 179,000 lính chết ngay trên chiến trường. Thế nhưng lực lượng Cộng Sản tại miền Nam lại tăng từ 181,000 vào tháng 12/1964 lên đến 262,000 vào tháng 12/1967. Qua 3 năm này, Bắc Việt và lính tuyển mộ tại miền Nam đã tiếp vận trên 400,000 lính. Thống kê dân số cho thấy mức cung cấp này có thể tiếp tục: mỗi năm có 120,000 thanh niên miền Bắc đến tuổi nhập ngũ.

Đáng ra, chúng ta phải nhìn thấy rằng không thể thắng cuộc chiến bằng cách tấn công quân sự vào du kích quân miền Nam khi đường mòn Hồ Chí Minh còn tiếp tục được phép hoạt động. Nhưng trong suốt thời gian Hoa Kỳ tham dự sâu hơn vào cuộc chiến, chúng ta chưa bao giờ tạo ra một chiến lược loại bỏ sự xâm nhập miền Nam của Bắc Việt.

Từ 1965 đến 1968, Hoa Kỳ có chiến dịch thả bom miền Bắc. Mục tiêu của Tổng Thống Johnson là chính trị, không phải quân sự. Ông ta không cố ý ngăn chặn sự xâm nhập của Bắc Việt , mà chỉ muốn giúp cho quân đội miền Nam lên tinh thần, và làm cho Hà Nội phải tổn phí nhiều hơn khi tiếp vận lính và quân nhu vào miền Nam.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét