Chủ Nhật, 2 tháng 1, 2011

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn


Sức Mạnh Hoa Kỳ

Kỳ 5


Vũ khí Bí mật của Hoa Kỳ

Các lợi thế của Hoa Kỳ có thể nhìn thấy rõ ràng khi so sánh với Á Châu, vốn là một lục địa với đa phần là những quốc gia đang phát triển. Với Âu Châu, sự chênh lệch mỏng nhẹ hơn là nhiều người Mỹ từng biết. Khu vực Âu châu đã từng phát triển nhanh chóng ở mức độ ấn tượng, vào khoảng tốc độ tính theo đầu người gần tương đương với Hoa Kỳ từ năm 2000. Khu vực này có được một nửa số lượng các đầu tư nước ngoài, tự hào về năng lực sản xuất của mình mạnh mẽ như nền sản xuất của Hoa Kỳ và đã tạo được 30 tỉ thặng dư thương mại từ tháng Giêng đến tháng Mười vào năm 2007. Trong chỉ số Cạnh tranh WEF, các nước Âu châu chiếm bảy trong mười hàng đầu. Châu Âu có các khó khăn của họ - tỉ lệ thất nghiệp cao, thị trường lao động cứng nhắc - nhưng cũng có các lợi thế, bao gồm hệ thống y tế và hưu bổng linh động, hiệu quả về tài chính. Quan trọng hơn cả, Âu châu đại diện cho sự thử thách ngắn hạn đáng kể với Hoa Kỳ trong khu vực kinh tế.


Nhưng Âu châu có một bất lợi quan trọng. Hay, nói cho đúng hơn, Hoa Kỳ có một lợi thế quan yếu trên Âu châu và hầu hết các quốc gia phát triển. Hoa Kỳ là một sức mạnh có tính nhân khẩu học. Nicholas Eberstadt, một học giả tại American Enterprise Institute, ước định rằng dân số Hoa Kỳ sẽ tăng hơn 65 triệu vào năm 2030, trong khi Âu châu vẫn "gần như đình trệ". Âu châu, Eberstadt ghi nhận, "vào khi ấy sẽ có hơn gấp đôi các công dân cao niên hơn 65 tuổi so với trẻ em dưới 15 tuổi, nghĩa là những chỉ hướng mạnh mẽ về một tương lai già cỗi. (Ít trẻ em trong hiện tại có nghĩa là ít người làm việc về sau này). Ngược lại, ở Hoa Kỳ, lượng trẻ con sẽ tiếp tục át đảo số người cao tuổi. Bộ phận dân số của Liên Hiệp Quốc ước tính rằng tỉ lệ giữa người trong độ tuổi đi làm và các công dân cao niên sẽ giảm từ 3:8:1 trong hiện tại xuống 2:4:1 vào năm 2030. Ở Hoa Kỳ, con số này sẽ giảm từ 5:4:1 xuống còn 3:1:1. Một số khó khăn về nhân khẩu này có thể sẽ được cải thiện nếu giới cao niên ở Âu châu chọn giải pháp làm việc nhiều hơn, nhưng cho đến nay thì không và các chiều hướng cho thấy khó thay đổi ngược lại" . Phương cách duy nhất để đảo ngược sự xuống dốc về nhân khẩu này là Âu châu phải thu nhận nhiều di dân hơn. Người Âu châu bản xứ thực đã ngưng không còn sinh sản để thay thế chính mình nữa từ năm 2007, do đó ngay cả việc muốn duy trì dân số hiện hữu cũng đã phải cần đến một lượng di dân có mức độ. Muốn tăng trưởng lại phải cần nhiều hơn nữa. Nhưng các xã hội châu Âu dường như không có khả năng tiếp nhận và đồng hóa được con người từ các văn hóa xa lạ và không quen thuộc, đặc biệt là từ những khu vực nông thôn và lạc hậu trong các nước Hồi Giáo. Vấn đề bên nào có lỗi ở đây - xã hội hay người di dân - là không thích hợp. Thực tại chính trị là Âu châu đang đi đến việc tiếp nhận di dân ít đi vào thời điểm mà tương lai kinh tế của họ dựa vào khả năng tiếp nhận nhiều hơn. Trong khi đó, Mỹ đang tạo nên một quốc gia toàn cầu đầu tiên, hình thành từ tất cả các màu da, chủng tộc và nguồn gốc, cùng sống làm việc trong một sự hài hòa đáng kể.

Ngạc nhiên thay, nhiều quốc gia Châu Á - trừ Ấn độ - lại đang ở trong tình huống nhân khẩu còn tệ hơn cả Âu Châu. Tỉ lệ sinh sản ở Nhật, Đài Loan, Triều Tiên, Hongkong và Trung Quốc đang ở mức rất thấp so với tỉ lệ thay thế của 2.1 lần sinh sản cho phụ nữ, và các ước tính cho thấy rằng các nước Á Châu sẽ đối diện với một suy giảm có tầm cỡ trong dân số lao động vào nửa thế kỷ sắp tới. Dân số tuổi lao động ở Nhật đã suy giảm; vào năm 2010 Nhật sẽ có ba triệu người làm việc ít hơn so với năm 2005. Dân số lao động ở Trung Quốc và Triều Tiên cũng suy giảm trong vòng thập niên tới. Goldman Sachs tiên đoán rằng tuổi trung bình của Trung Quốc sẽ gia tăng từ ba mươi ba tuổi trong năm 2005 lên đến bốn mươi lăm tuổi vào năm 2050, một con số già cỗi đáng kể của dân số. Vào năm 2030, Trung Quốc có thể có số người già trên sáu mươi hơn số trẻ em dưới mười lăm tuổi. Và các quốc gia ở Á Châu cũng có nhiều vấn nạn về di dân như các quốc gia Âu châu. Nhật bản đối diện với sự thiếu hụt lớn về tiềm năng người làm việc bởi vì đất nước này đã không nhập đủ số di dân lại còn không cho phép phụ nữ được tham gia đầy đủ trong lực lượng lao động.

Ảnh hưởng của nạn dân số già cỗi rất đáng lo ngại. Trước tiên, là gánh nặng về tiền hưu trí - ít người làm việc nhưng lại phải hỗ trợ nhiều người cao tuổi hơn. Thứ nhì là, như nhà kinh tế học Benjhamin Jones đã cho thấy, hầu hết các nhà sáng chế phát minh - và đa số đông đảo những người đoạt giải thưởng Nobel - thực hiện hầu hết các công trình của mình trong khoảng tuổi từ ba mươi đến bốn mươi bốn. Nói một cách khác, một dân số lao động ít hơn, có nghĩa là ít các tiến bộ về khoa học, công nghệ và quản trị hơn. Thứ ba, khi hạn tuổi lao động đi từ những người cần kiệm đến những người tiêu tiền, sẽ tạo những phân rẽ khốc liệt đến mức độ tiết kiệm và đầu tư của cả nước. Đối với những thành phần làm việc ở các nước kỹ nghệ tiền tiến - vốn đã ổn định hơn, thoả mãn hơn và không có thiên hướng phải làm việc nhiều - thì nạn yếu kém về nhân khẩu quả là một căn bệnh giết người.

Người bản địa, dân số da trắng Mỹ có tỉ lệ sinh sản thấp như những người da trắng bản xứ ở Âu Châu. Nếu không có di dân, mức tăng trưởng GDP của Mỹ trong một phần tư thế kỷ vừa qua chắc cũng tương tự như Âu Châu. Sự sắc bén của Mỹ trong sáng kiến áp dụng cái mới đa phần là một sản phẩm của di dân. Sinh viên ngoại quốc và di dân chiếm đến 50 phần trăm số lượng người làm công tác khảo cứu trong nước và, trong năm 2006, họ đã đạt được 40 phần trăm các văn bàng tiến sĩ trong ngành khoa học, kỹ thuật và 65 phần trăm trong ngành khoa học máy tính. Vào năm 2010, các học sinh ngoại quốc sẽ đạt được hơn 50 phần trăm của tất cả các bằng tiến sĩ trong mọi ngành học ở Hoa Kỳ. Trong ngành khoa học, con số ấy sẽ gần đến 75 phần trăm. Hơn một nửa các khởi động ở khu Silicon Valley có một người là di dân hoặc thế hệ người Mỹ thứ nhất. Sức bùng nổ đầy tiềm năng mới của Mỹ, sự sắc bén của họ trong công nghệ nano, sinh học, năng lực sáng tạo tương lai - tất cả đều nương tựa vào các chính sách di dân. Nếu nước Mỹ có thể giữ được những con người mình đào tạo ở lại trong nước, cái mới sẽ xuất hiện ở đấy. Nếu những người này rời đi, trở về nước, cái mới sẽ đi theo họ.

Di dân cũng mang lại cho nước Mỹ một phẩm chất hiếm của một đất nước giàu có: háo hức và đầy năng lực. Khi đất nước này trở nên thịnh vượng, xung lượng này đi tới và thay thế những nhược điểm. Nhưng Mỹ đã tìm được một phương cách để giữ mình luôn có sức sống từ dòng chảy của những con người đi tìm một đời sống mới trong một thế giới mới. Đấy là những con người làm việc miệt mài nhiều giờ, hái trái cây dưới sức nóng thiêu đốt, rửa chén, xây nhà, làm ca đêm lau chùi dọn rác. Họ đến Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ trong những điều kiện khủng khiếp, rời bỏ gia đình, cộng đồng, chỉ vì muốn làm việc và đi về phía trước. Nước Mỹ đã từng lo lắng rất nhiều về những người di dân này - dù họ đến từ Ái Nhĩ Lan hay Ý, Trung Quốc hay Mễ. Nhưng những người di dân này đã trở nên xương sườn của thành phần làm việc ở Mỹ, con cái và cháu chắt của họ đã gia nhập vào dòng chính của Mỹ. Hoa Kỳ đã có khả năng khơi dòng được năng lượng này, quản trị được sự dị biệt, đồng hóa được những người mới đến và tiến về phiá trước một cách thuận lợi về kinh tế. Cuối cùng, đây chính là những gì đã tạo cho đất nước này khác với các kinh nghiệm ở Anh Quốc và tất cả các bài học lịch sử của các sức mạnh kinh tế vĩ đại đã từng trở nên béo phì và lường biếng rồi tụt lại phía sau khi họ phải đối diện với sự gia tăng của những đất nước đói kém, mất mùa hơn.


Bức Tranh Vĩ mô

Nhiều chuyên gia, học giả, ngay cả một số chính khách từng lo lắng về một tập hợp các con số thống kê đã báo trước điều xấu cho Hoa Kỳ. Mức tiết kiệm là con số không, mức thâm thủng hiện tại, thiếu hụt giao thương và thâm thủng ngân sách đều cao, lợi tức bình quân không tăng lên được, và các hứa hẹn giải quyết thì không chống đỡ nổi. Đây là những lo lắng có cơ sở và phải được giải quyết từ Washington. Nếu cơ chế kinh tế của Hoa Kỳ là sức mạnh chủ lực của mình thì cơ chế chính trị lại là nhược điểm cơ bản của họ. Nhưng các con số có thể chẳng cho chúng ta biết được tất cả những gì chúng ta cần biết. Các thống kê kinh tế mà chúng ta dựa vào chỉ cho chúng ta thấy những biện pháp không thích hợp, có tính tương đối của một nền kinh tế. Đa phần được hình thành trong cuối thế kỷ mười chín nhằm diễn tả một loại kinh tế kỹ nghệ với những hoạt động bị giới hạn vào các biên giới. Hiện nay chúng ta sống trong một thị trường toàn cầu liên hợp, với các cuộc cách mạng về các công cụ tài chính, công nghệ và giao thương. Có lẽ rằng chúng ta chưa đo lường đúng đắn được mọi thứ.

Chẳng hạn như, đã thường là một quy luật về kinh tế vĩ mô rằng trong một nền kinh tế kỹ nghệ tiến bộ có một thứ được gọi là Tỉ lệ thất nghiệp không Gây ra lạm phát (NAIRU- The nonaccelerating inflation rate of unemployment). Về căn bản, điều này có nghĩa là tỉ lệ thất nghiệp không thể rơi xuống thấp hơn một số mức độ, thường được giữ ở mức 6 phần trăm, mà không kéo theo nạn lạm phát gia tăng. Nhưng trong hai thập niên vừa qua, trong nhiều quốc gia Tây phương, đặc biệt là Hoa Kỳ, đã có tỉ lệ thất nghiệp xuống thấp hơn cả mức mà các kinh tế gia từng nghĩ đến. Hay là hãy nhìn vào mức thâm thủng hiện nay của Mỹ - trong năm 2007 đã đạt đến mức 800 tỉ, hay 7 phần trăm GDP - lẽ ra đã không thể chống đỡ được ở mức 4 phần trăm của GDP. Thâm thủng hiện nay đang ở mức nguy hiểm, nhưng chúng ta cũng nên nhớ rằng tính trọng đại của nó có thể được giải thích một phần từ thực tế là trên khắp thế giới có một sự thặng dư về vốn tiết kiệm và Hoa Kỳ vẫn còn giữ được sự ổn định khá khác thường và là một nơi có sức thu hút để đầu tư vào.

Richard Cooper của trường đại học Harvard còn lập luận rằng tỉ suất dành dụm của Mỹ đã bị tính toán sai, khiến đã vẽ nên một bức tranh không đúng về số nợ tín dụng khủng khiếp và các nợ nhà không kham nổi. Cooper lý luận, dù rằng nhiều hộ gia đình thực phải sống dưới mức trung bình nhưng bức tranh nhìn mạnh mẽ hơn ở tổng thể. Dành dụm tư nhân của Hoa Kỳ, bao gồm dành dụm từ các hộ gia đình (một tỉ số thấp “thường được trích dẫn” là vào khoảng 2 phần trăm thu nhập cá nhân) và dành dụm tập thể, đạt đến 15 phần trăm trong năm 2005. Nói một cách khách quan, sự suy giảm của dành dụm cá nhân đã giảm đi từ chính dành dụm tập thể. Quan trọng hơn nữa, toàn bộ khái niệm về “dành dụm quốc gia” có thể đã bị mất thời gian tính, không phản ánh được thực tế của các hình thức sản xuất mới. Trong một nền kinh tế mới, tăng trưởng đến từ “tập hợp nhưng con người tạo ra hàng hóa và sản phẩm mới, chứ không phải từ sự tích lũy vốn” vốn là quan trọng hơn trong đầu thế kỷ hai mươi. Tuy nhiên chúng ta vẫn tập chú vào việc đánh giá đồng vốn. Cooper viết rằng, hệ thống tài khoản quốc gia (national accounts) vốn bao gồm GDP và các đánh giá truyền thống về sự dành dụm quốc gia “được làm thành công thức ở Anh Quốc và Mỹ vào những năm 1930, vào cao điểm của thời đại kỹ nghệ”.

Các kinh tế gia xác định sự dành dụm là loại lợi tức, thay vì đi vào sự tiêu dùng lại được dùng để tạo nên sự chi xài khả thi cho tương lai. Phương cách đánh giá hiện tại tập chú vào vốn vật chất và nhà cửa. Cooper lý luận rằng loại đánh giá này là lạc hướng. Cách chi tiêu về giáo dục được coi như “sự tiêu thụ”, nhưng trong một nền kinh tế có nền tảng trên kiến thức, giáo dục có chức năng như sự tiết kiệm – chính sự dành dụm chi xài ngày hôm nay để tăng vốn nhân lực và nuôi dưỡng lợi tức và sức chi xài trong tương lai. Trong khi đó, các loại Nghiên cứu và Phát triển (R&D) tư nhân hoàn toàn không hề được tính vào tài khoản quốc gia, mà lại xem như một thứ chi phí thương mại trực tiếp – cho dù hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy rằng các công trình Nghiên Cứu và Phát Triển đều mang lại lãi ròng cao, cao hơn cả các đầu tư vào gạch ngói và bê tông, vốn đang được tính bằng các định giá hiện tại như của tiết kiệm. Do đó Cooper đã tính các loại hàng hóa lâu bền (consumer durables), giáo dục và các công trình Nghiên cứu/Phát Triển như của cải tiết kiệm (savings), khiến mang lại cho Hoa Kỳ một tỉ lệ tiết kiệm cao đáng kể. Lối đánh giá mới này trên quốc tế cũng sẽ nâng cao con số của các quốc gia khác, nhưng sự đóng góp về giáo dục, nghiên cứu/phát triển và các mặt hàng hóa xử dụng lâu bền vào tổng thể tiết kiệm "ở Hoa Kỳ là cao hơn nhiều so với hầu hết các nước khác, có lẽ chỉ trừ một số ít các nước ở Bắc Âu".

Với tất cả những phân chia này, Hoa Kỳ vẫn còn những vấn nạn nghiêm trọng. Nhiều khuynh hướng có liên quan đến bức tranh kinh tế vĩ mô là đáng lo ngại.

Bất chấp tỉ lệ dành dụm như thế nào, Hoa Kỳ đã rơi sụp nhanh từ hai thập niên qua. Bằng tất cả các tính toán, hệ thống chăm sóc sức khoẻ (medicare) đang đe dọa làm khánh tận ngân quỹ liên bang. Cú thay đổi từ thặng dư sang thâm thủng giữa năm 2000 và 2008 có những ám chỉ hết sức nghiêm trọng. Hơn thế nữa, thu nhập của hầu hết các gia đình chậm lại hoặc ngưng đọng. Bất bình đẳng gia tăng là đặc điểm quan trọng của thời đại mới, nung nấu bởi ba lực lượng - kiến thức kinh tế, công nghệ thông tin và nền toàn cầu hóa. Có lẽ điều đáng lo nhất là, Hoa Kỳ đang vay mượn đến 80 phần trăm từ thặng dư dành dụm của cả thế giới để sử dụng vào việc chi xài cho chính mình. Nói một cách khác, chúng ta đang bán tài sản của mình cho người ngoại quốc để mua thêm vài ly cà phê sữa mỗi ngày. Các khó khăn này đang tích lũy vào một thời điểm xấu, bởi vì, chính từ sức mạnh của mình, kinh tế Hoa Kỳ đang đối diện với những thử thách mạnh nhất của mình trong lịch sử.


_________________________

i. Những bài viết gần đây của Eberstadt cho thấy một bối cảnh rõ ràng về các khuynh hướng nhân khẩu trong các khu vực khác nhau cùng các tác động của chúng trên các nên kinh tế tương ứng. "Born in The USA" American

ii. Interest, May/June 2007; "Critical Cross-Cutting Issues Facing NorthEast Asia: Regional Demographic Trends and Prospects" Asia Policy (Jan 2007) và "Healthy Old Europe" Foreign Affair 86, no 3 (May/June 2007):55-68.


iii. Theo Richard N. Cooper "Living with Global Imbalances: A Contrarian View" Policy Briefs in International Economics (Institutue for International Economics, Nov. 2005)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét