Thứ Ba, 11 tháng 1, 2011

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST AMERICAN WORLD)

Frareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn

Sức Mạnh Hoa Kỳ

Kỳ 6

Mọi người đều tham dự cuộc chơi

Cho tôi được bắt đầu bằng một suy diễn rút ra từ quần vợt, môn thể thao ưa thích của tôi. Những người Hoa Kỳ say mê quần vợt từng ghi nhận một chiều hướng lo ngại gần đây: sự đi xuống của Mỹ trong giải vô địch quần vợt. Aron Pilhofer của tờ New York Times đã đăng tải những con số. Ba mươi năm trước đây, Hoa Kỳ có được một nửa số ứng viên (128 cầu thủ tham dự) trong giải US Mở rộng. Vào năm 1982, 78 trong số 128 tay vợt là người Mỹ. Năm 2007 chỉ có 20 tay vợt vào được vòng lựa, một con số phản ánh chính xác khuynh hướng tụt hậu qua hai mươi lăm năm. Hàng triệu phân tử trên màn hình máy tính đã tận hiến vào sự băn khoăn tại sao Hoa Kỳ lại có thể tụt hậu quánh xa và quá nhanh như thế. Câu trả lời nằm trong một tập hợp khác của các con số. Trong những năm 1970, khoảng hai mươi lăm nước gởi cầu thủ đến dự giải US Mở rộng. Ngày nay, vào khoảng ba mươi lăm nước gửi đi, nghĩa là tăng lên 40 phần trăm. Các nước như Nga, Nam Triều Tiên, Serbia và Úc ngày nay đang sản xuất ra các tay vợt đẳng cấp quốc tế, và Đức, Pháp cùng Spain đang rèn luyện nhiều cầu thủ hơn bao giờ. Vào những năm 1970, các nước khối Anglo Saxon - Mỹ, Anh và Úc - thống trị tuyệt đối môn quần vợt. Vào năm 2007, mười sáu tay vợt vào vòng chung kết là từ mười nước khác nhau. Nói cách khác, không phải là Mỹ đã trở nên dở đi trong hai thập niên qua. Mà chính là, bỗng nhiên, mọi người đều tham dự cuộc chơi.


Nếu môn quần vợt có thể là không đáng kể, hãy nhìn vào một môn chơi lớn hơn. Vào năm 2005, thành phố Nữu Ước nhận được một lời cảnh cáo. Hai mươi bốn trên hai mươi lăm công phiếu phát hành lần đầu ra công chúng (IPO - initial public offering) lớn nhất năm đó đã được chào mời ở những nước khác hơn là Mỹ. Điều này thật là giật mình. Các thị trường vốn tư bản của Mỹ lâu nay từng là thị trường dễ hoán chuyển, lớn nhất và sâu nhất trên thế giới. Thị trường này từng tài trợ sự thay đổi trong ngành kỹ nghệ trong những năm 1980, cuộc cánh mạng công nghệ của những năm 1990 và các tiến bộ đang xảy ra của ngành sinh học. Chính tính lỏng năng động của các thị trường này giữ cho thương mại Hoa Kỳ trở nên nhanh nhạy. Nếy Hoa Kỳ mất đi mối thuận lợi đặc biệt này thì đây là một tin rất xấu. Sự lo lắng lớn lao đến nỗi Thị trưởng Michael Bloomberg và Nghị sĩ Chuck Schumer của Uỷ ban McKinsey and company phải thực hiện một bản báo cáo định giá tính cạnh tranh tài chính của Nữu Ước. Bản báo cáo này được đưa ra hồi cuối năm 2006.

Đa số bàn luận về vấn đề này tập trung vào sự điều tiết quá mức của Mỹ, đặc biệt với các luật lệ sau vụ Enron như đạo luật Sarbanes-Oxley, và các mối đe doạ thường trực của kiện tụng tranh chấp lơ lửng trên môi trường thương mại ở Hoa Kỳ. Những điều tìm được này đúng nhưng không thực sự hiểu được những gì đã chuyển dịch thương mại ở ngoài nước. Mỹ đang thực hiện làm ăn thương mại như bình thường. Nhưng những người khác đang tham dự cuộc chơi. Luật Sarbanes-Oxley và các biện pháp quy định tương tự sẽ không thể có được cái tác động của chúng nếu như những điều luật lệ này không phải để đáp ứng cho thực tế rằng hiện đang có các thay thế. Những gì đang thực xảy ra ở đây, cũng như ở mọi lãnh vực khác là đơn giản: cuộc nổi dậy của những thành phần còn lại. Tổng số tất cả chứng khoán, công phiếu, tiền ký quỹ, các khoản nợ và các công cụ khác - như các cổ phiếu tài chính, bằng cách nói khác - vẫn vượt quá tổng số của bất cứ khu vực nào khác, nhưng các khu vực khác cũng nhìn thấy cổ phiếu tài chính của mình tăng lên nhanh chóng hơn nhiều. Điều này đặc biệt đúng trong sự vươn dậy của Á Châu - ở mức 15.5 phần trăm tăng trưởng hàng năm giữa các năm 2001 và 2005 - nhưng ngay cả khu vực Âu châu cũng vượt qua Mỹ, với tốc độ khoảng 6.5 phần trăm. Tổng số doanh thu thương mại và ngân hàng của Âu Châu là 98 tỉ trong năm 2005 gần ngang bằng với 109 tỉ doanh thu của Mỹ. Năm 2001, 57 phần trăm các công phiếu phát hành lần đầu ra công chúng xảy ra tại thị trường trao đổi hối đoái Mỹ, năm 2005 chỉ có 16 phần trăm. Vào năm 2006 Mỹ nắm được chưa đến một phần ba tổng số công phiếu phát hành lần đầu ra công chúng của năm 2001, trong khi thị trường trao đổi Âu châu tăng số lượng công phiếu này lên đến 30 phần trăm, và ở Á Châu (trừ Nhật) con số là gấp đôi. Công phiếu phát hành lần đầu ra công chúng là quan trọng vì chúng phát sinh ra "doanh thu tái diễn đáng kể cho thị trường chủ nhà" đồng thời đóng góp vào các nhận thức về sự rung động thị trường.

Sự kiện nước ngoài đang ký công phiếu phát hành lần đầu ra công chúng chỉ là một phần của câu chuyện. Những nguồn gốc mới căn cứ vào các công cụ tài chính nằm bên dưới như cổ phiếu hoặc chi trả tiền lời đang ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với các quỹ đầu tư mạo hiểm, ngân hàng, các nhà bảo hiểm và tính năng động tổng thể của các thị trường quốc tế. Và người tham dự thống lĩnh trên các thị trường khế ước tài chính (derivatives market) trên thế giới là London. Thị trường trao đổi hối đoái London chiếm đến 40 phần trăm thị trường khế ước hối đoái và 34 phần trăm thị trường khế ước của trao đổi hối đoái. (Hoa Kỳ chỉ nắm được 16 và 4 phần trăm tương ứng của hai thị trường này). Toàn bộ trao đổi hối đoái Âu Châu đại diện cho hơn 60 phần trăm của các khế ước về lãi suất tiền lời, trao đổi ngoại tệ, vốn cổ phần và các loại có liên quan đến tài trợ tài chính. Các cuộc phỏng vấn của McKinsey với các nhà lãnh đạo thương mại toàn cầu cho thấy rằng Âu Châu không chỉ thống trị về các sản phẩm khế ước hiện có mà còn cả về sự sáng tạo ra các khế ước mới nữa. Các loại sản phẩm khế ước duy nhất mà Âu Châu theo vết Mỹ là các loại sản phẩm hàng hóa, vốn được tính là loại doanh thu tổng thể thấp nhất giữa các thứ loại khế ước chính.

Có một số nguyên nhân đặc biệt cho sự xụp đổ này. Nhiều cổ phần khổng lồ lần đầu bán ra công chúng trong năm 2005 và 2006 là dạng tư nhân hóa các công ty quốc doanh ở Âu châu và Trung Quốc. Những loại của Trung Quốc thường đi vào HongKong, còn những loại của Nga và Đông Âu đi vào thị trường London. Năm 2006, ba cổ phần lớn nhất tất cả đều đến từ các thị trường mới nổi. Nhưng đây là một phần của một chiều hướng lớn rộng hơn. Các nước và các công ty hiện nay có được các lựa chọn mà trước đây họ chưa từng có. Các thị trường vốn bên ngoài nước Mỹ - chính yếu là ở Hongkong và London - đều năng động và quản lý giỏi khiến cho phép các công ty vận dụng được các yếu tố khác như các múi giờ (time zones), tính đa dạng và chính trị vào các tính toán của mình.

Hoa Kỳ không làm ăn tệ hơn lệ thường. Hoa Kỳ vẫn hoạt động như mình vẫn luôn từng - có lẽ với một kiêu ngạo có tính tiềm thức rằng mình vẫn là đầu đàn. Các nhà lập pháp Mỹ vẫn ít khi nghĩ đến phần còn lại của thế giới khi soạn thảo luật pháp, các quy chế và chính sách. Các quan chức Mỹ ít khi tham chiếu đến chuẩn mực toàn cầu, và khi đất nước này phải đi đến việc thực thi một điều gì khác biệt, thì quan trọng là cả phần còn lại của thế giới sẽ phải phục vụ cho sự ngoại lệ của mình. Mỹ là quốc gia duy nhất trên thế giới ngoài Liberia và Myanmar, không dùng hệ thống metric. Khác hơn cả Somalia, Mỹ đơn độc không phê chuẩn Thông Ước quốc tế về Quyền trẻ em. Trong thương mại Mỹ không cần đến các tiêu chuẩn. Đấy là đất nước đã dạy cho thế giới biết làm thế nào để trở nên chủ nghĩa tư bản. Nhưng hiện nay, mọi người đang chơi ván cờ của Mỹ và chơi để chiến thắng.

Trong ba mươi năm vừa qua, Mỹ có mức thuế kinh doanh thấp nhất trong những quốc gia kỹ nghệ. Ngày nay, Mỹ là nước có mức cao thứ nhì. Mức thuế của Mỹ đã không hề tăng lên, nhưng các nước khác đã giảm xuống. Chẳng hạn như, Đức, từng là một người tin tưởng mãnh liệt vào hệ thống sưu thuế cao, đã cắt giảm thuế (bắt đầu từ năm 2008) để đáp ứng với các thay đổi từ các nước phía đông của mình như Slovakia và Austria. Lối cạnh tranh này giữa các nước kỹ nghệ hóa hiện đang trải rộng. Không phải là một cuộc đua xuống đáy - các nước vùng Scandinavian có thuế cao, dịch vụ tốt và tăng trưởng mạnh - nhưng là một truy tìm cho sự tăng trưởng. Lề luật của Hoa Kỳ thường là linh động hơn và thị trường thân thiện hơn các nước khác. Điều ấy không còn đúng nữa. Hệ thống tài chính London phải bị đại tu vào năm 2001, với một đơn thể duy nhất thay thế cho một mớ hỗn độn nháo nhào các lề luật, một nguyên nhân giúp bộ phận tài chính London hiện đang đánh bại New York trong một số đánh giá. Toàn bộ chính phủ Anh làm việc nỗ lực để tạo cho London thành một trung tâm toàn cầu, trong khi đó, Washington bỏ thì giờ và năng lực của mình ra để đánh thuế New York hầu có thể gởi doanh thu đi các nơi còn lại của đất nước. Những người điều động từ Poland, Shanghai đến Mumbai đang di chuyển hàng ngày để tạo cho hệ thống của mình thu hút hơn với các nhà đầu tư và công xưởng trên khắp thế giới. Ngay cả trong lãnh vực di dân, Liên hiệp Âu Châu đang sáng tạo ra một loại "thẻ xanh" mới, nhằm thu hút các công nhân khéo tay từ các nước phát triển.

Việc đứng đầu lâu quá cũng có những tiêu cực của nó. Thị trường Hoa Kỳ đã từng quá lớn đến nỗi người Mỹ luôn từng biết rằng tất cả các nước khác của thế giới sẽ gặp khó khăn để mà hiểu được. Chúng ta chưa từng trao đổi từ việc học hỏi các ngôn ngữ, văn hóa và thị trường ngoại quốc. Hiện nay điều này có thể khiến Hoa Kỳ trở nên bất lợi về cạnh tranh. Hãy nhìn vào việc Anh Ngữ phát triển khắp thế giới như một ẩn dụ. Người Mỹ đã từng thích thú với tiến trình này bởi vì chúng làm cho họ dễ dàng hơn trong việc đi du lịch và làm ăn ở ngoại quốc. Nhưng đối với những người địa phương, tiến trình này cho phép họ am hiểu và vươn đến được hai nền văn hóa và thị trường. Họ có thể nói được tiếng Anh nhưng đồng thời cũng nói được tiếng Phổ thông (Mandarin), Ấn ngữ hay tiếng Bồ đào nha. Họ có thể thẩm thấu vào trong thị trường Mỹ nhưng cũng có thể đi vào nội địa các thị trường Trung Quốc, Ấn độ hay Ba Tây. (Và trong tất cả các nước này, các thị trường không nói tiếng Anh vẫn còn là những thị trường lớn nhất). Ngược lại, người Mỹ chỉ có thể bơi trong một đại dương. Họ chưa từng phát triển khả năng để di chuyển vào trong một thế giới con người khác.

Chúng ta chưa từng chú ý đến sự kiện những phần còn lại của thế giới đang nổi dậy nhanh chóng như thế nào. Hầu hết các nước kỹ nghệ hóa - và cả một phần lớn của các nước chưa kỹ nghệ hóa - từng có các dịch vụ điện thoại di động tốt hơn của Mỹ. Ở khắp các nước kỹ nghệ hóa, từ Canada đến Pháp, Nhật bản, sóng truyền tin rộng (broadband) nhanh hơn và rẻ hơn, và Hoa Kỳ hiện đứng hàng mười sáu thế giới về sự thâm nhập sóng truyền tin rộng tính theo đầu người. Người Mỹ luôn luôn được các chính trị gia của mình cho biết rằng điều duy nhất mà chúng ta phải học từ các hệ thống y tế của các nước khác là chúng ta cần phải biết ơn hệ thống y tế của chúng ta. Hầu hết người Mỹ không thèm để ý đến thực tế là một phần ba các trường công lập của chúng ta hoàn toàn không hữu hiệu (bởi vì con em của họ đi học ở các trường của hai phần ba còn lại). Hệ thống luật pháp Hoa Kỳ hiện luôn được xem là một phí tổn quá lớn cho việc làm ăn, nhưng chưa một ai dám đề xuất bất cứ thay đổi nào về hệ thống này. Tiền giảm nợ nhà cho việc ăn ở của chúng ta tốn kém đến một chi phí choáng người là 800 tỉ một năm và chúng ta được bảo cho biết rằng số tiền ấy là quan trọng cần thiết để hỗ trợ cho những người chủ nhà. Ngoại trừ sự việc Margaret Thatcher từng xóa bỏ món nợ đó ở Anh Quốc, do đó đất nước này có được tỉ lệ người chủ nhà ngang với Hoa Kỳ. Tin rằng mình là "số một", chúng ta ít khi nào chịu nhìn quanh và lưu ý đến các lựa chọn và thay đổi khác. Nhưng học hỏi nơi các nước còn lại không còn là vấn đề của đạo lý hay chính trị nữa. Càng ngày, sự việc này càng thuộc về khả năng cạnh tranh.

Hãy xem xét kỹ nghệ sản xuất xe hơi. Trong cả một thế kỷ sau 1984, hầu hết các xe hơi sản xuất ở Bắc Mỹ đều chế tạo từ Michigan. Từ năm 2004, Michigan đã bị thay thế bởi Ontario, Canada. Nguyên nhân đơn giản: chăm sóc y tế. Ở Mỹ, các nhà sản xuất xe hơi phải chi khoảng 6500 đô la cho mỗi công nhân cho các chi phí bảo hiểm và y tế. Nếu di chuyển cơ xưởng sang Ontario Canada, nơi có hệ thống bảo hiểm sức khỏe do chính phủ đài thọ, chi phí chỉ còn chừng 800 đô la một công nhân. Vào năm 2006, General Motors đã chi 5.2 tỉ bạc cho hóa đơn y tế và bảo hiểm cho các công nhân hưu trí và hiện hành của mình. Con số đó làm tăng thêm 1.500 đô la vào giá mỗi chiếc xe GM bán ra. Đối với hãng Toyota, vốn có nhiều công nhân ngoại quốc và ít các công nhân Mỹ về hưu hơn, chi phí y tế, bảo hiểm ấy chỉ là 186 đô la cho mỗi chiếc xe. Đây không phải là một quảng cáo cho hệ thống bảo hiểm y tế của Canada, nhưng thực đã làm rõ cho thấy rằng các chi phí của hệ thống y tế Hoa Kỳ đã gia tăng đến một mức độ khiến gây ra sự bất lợi đáng kể về cạnh tranh trong việc thuê mướn công nhân Hoa Kỳ. Các công ăn việc làm sẽ không đi đến các nước như Mexico mà đi đến những nơi có thể tìm được các công nhân có giáo dục và được huấn luyện tốt: đấy là những mối lợi khôn ngoan mà những người chủ tìm đến chứ không phải sự trả lương rẻ. Trói buộc chăm sóc y tế vào việc thuê mướn công nhân có những hậu quả tiêu cực khác. Không như các công nhân khác nơi các nước kỹ nghệ hóa, công nhân Mỹ sẽ bị mất bảo hiểm y tế nếu họ mất việc làm, khiến họ lo lắng hơn là việc cạnh tranh với nước ngoài, thương mại và toàn cầu hóa. Khảo sát của PEW cho thấy các thành phần này ở Mỹ lo sợ nhiều hơn là các công nhân ở Đức, Pháp, có lẽ vì nguyên nhân này.

Trong nhiều thập niên, các công nhân Mỹ, dù ở trong các công ty ô tô, xưởng thép, hay ngân hàng, đã có được những lợi thế hết sức lớn so với các công nhân khác: đặc quyền tiếp cận được đến vốn tư bản của Hoa Kỳ. Họ có thể sử dụng nguồn vốn đó để mua công nghệ và huấn luyện mà không một ai có được - do đó đã sản xuất ra các loại sản phẩm mà không một ai có thể làm được ở những cái giá hết sức cạnh tranh. Lối tiếp cận đặc biệt đó hiện đã không còn. Cả thế giới bơi lội trong bể vốn, và đột nhiên người công nhân Mỹ phải tự hỏi chính mình, họ có thể là gì hơn được những người khác? Đấy không phải chỉ là tình trạng tiến thoái lưỡng nan cho các công nhân mà còn cho các công ty nữa. Điều quan trọng hiện nay không phải là các công ty sẽ so sánh ra sao với quá khứ của chính mình (ta có làm tốt hơn trước đây hay không?) mà là làm sao có thể so sánh được ngay trong hiện tại với các nơi nào khác (ta đang làm được gì so với những người khác?). Sự so sánh không còn đi theo chiều dọc mà đi theo chiều ngang của không gian.

Khi các công ty Mỹ đi ra nước ngoài, họ thường mang theo vốn và bí quyết (know-how). Nhưng hiện nay, khi đi ra nước ngoài, họ khám phá ra rằng những người bản xứ đã có tiền và bí quyết sẵn rồi. Ở đấy không còn là một loại Thế giới Thứ Ba nữa. Thế thì những công ty Mỹ sẽ mang gì đến Ấn Độ hay Brazil ? Lợi thế cạnh tranh của Mỹ là những gì ? Đó là một câu hỏi mà giới thương nhân Mỹ từng tưởng rằng mình không bao giờ có lời giải đáp. Câu giải đáp nằm trong những điều mà nhà kinh tế học Martin Wolf từng ghi nhận. Mô tả thế giới thay đổi, ông đã viết rằng các nhà kinh tế thường thảo luận về hai khái niệm căn bản, vốn tư bản và lao động. Nhưng những thứ này hiện nay là hàng hóa, rộng rãi sẵn có cho tất cả mọi người. Những gì tạo nên khác biệt cho các nền kinh tế hiện nay là năng lượng và sáng kiến. Một đất nước phải là cội nguồn của các sáng kiến hay năng lượng (như dầu hoả, than đá, khí đốt v.v...). Hoa Kỳ từng là và có thể là cội nguồn liên tục và quan trọng của cả thế giới về các ý tưởng mới, lớn nhỏ, kỹ thuật, sáng tạo về kinh tế và chính trị. Nhưng để làm được như thế, Hoa Kỳ cần phải thực hiện những thay đổi rõ rệt.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét