Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2011

TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT (GENEVE 1954)

Francois Joyaux
Bản dịch của Nxb Thông Tin Lý Luận

Chương III

BỐN “NƯỚC LỚN” MỜI TRUNG QUỐC ĐẾN GENÈVE

“Một cuộc hội nghị bao gồm cả Trung Quốc tự nó là một bước tiến trên con đường dẫn đến cải thiện quan hệ giữa các nước lớn và giảm tình hình căng thẳng. Các nước lớn có trách nhiệm đặc biệt bảo vệ hòa bình và an ninh các dân tộc” (Nhân dân nhật báo, 22/2/1954)


TIẾN TỚI MỘT CUỘC THƯƠNG LƯỢNG QUỐC TẾ VỀ ĐÔNG DƯƠNG

Trung Quốc lo sợ Mỹ can thiệp vào Đông Dương

Từ bốn năm nay, Trung Quốc không ngừng tố cáo Mỹ can thiệp vào cuộc xung đột ở Đông Dương, nhất là tố cáo việc trợ quân sự của Mỹ cho quân đội Liên hiệp Pháp từ 1950. Ngũ Tu Quyền [Wu Xiuquan/吴修权], được Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc mời đến trình bày quan điểm của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đối với cuộc chiến tranh Triều Tiên đã tuyên bố:
“Cuộc vũ trang xâm lược của Mỹ đối với Đài Loan không tách rời sự can thiệp của Mỹ vào công việc nội [138] bộ của nước Việt Nam (dân chủ) cộng hòa, việc Mỹ ủng hộ bọn xâm lược Pháp và chế độ bù nhìn Bảo Đại và việc chúng tiến công vũ trang chống lại nhân dân Việt Nam (…) Ủng hộ cuộc xâm lược đó và chế độ bù nhìn chống lại nhân dân Việt Nam, chính phủ Mỹ không phải chỉ kéo dài cuộc xâm lược Việt Nam mà còn đe dọa biên giới nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa,. Nhân dân Trung Quốc không thể không lo ngại sâu sắc về sự phát triển của mưu đồ xâm lược của chính phủ Mỹ chống lại Việt Nam1.

Từ năm 1950 đến 1953, truyên truyền của Trung Quốc tiếp diễn không mệt mỏi theo cùng một giọng điệu như vậy. Mọi hành động và cử chỉ của Mỹ đã được ghi chép cẩn thận và khai thác - không phải là không tùy tiện ít nhiều đối với sự thật lịch sử. Ngay từ sau khi Nhật Bản thua trận, Trung Quốc kết tội Mỹ đã làm mọi việc có thể làm để làm giúp đỡ “thực dân Pháp lấy lại Đông Dương”2 và lập Chính phủ “bù nhìn” của cựu hoàng Bảo Đại. Một cách có ý nghĩa, tập biên niên sử quan trọng về các sự kiện Đông Dương do tạp chí Thế giới trí thức công bố trước khi hội nghị Genève họp, dành 85 đề mục trong tổng số 181, nói về các hoạt động của Mỹ ở bán đảo Đông Dương trong thời gian từ 1950 đến 19543. Đặc biệt Trung Quốc nêu bật động cơ kinh tế và chiến lược xâm lược của Mỹ là muốn chiếm lấy các mỏ chính và [139] sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam4, biến các cảng Hải Phòng và Sài Gòn thành những căn cứ của Mỹ hoặc bằng cách đặt chân ở đó, kiểm soát bán đảo Mã Lai5. Từ nhiều năm nay, Chính phủ Bắc Kinh không ngừng trình bày chính sách của Mỹ về Đông Dương như là một trong những yếu tố của kế hoạch xâm lăng Trung Quốc cũng như việc Mỹ chiếm đóng Triều Tiên và Đài Loan.

Sau Hiệp định đình chiến Bàn Môn Điếm, việc Mỹ tăng cường viện trợ cho Pháp, xem ra không phải là không có lý do, có quy mô đáng lo ngại hơn nữa đối với Trung Quốc6 . Như vậy, Trung Quốc cho là có mối hiểm nguy lớn, khi thấy Mỹ, do phải cung cấp phần lớn chi phí của Pháp ở Viễn Đông đòi hỏi tham gia ngày càng nhiều trong việc chỉ huy các cuộc hành quân. Cũng không cần nói đến những khía cạnh thuần túy quân sự và quốc tế của vấn đề, có phải chính phủ Washington quả thấy ngày càng khó để cho tiền của người đóng thuế ở Mỹ bị đem phung phí trong một cuộc chiến [140] tranh mà theo một số người chỉ huy quân sự đang sa lầy vì nó không được tiến hành một cách đủ kiên quyết. Hiểu kỹ về tình hình dư luận ở Pháp, Trung Quốc biết rằng một bộ phận dư luận đó là cánh tả, tha thiết mong muốn mở cuộc thương lượng. Báo chí Trung Quốc trong những năm 1953-1954 không ngừng đăng lại những ý kiến đặc sắc nhất của bộ phận dư luận đó7. Nhưng chính phủ Bắc Kinh cũng biết rằng có một khuynh hướng quan trọng trong cánh hữu mong muốn Mỹ thay thế quân đội Pháp ở Đông Dương8. Đó lại là một lý do phụ nữa cho mối lo sợ của Trung Quốc về việc “Mỹ hóa” cuộc xung đột.

Thêm vào những đòi hỏi cấp thiết của chính sách kinh tế nội bộ, tình hình quốc tế cũng thúc đẩy Trung Quốc từ giữa năm 1953 hướng về một giải pháp thương lượng mà chỉ có như vậy mới tránh được sự can thiệp ồ ạt của Mỹ ở Đông Dương. Vì vậy, từ lúc đình chiến Triều Tiên, chính phủ Bắc Kinh bắt đầu nói rõ ràng, đối với Trung Quốc sự kiện đó phải được coi là bước đầu tiên tiến tới một nền hòa bình chung ở châu Á. Ngay hôm sau Hiệp định đình chiến Bàn Môn Điếm, Nhân dân nhật báo viết rằng: “Không có cuộc xung đột quốc tế nào không thể giải quyết được bằng thương lượng”9. Ngày 24/8, Chu Ân Lai tuyên bố công khai rằng, có thể thảo luận “các vấn đề khác” sau khi [141] giải quyết hòa bình vấn đề Triều Tiên10. Quách Mạt Nhược [郭沫若/Guo Kaizhen], Chủ tịch Ủy ban hòa bình Trung Quốc cũng viết rằng đình chiến tháng bảy là một “thí dụ điển hình về việc có thể giải quyết các cuộc tranh chấp quốc tế bằng thương lượng”11. Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 8 ngày Nhật Bản thua trận, bài xã luận quan trọng của Nhân dân nhật báo một lần nữa tố cáo “Bọn xâm lược Mỹ chiếm đóng Đài Loan, một đảo của Trung Quốc, công khai can thiệp vào các cuộc chiến tranh giải phóng của các dân tộc Việt Nam và Philipines và bằng đe dọa, mua chuộc cùng các phương tiện gian dối khác, tìm cách mở rộng sự xâm lược đối với các nước láng giềng của Trung Quốc ở Đông Nam Á”. Nhưng đồng thời, bài xã luận viết tiếp: “Dư luận ở châu Á và phần còn lại của thế giới đòi hỏi rằng cuộc đình chiến Triều Tiên phải đưa đến hòa bình ở toàn châu Á (…)12. Ý muốn đi đến thương lượng về Đông Dương còn được đại diện của Pháp tại Bắc Kinh xác nhận13.

Bắt đầu từ tháng 9/1953, thái độ của Trung Quốc được xác định rõ hơn nữa14. Ngày 13, đài phát [142] thanh Trung Quốc đã gợi ý mở các cuộc đàm phán, bằng cách khẳng định rằng “lực lượng đã buộc đồng minh ký Hiệp định đình chiến về Triều Tiên cũng có thể buộc bọn đế quốc hạ vũ khí ở Việt Nam”15. Ngày 1/10, nhân dịp quốc khánh, Chính phủ Trung Quốc nhắc lại một trong những nghị quyết của Đại hội hòa bình ở Bắc Kinh họp tháng 10/1952 và đã thêm vào những khẩu hiệu quen thuộc về vấn đề Đông Dương một câu nhấn mạnh đến khả năng thương lượng hòa bình16.

Tuy nhiên, luận điệu của Trung Quốc, cho tới lúc đó, còn khá dè dặt trong chừng mực. Việt Minh, về phần mình, hình như còn có thái độ rất dè dặt đối với phương hướng mới đã phát triển ở Bắc Kinh (và nhất là Moskva). Tuyên truyền của Việt Minh tiếp tục nhấn mạnh cần phải kháng chiến trường kỳ, nhấn mạnh nguy cơ của “hòa bình giả hiệu” và “độc lập giả hiệu”.

Trong lời kêu gọi ngày 2/9/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh bác bỏ mọi tư tưởng thỏa hiệp và khẳng định hòa bình chỉ có thể là kết quả của “thắng lợi cuối cùng”. Bề ngoài, người lãnh đạo Việt Minh, trông chờ rất nhiều ở mùa khô tới và việc Trung Quốc cung cấp nhiều vũ khí hiện đại17.

Chính phủ Bắc Kinh, mà những lợi ích dân tộc và quốc tế khác với lợi ích của Việt Minh ở một số điểm, càng tỏ ra thận trọng và các cuộc thương lượng có thể diễn ra. Đa số các bài xã luận trong mùa hè 1953 [143] đả kích mạnh mẽ chính sách của Mỹ ở Viễn Đông và nhấn mạnh đến khả năng giải quyết mọi vấn đề bằng thương lượng. Nhưng vấn đề cụ thể về Việt Nam thì được đề cập một cách thưa thớt như trước đây, và nay thường chỉ nói đến khi tố cáo hành động của Mỹ ở bán đảo Đông Dương18.

Tuy nhiên, trong khi mở rộng chiến dịch ủng hộ thương lượng vào tháng 9/1953, Trung Quốc từ tháng 10/1953 đã nói rõ lập trường của mình. Hưởng ứng công hàm ngày 28/919, của Liên Xô, ngày 8/10 Thủ tướng Chu Ân Lai, sau khi nhắc lại sự cần thiết phải khôi phục quyền của Trung Quốc ở Liên hiệp quốc, đã nhấn mạnh ý muốn đóng góp vào việc “củng cố hòa bình ở Viễn Đông và trên thế giới”20. Hôm sau, tờ Nhân dân nhật báo đã nhắc lại luận điệu đó và ủng hộ ý kiến về một cuộc hội nghị của 5 nước lớn để giải quyết vấn đề còn tồn tại ở Châu Á cũng như ở phần còn lại của thế giới21.

Vài ngày sau (27/10), Thủ tướng J. Laniel tuyên bố sẵn sàng nắm mọi cơ hội đi đến hòa bình ở Đông Dương và quốc hội Pháp biểu quyết ủng hộ chính phủ trong việc đi tìm một giải pháp thương lượng22. Cuối cùng, tại cuộc hội nghị hòa bình họp ở Vienne từ 23 đến 28/11, đại biểu Việt Minh, Lê Đình Thám, Chủ tịch Ủy ban bảo vệ hòa bình của Việt Nam lần đầu tiên chấp nhận khả năng thương lượng về Việt Nam23. Quách Mạt Nhược, đại biểu Trung Quốc, đã lập tức ủng hộ tham luận của Lê Đình Thám. Trong lúc đó Chủ tịch Hồ Chí Minh xác nhận với báo Thụy Điển Expressen, ý muốn thương lượng24. Từ ngày 1/12, Nhân dân nhật báo đăng lại lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kèm theo một bài xã luận ủng hộ hoàn toàn lập trường đó25. Về thái độ của Trung Quốc trong cuộc khủng hoảng này, đây là lúc quyết định. Ba tuần sau, chính phủ Bắc Kinh rầm rộ tổ chức ở thủ đô một ngày đoàn kết với nhân dân Việt Nam. Nhân dịp đó, Lê Đình Thám và Lưu Ninh Nhất, Phó chủ tịch Tổng công hội Trung Quốc, đã nhắc lại những luận điểm26 nói trên và ngày hôm sau được tất cả các báo Trung Quốc tường thuật rộng rãi27.
Diễn biến của các sự kiện dường như chứng tỏ rõ ràng việc Việt Minh quyết định chấp nhận định chấp nhận nguyên tắc [145] thương lượng có lẽ là kết quả gây sức ép của phe xã hội chủ nghĩa, bao gồm cả Trung Quốc. Trong sức ép chung này phần của Liên Xô có lẽ chiếm ưu thế. Nhưng cần phải nhấn mạnh rằng việc sắp mở ra các cuộc thương lượng về Đông Dương đáp ứng hoàn toàn lợi ích dân tộc của Trung Quốc: tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảm căng thẳng ở Viễn Đông, cần thiết cho công cuộc phát triển kinh tế của Trung Quốc; loại trừ được, nếu cuộc thương lượng đi đến kết quả, nguy cơ can thiệp ồ ạt của Mỹ vào cuộc xung đột; tạo khả năng cho chính phủ Bắc Kinh chấm dứt được tình trạng phân biệt đối xử ở Liên hiệp quốc mà Trung Quốc là nạn nhân; làm nổi bật qui chế cường quốc của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên sân khấu quốc tế; cuối cùng tạo cơ hội có được các cuộc thương lượng về thương mại với phương Tây. Đó là bấy nhiêu lý do không thể bác bỏ được đáng để Trung Quốc đấu tranh cho một cuộc hội nghị quốc tế rộng rãi bàn về các vấn đề lớn trên thế giới28.


_________________

1 Đại sự ký về các sự kiện chính liên quan đến vấn đề Đông Dương (Tân hHoa xã, Bắc Kinh, 23-28/4/1954), 26/4/1954, tr. 17.
Những thời điểm có nghĩa đang ghi nhớ 1950 1951 1952 1953 1954 Cộng
- Về hành động của Mỹ ở bán đảo Đông Dương 20 10 13 33 9 85
- Các sự kiện khác 27 8 12 41 8 96
Tổng cộng 47 18 25 74 17 181
2 Peoplée’s’ China, số 7 ngày 1/4/1954, tr. 8.
3 Đại sự ký về các sự kiện chính liên quan đến vấn đề Đông Dương, Ssđd. Một bản tổng kết của đĐại sự ký đó đã đăng trong tạp chí People’s China số 13 ngày 1/7/1954, tr. 34-37.
4 Như trên, People’s China ngày 13, 15/2/1950, 13/3/1952.
5 Như trên, các ngày 13-15/2/1950.
6 People’s China, số 7 ngày 1/4/1954, tr. 9.
7 Xem đoạn sau.
8 Người ta có thể ghi nhận trong báo chí Pháp có những đề mục có ý nghĩa như “Lính Mỹ cần thay thế quân đội chúng ta ở Đông Dương” (Paris -Presse, 19/5/1953). Bản tin kỷ yếu của bá tước Paris [?] đưa ra giải pháp cho cuộc xung đột “Rút đi, để cho kẻ mạnh hơn, bảo đảm thay thế quân tưa” (báo Le Combat, ngày 1/6/1953).
9 Nhân dân Nhật báo, ngày 28/7/1953.
10 Hồ sơ Bộ Ngoại giao Pháp/ châu Á-châu Đại dương./ Bản ghi nhớ về vấn đề “thương lượng hòa bình ở Đông Dương”, 9/10/1953.
11 Peoplée’s’ China, số 7 ngày 16/8/1953.
12 Nhân dân nhật báo, 3/9/1953.
13 Hồ sơ lữu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/ cChâu Á-châu Đại dương,/ bBản ghi nhớ về vấn đề “thương Thương lượng hòa bình ở Đông Dương”/ 7/10/1953. Mặc dù không có quan hệ ngoại giao bình thường giữa nước Pháp, và Cộng hòa nhân dân Trung hoaHoa, một đại diện của Pháp vẫn ở lại Bắc Kinh cho đến tháng 10/1953.
14 Ví dụ: Tân Hoa xã, Bắc Kinh, 2/9/1953. Đăng lại trong tạp chí Survey of China Mainland Press (Điểm báo chí ở lục địa Trung Quốc) số 643, 2-3/9/1953.
15 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, bản ghi nhớ 6/10/1953 đã dẫn.
16 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, bản ghi nhớ 9/10/1953 đã dẫn.
17 Như trên.
18 Như vậy, trong số các bài xã luận đã kể ra ở trên, hiếm có những bài nói vì chiến tranh Đông Dương. Xã luận Nhân dân nhật báo ra ngày 14/8/1953 (cách đúng đắn để giảm căng thẳng quốc tế) Kkhông nói gì đến cuộc chiến tranh Đông Dương. Bài xã luận ngày 3/9/1953 cũng vậy (Một tương lai tươi sáng cho nhân dân các nước Á Phi), hay bài của Quách Mạt Nhược trong People’s China ngày 16/8/1953 cũng vậy.
19 Xem đoạn sau.
20 Tin Tân hHoa xã, Bắc Kinh, ngày 8/10/1953.
21 Nhân dân nhật báo, 9/10/1953,. cCũng cem xem Thế giới trí thức, ngày 18/10/1953, số 20, tr. 3.
22 Công báo. Các cuộc thảo luận tại Quốc hội 28/10/1953, tr. 4066, Thủ tướng J. Laniel đã tuyên bố về dịp đó: “Một cuộc thương lượng với Trung Quốc để làm dễ dàng việc giải quyết chiến tranh Việt Nam, đối với con mắt của chúng ta, không phải như là một liên minh với quỷ sứ”.
23 Tân hoa xã, Bắc Kinh 26/11/1953:; Nhân dân nhật báo, 27/11/1953.
24 Expressen, 29/11/1953. Bản dịch trong AB. Côolơe, sđd, tr. 148-149.
25 Nhân dân nhật báo, ngày 1/12/1953.
26 Tân hoa xã, Bắc Kinh 19/12/1953.
27 Như trên, 20/12/1953.
28 Người ta sẽ nhận xét rằng, nếu đạt được hết thảy mục tiêu đó thì sẽ có hậu quả là đưa Trung Quốc ra khỏi ảnh hưởng của Liên Xô. Phải chăng đó là mục đích mà Trung Quốc tìm kiếm? Không có chứng cớ nào đềể khẳng định điều đó nhưng giả thuyết không phải là không có được.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét