Thứ Hai, 3 tháng 1, 2011

THƠ HAI BÊN NÓI VỀ CUỘC TRANH THỦ TÂY NGUYÊN

TRẦN VĂN NAM

Thơ Cao Hoành Nhân phía Việt Nam Cộng Hòa viết về trận Ashau

Thời Việt Nam Cộng Hòa, thơ cảm hứng về mặt trận Tây Nguyên không hiếm hoi, nhưng đa số đều mang chất biên tái: nhớ nhà, nhớ vợ con, hoặc một chút buồn cô đơn khi trấn thủ chốn biên thùy, hoặc đôi khi một chút ngao ngán chiến tranh. Thi nhân không phải như những nhà chiến lược để biết Tây Nguyên là bàn đạp tiến xuống đồng bằng, là xương sống vòng cung tỏa về duyên hải. Mãi về sau, khi có lệnh bỏ Buôn Mê Thuột làm sụp đổ giây chuyền cả miền Nam năm 1975, mãi về sau nữa khoảng năm 2009 khi có lời cảnh báo coi chừng trọng điểm chiến lược của vùng khai thác quặng Bauxite ở tỉnh Ðắc Nông, và mãi về sau khoảng năm 2010 khi các nước hạ lưu Mekong họp bàn về dòng sông bị nghẽn mạch (nhà văn Ngô Thế Vinh và nhiều nhà trí thức Việt Nam cũng đã báo động từ lâu)... lúc này đây các nhà thơ hẳn đã biết Tây Nguyên “lợi hại” như thế nào. Người thì có ý kiến Việt Nam sẽ phối hợp với Kampuchia xây dựng một hồ chứa nước khổng lồ ở Kontum để đưa nước vào Mekong, cả hai cùng có lợi trong tích lũy nguồn nước không bao giờ cạn cho nông nghiệp và do đó hai nước sống chung hòa bình vĩnh viễn (vì con sông dài Xê-Xan của Kampuchia đổ nước vào Mekong vốn đã hợp lưu với sông Poko của Việt Nam tại Kontum, vùng rừng núi này rất nhiều mưa). Hiện đã tồn tại ở đó đập thủy điện Yali, nhưng chưa có sự hợp tác của Kampuchia và sự giúp sức của các cơ quan tài trợ Liên Hiệp Quốc để biến hồ chưá nước thành vô cùng vĩ đại; và nhờ vậy đập thủy điện Yali có tầm cỡ hiện nay lại càng thêm lớn lao. Tây Nguyên với bao nhiêu lời báo động do vụ khai thác mỏ Bauxite: nên coi chừng hiểm họa đất đai toàn vùng Nam Trung Bộ và Miền Ðông Nam Phần bị nhiễm độc bởi bùn đỏ thải ra từ khai thác Bauxite; nên coi chừng sự tiềm tàng một quả bom bùn đỏ không đê điều nào ngăn cản nổi và sẽ làm tràn ngập sông Ðồng Nai và sông Sài Gòn (độ dốc từ trên cao đổ xuống thập phần nguy hiểm hơn tai nạn bùn đỏ Bauxite mới xảy ra ở đồng bằng nước Hungary); nên coi chừng vùng dành riêng khai thác thành khu quân sự bất khả xâm phạm của nước ngoài; và nên coi chừng biết đâu vùng đó đang có quặng mỏ quý hiếm chưa được tiết lộ bí mật.

Trở lại vấn đề văn nghệ thời chiến Miền Nam, ta không có ý phê bình gì các nhà thơ viết ra những câu thơ với nỗi buồn biên tái khi đồn trú ở Tây Nguyên, vì văn nghệ Miền Nam thời chiến không ràng buộc chặt chẽ với chính trị. Một chút buồn cô đơn như Vũ Hữu Ðịnh với phố núi chỉ đi quanh quất dăm phút là hết, hết phố nhưng không hết tình thân: “em Pleiku má đỏ môi hồng/ ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông/ mai xa lắc trên đồn biên giới/Còn một chút gì để nhớ để thương”. Nhà thơ Kim Tuấn nhớ mẹ có lẽ hơn tất cả, mãi ngóng về Huế mong tới ngày nghỉ phép: “Bản-Hét thương đời anh lính trẻ/Quanh năm chờ phép về thăm nhà/Quanh năm trấn thủ đời gian khổ/ Hầm đất nhìn quanh ta với ta”. Nhà thơ Lâm Hảo Dũng tự coi mình như một lữ khách từ miền Lục Tỉnh đi đồn trú trên những dốc tử thần: “bởi bao nhiêu trận kinh hồn trước/ đều thấy mơ hồ ở Dakto/khi đi là tự xây mồ sẵn/nay suối buồn, kia mai đỉnh xa”. Còn thi sĩ Phan Ni Tấn cảm thương mình đang về với cheo leo trên quốc lộ 21 (nay là quốc lộ 26) từ vùng duyên hải Ninh Hòa lên núi rừng Buôn Mê Thuột: “lên đèo Dục Mỹ ban trưa/ta về ở dưới gió mưa não nùng/ lên Tây Nguyên trấn giữ thành/thương con vượn hú trên cành chon von”.

Trên đây là các câu thơ sưu tầm từ bộ sách “Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến” của nhà xuất bản Thư Ấn Quán ấn hành năm 2006 và 2007. Trong bộ sách dầy hơn 1550 trang đó, duy nhất có bài thơ của Cao Hoành Nhân mang tính chiến đấu tranh thủ Tây Nguyên, gần giống như thơ của phe Xã Hội Chủ Nghĩa vốn gắn liền với chính trị. Chỉ biết vài chi tiết về Cao Hoành Nhân lúc còn rất trẻ khi người viết bài này cùng ông học lớp Ðệ Nhị Ban Văn Chương niên khóa 1957-1958 hoặc 1958-1959 (không nhớ chính xác), và biết ít về ông cũng vì chỉ học có một năm cùng trường, trường Trung Học Võ Tánh Nha Trang; lớp học năm ấy có hai người nổi tiếng là Nguyễn Ðức Sơn và Nguyễn Thị Hoàng. Tên thật của ông, Bùi Cao Hoành, quê quán chắc ở Khánh Hòa-Nha Trang. Có lẽ ông là một sĩ quan trấn đóng ở Tây Nguyên, cái nhìn của ông chắc không từ nhãn quan chiến lược của cấp bậc tướng lãnh, nhưng cũng đã cho ta thấy tầm quan trọng phải tranh thủ Tây Nguyên. Mất Tây Nguyên, quân Việt Nam Cộng Hòa sẽ bị chọc thủng phòng tuyến xuống duyên hải Miền Trung và đồng bằng miền Nam. Vì vậy mà các sư đoàn Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ từng bố trí hùng hậu tại đây, cố tranh thủ nó, như Cao Hoành Nhân đã viết trong bài thơ “Về Ashau”:

Ashau! Ashau!
Vách dựng tầng xanh cây cao khói đỏ
Dã thú quen rừng bóng cả đêm thiêng
Tự nghìn thu sừng sững giải sơn biên
... Tự thung lũng Ashau sâu
Vượt Trị Thiên bát ngát
Dày xéo biên duyên
Tự đỉnh Trường Sơn cao
Ðổ về Cửu Long nước ngọt
Lửa bốc ruộng vườn
Ashau! Ashau!
Một giải biên sơn
Bỗng biến thành một khu cường địch
... Quân ta vượt Trường Sơn
Án ngữ đường địch lui mặt Bắc
Ðồng Minh đổ chụp vùng Nam
Phi pháo biên duyên chờ lửa bốc máy gầm
Và ẩn hiện xuyên sơn toán biên phòng Lôi Hổ.
(CAO HOÀNH NHÂN)

II. Nguyễn Xuân Thâm phía Xã Hội Chủ Nghĩa, thơ về đồng khởi Tây Nguyên
Với văn nghệ Xã Hội Chủ Nghĩa, chính trị phải gắn liền với văn chương: một trong những đường lối chính trị là luôn luôn mang “tính chiến đấu” trong nghệ thuật thời chiến tranh Việt Nam. Cho nên không bao giờ có trong thơ văn Xã Hội Chủ Nghĩa nỗi buồn quan tái hoặc nhung nhớ khi ở chốn biên thùy rừng núi. Thơ sáng tác của các thi nhân trong đoàn quân xâm nhập thì không hiếm; như Phạm Tiến Duật viết về điều phải tạm gác tình riêng (yêu nhau trên đường trường chinh) của người lính lái xe trong cơn mưa tầm tã: “Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ/ Trường Sơn Ðông nhớ Trường Sơn Tây” ; như Thanh Thảo tin tưởng lớp lớp đoàn quân để lại những dấu chân qua trảng cỏ trên đường đi chiến trường xa xăm: “Chiếc bòng con đựng những gì/Mà đi cuối đất mà đi cùng trời/ Ai đi gần, ai đi xa/ Những gì gởi lại chỉ là dấu chân”; như Hữu Thỉnh viết về đêm giáp ranh trên đò qua sông hành quân xâm nhập, mang tính lạc quan của con trăng lưỡi liềm đã ở bên kia bờ: “Ếch nhái nghiến răng sao mà sốt ruột/ Chớp nhì nhằng lô-cốt méo bên sông... Bìm bịp chùm đôi kêu dính vào nhau/Tiếng nước vỗ tan rồi chụp lại... Chúng tôi đi còn tần ngần ngó lại/ Chỉ thấy vầng trăng cuối tháng mới quăng lên”. Những trích dẫn trên đều là thơ mang tính quân sự của bí mật xâm nhập từ ngoài Bắc vào, chưa lồng vào tính chính trị nói về chiến tranh nhân dân nổi dậy tại Tây Nguyên, giống như tính chất “đồng khởi” ở Miền Nam mà tác giả bài thơ sau đây có ý so sánh.

Tác giả là nhà thơ Nguyễn Xuân Thâm. Ông đã từng dạy ở Ðại học Bách Khoa Hà Nội và dạy ngoại ngữ ở nước Angola Phi Châu (qua tài liệu biên khảo của ông Vũ Duy Thông, nhà xuất bản Giáo Dục, ấn hành trong nước năm 2000). Theo một bài báo trên mạng “vanchuongviet.org”, bài của tác giả Vân Long, đăng ngày 12 tháng 7 năm 2010, Nguyễn Xuân Thâm chính là nhà thơ Dao-Ca có thơ đăng trên tuần báo Ðời Mới ở Sài Gòn (tờ báo có mặt khoảng 1951 đến 1955) (1). Vân Long cũng là nhà thơ cùng thời và cùng có thơ đăng trên báo Ðời Mới như Dao-Ca. Qua trích dẫn thơ Dao-Ca trong bài báo đó thì ta lại biết Dao-Ca cũng chính là Ðỗ Hữu với các bài thơ rừng núi lãng mạn một thời trong báo Ðời Mới, như bài thơ “Sầu Ai Lao”; hoặc bài “Ðoàn Quân Qua Làng”; hoặc bài “Nắng Ngút Ðường Dài” với các câu: “Nắng ngút đường dài hoa gạo bay/ Rừng sâu mấy bữa lạc sau ngày/ Ðường xa nắng lửa chiều hun hút/ Quán đứng lưng đèo, núi tiếp mây”; Vậy Nguyễn Xuân Thâm, Dao-Ca, Ðỗ Hữu, chỉ là một người. Riêng bài thơ “Trống và Lửa” của Nguyễn Xuân Thâm thì dĩ nhiên không còn tính lãng mạn từng hiện diện trong thơ Ðỗ Hữu (2), bây giờ mang đậm chất chính trị qua viễn tượng cuộc nổi dậy của các dân tộc Tây Nguyên chống lại chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Tác giả liên tưởng đến cuộc đồng khởi ở Bến Tre thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Thơ mang tính tranh thủ Tây Nguyên, từ đó làm bàn đạp tiến xuống Sài Gòn như trình tự năm 1975 đã diễn ra. Tranh thủ xong Buôn Mê Thuột, các đạo quân tập trung tại Chiến Khu Ð ở Bình Long-Tây Ninh, từ đó tiến về Sài Gòn theo quốc lộ 13 tới Ngã Tư Hàng Xanh, rồi bằng hai ngã chạy thẳng vào trung tâm Sài Gòn là đường Phan Thanh Giản (nay là đường Ðiện Biên Phủ) và đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai). Tính chính trị ở chỗ tô đậm nét vai trò chủ chốt là cuộc nổi dậy của nhân dân (bao gồm các dân tộc Tây Nguyên) chống trả Việt Nam Cộng Hòa. Mà thật ra, như ta đã chứng kiến, lực lượng xung kích là các sư đoàn chính quy có xe tăng đại bác tối tân từ Miền Bắc vào. Bài thơ “Trống và Lửa” mang tính chính trị của tác giả Nguyễn Xuân Thâm đề cao vai trò của “nhân dân nổi dậy” ở Tây Nguyên”, tuy giáo mác cung tên nhưng có vai trò “làm bàn đạp” khởi đầu cho trận chiến “nội công ngoại kích”:
...Trời Tây Nguyên, chiều đại ngàn rực rỡ
Cuồn cuộn sông Ba hiện lên trong ánh lửa
Bóng lũ làng dáo mác dựng bên nhau
Ðàn voi đi bành tía bành nâu.
... Chim phí bay về đậu đỉnh nhà rông
Chén rượu cần mặt trời vào uống đỏ như mật ong.
... Ðây rừng chông đứng lẫn dáng chiều
Ðây bẫy đá nằm khuất trên vách đá
Trống giục lửa, lửa vào buôn, người Ê- Ðê cầm ná
Lửa vào làng, người Gia Rai vót chông
... Trống dội từ trong trường ca Xinh Nhã, Ðam San
Trống lửa ầm ầm về trong phong trào đồng khởi miền Nam.
(NGUYỄN XUÂN THÂM)

Trần Văn Nam
Walnut, California, tháng 8 năm 2010

___________________________

(1) Bài thơ của Dao Ca đăng trên tuần báo Ðời Mới (1951-1955):
LAO BẢO
Lao Bảo! Lao Bảo!
Nghìn năm gió thổi lưu đày
Ðèo nghiêng quán nhạt
Hốc núi mộ tù xây
Dưới chân thép bén
Lưng đèo một trời mây
Man thiên xứ rợ
Vàng vọt nắng chiều rây
Rừng nghiêm thác lạnh
Xơ xác chòi gió lay
Cơm thiu nước suối
Sương nắng mùi đắng cay
Ðầu kê mỏm núi
Lưng còng phơi nắng gay
Roi gai xiềng sắt
Rú rậm chừng bỏ thây
Ðèo cao ngất hút
Gió loạn đùa tóc mây
Ðêm đêm thác đổ
Ai nằm nghe lá bay...
DAO-CA

(2) Hai bài thơ của Ðỗ Hữu (cũng trên báo Ðời Mới thời gian ấy):

CHIỀU VIỆT BẮC
Nắng xuống phương nào người thấy không
Mà đây chiều tím rụng song song
Vàng tuôn mấy lối ngày thu muộn
Ai liệm hoàng hôn kín mắt trong.

Khói thuốc lên mờ xanh bóng ai
Phương xa chiều xuống ngút sông dài
Ðường kia có phải sầu xưa đọng
Trở bước, hoa lau trắng ngập đồi.

Con đường đất đỏ mờ sau bản
Thung lũng vàng lơ, nắng trở chiều
Núi biếc chập chùng vây ải lạnh
Dặm về lá đổ, phấn tàn xiêu.

Rừng núi âm u chiều Việt Bắc
Chầy ngày lạc bước, ai ngồi than
Buồn xưa chiều đọng ngàn lau lách
Chòi cũ nằm nghe gió dặm trường.

SẦU AI-LAO
Ðã lâu trăng cứ vàng hiu hắt
Mây cứ sầu tuôn, núi võ vàng
Lá vẫn pha chàm trên sắc áo
Mưa nguồn, thác đổ, đá mù sương.

Giữa ngày lạc lõng trên rừng rậm
Với nắng bâng khuâng mấy thuở nào
Với núi xanh lơ, chòi tím nhạt
Mây trời bàng bạc sầu Ai-Lao.

Lưng đèo quán gió mờ hun hút
Thôn bản nằm trơ dưới nắng chiều
Tai vẫn nghe đều dòng thác đổ
Người ơi! Thương nhớ biết bao nhiêu.

Ở đây hơi đá chiều vây khắp
Khép chặt mình tôi giữa núi rừng
Buồn quá, ngày đi, đêm trở lại
Hoàng hôn hoa bản, phấn rưng rưng.

Người có theo tôi lên dốc nắng
Nhìn xem hoa rải sắc trên đường
Chiều nay nổi gió buồn ghê lắm
Lá đổ sau chân một lối vàng...
ÐỖ HỮU

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét