Thứ Năm, 20 tháng 1, 2011

MỐI ƯU TƯ LỚN NHẤT CỦA NGƯỜI VIỆT NAM: HIỂM HỌA TRUNG QUỐC (tiếp theo và hết)

Hai Giáo sư Carl Thayer và Nguyễn Mạnh Hùng trả lời phỏng vấn trực tuyến với độc giả Người Việt Online.

(Tiếp theo và hết)

HỎI: Chúng tôi rất lo lắng về sự tồn vong của đất nước Việt Nam trước sự nhu nhược và độc tài của nhà cầm quyền CSVN và trước sự trấn áp, xâm lăng của Tàu Cộng. Xin quý giáo sư vui lòng cho biết ý kiến. (Đào Văn)

GS Carl Thayer trả lời:
Chính Cộng sản Việt Nam đã thành công trong việc chống lại xâm lược của Trung Quốc tại biên giới Việt Trung vào năm 1979. Câu hỏi của bạn tốt nhất nên đặt ở góc độ so sánh: các nước khác nằm ở biên giới Trung Quốc đang làm gì? Thái Lan từ chối đặt vấn đề Biển Đông vì sợ làm mất lòng Trung Quốc. Phi Luật Tân thì lúc nóng lúc lạnh, và không chịu hiện đại hóa quân sự của mình. Phi Luật Tân hy vọng sẽ được Hoa Kỳ hay Trung Quốc che chở để tưởng thưởng cho hành vi phục tòng của mình. Nhà cầm quyền Campuchia hiện nay nhận viện trợ lớn của Trung Quốc, trong khi vài thập niên trước đây Trung Quốc đã hỗ trợ Khmer Đỏ! Tôi đồng ý rằng chính quyền Việt Nam hiện nay là một chế độ độc tài, nhưng tôi sẽ không đồng ý là họ hèn nhát. Nếu Trung Quốc xâm lược Việt Nam ngày hôm nay, họ sẽ phải chịu các cuộc chiến tranh kéo dài tương tự như kẻ ngọai xâm của Việt Nam trước đó gặp phải. Và Việt Nam cuối cùng sẽ thắng thế. Nếu một kịch bản như thế xảy ra đảng cộng sản có thể sẽ được điểm tốt khi Việt Nam thắng trận.

HỎI: Ai cũng biết Trung Quốc giầu lên là nhờ Mỹ giúp. Khi giúp Trung Quốc như vậy, chắc hẳn Mỹ nghĩ rằng mình có thể kiểm soát được sức mạnh và tính tham lam của Trung Quốc. Nhưng liệu rồi đây, Mỹ có giữ được khả năng đó không, thưa SG Nguyễn Mạnh Hùng và GS Carl Thayer? (Vui Hoàng)

GS Nguyễn Mạnh Hùng trả lời:
TQ trở nên giàu có hầu hết nhờ chính sách của chính họ. Mỹ trao đổi mậu dịch với TQ vì quyền lợi của Mỹ chứ không phải vì quyền lợi của TQ.

GS Carl Thayer trả lời:
Theo tôi câu trả lời phức tạp hơn vậy nhiều. Đặng Tiểu Bình mở đầu chương trình cải tổ và hiện đại hóa TQ vào cuối thập niên 70. TQ đáng được điểm tốt nhờ mở rộng nền kinh tế của mình. Ngày nay TQ được thịnh vượng nhờ họ đã xây dựng một nền kinh tế dựa vào xuất cảng để tăng trưởng. Người tiêu dùng ở Hoa Kỳ đã tiếp tay cho sự tăng trưởng của TQ bằng sự vay mượn tín dụng và chi tiêu liên tục. TQ bỏ tiền ra mua trái phiếu của Mỹ, và nay trở thành chủ nợ của Hoa Kỳ. Nếu Mỹ có tham vọng chế ngự hoặc gây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của TQ, thiết nghĩ đó là việc làm không đúng chỗ. TQ tăng trưởng từ nhiều thập niên nay, và rõ ràng song song với sức mạnh kinh tế là tham vọng chính trị với sự hậu thuẩn mạnh mẽ của quân sự. Điều tốt nhất Hoa Kỳ có thể hy vọng là cùng TQ tìm một đường lối giải quyết các dị biệt và cùng hợp tác khi họ có chung những quyền lợi.

Hỏi: Giáo sư có nghĩ rằng VN hiện nay đang đứng giữa hai lằn đạn (Hoa Kỳ và Trung Quốc), liệu sách lược VN hôm nay trong thế chiến quốc sẽ như thế nào để giữ vững thế độc lập giữa hai đại cường? Thành thật cám ơn GS. (Nguyễn Thứ Điệp)

GS Nguyễn Mạnh Hùng trả lời:
Đúng vậy, Việt Nam đang đứng ở thế tiến thoái lưỡng nan. TQ là đe dọa cho chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của VN, trong khi theo quan điểm của các lãnh tụ cộng sản, Hoa Kỳ là mối đe dọa “diễn tiến hòa bình”. TQ là một mối đe dọa đối với chủ quyền VN, còn Mỹ được nhận thấy như là mối đe dọa đối với sự tồn vong của chế độ CS.

Về câu hỏi thứ hai, xin xem câu trả lời của tôi đáp lại câu hỏi của Ô. Phuc Do

Hỏi: Các ông không cần đa đảng nhưng dân VN cần thì sao? Xin giáo sư cho ý kiến. (Hùng)

GS Nguyễn Mạnh Hùng trả lời:
Hoa Kỳ hoan nghênh một hệ thống lưỡng đảng ở VN. Nếu điều này xảy ra, quan hệ Mỹ Việt sẽ thắt chặt hơn.

GS Carl Thayer trả lời:
Thuở lập quốc, tiền nhân của Hoa Kỳ không hề mưu tính đến một hệ thống lưỡng đảng mà nó tự tiến hóa một cách tự nhiên. Khía cạnh quan trọng của hệ thống Hoa Kỳ là người dân có thể loại bỏ đảng cầm quyền một cách ôn hòa bằng lá phiếu, và khi một đảng nắm quyền, hệ thống kiểm soát và cân bằng của Mỹ bắt đầu hoạt động. Quyền lực được phân phối đồng đều giữa các ngành Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp. Hoa Kỳ ngày nay sẽ không là Hợp Chủng Quốc nếu thiếu vắng hệ thống lưỡng đảng.

Chính trị đa nguyên rồi ra sẽ phát triển ở Việt Nam . Khi kinh tế phát triển, các phe nhóm khác nhau trong xã hội sẽ có những quyền lợi riêng. Điều khó là tiến trình chuyển tiếp từ một chế độ độc đảng sang đa đảng sẽ xảy ra như thế nào. Một đảng chống đối sẽ vươn lên từ một nền tảng vững chắc, hay Đảng CS VN có thể tự phát triển thành các cánh khác nhau, một tiến bộ và một bảo thủ. GS Samuel Huntington thuộc trường ĐH Harvard, trong cuốn sách nhan đề “The Third Wave,” đề ra ba mô hình dân chủ rộng rãi: (1) kẻ xuất sắc trong giới cầm quyền sẽ là người lãnh đạo; (2) phe chống đối nắm quyền lực; và (3) các phần tử xuất sắc kết hợp với phần tử chống đối mang lại sự thay đổi. Theo quan điểm của tôi, 1 và 3 thích hợp với VN hơn cả.

Hỏi: Liệu sự xụp đổ của chế độ cộng sản là có thể hay chế độ này sẽ còn cầm quyền lâu dài? Cám ơn Giáo sư, chúc Giáo sư năm mới sức khỏe dồi dào. (Chân Nguyễn)

GS Nguyễn Mạnh Hùng trả lời:
Điều ấy có thể xảy ra nhưng không ai có thể nói được khi nào điều ấy sẽ xảy ra. Điều chắc chắn là: chính trị Việt Nam phải thay đổi để thích nghi với thay đổi kinh tế lẫn xã hội, và điều này đang xảy ra. Tôi cũng xin gởi lời chúc mừng năm mới đến ông.

GS Carl Thayer trả lời:
CSVN sẽ sụp đổ khi chế độ mất tính cai trị chính đáng của nó. Có nhiều nguồn về tính chính đáng, đó là truyền thống, sự lãnh đạo lôi cuốn, tinh thần dân tộc, cai trị hợp lý, tạo được thành tích và được dân chúng yêu chuộng. Hiện tại chế độ căn cứ vào tính chính đáng của mình nơi thành tích mang lại nền kinh tế tốt đẹp. Mức tăng trưởng trung bình 7% trong suốt thập niên qua, đã mang lại cho Việt Nam “một sự thịnh vượng mới” giúp củng cố cho chế độ. Thất bại kinh tế có thể khơi mào cho một sự thay đổi chế độ. Nếu định chế chính quyền được dân yêu chuộng (dân chủ tiến bộ) lan đến đủ số người trong xã hội, điều này có thể dần dà dẫn đến sự thay đổi chế độ.

Câu hỏi đích thực không phải liệu VN vẫn còn theo chủ nghĩa CS nữa hay không (vì không còn ai hiểu điều này có nghĩa là gì nữa), mà liệu VN có tiếp tục chính sách cai trị chuyên chế và áp bức nữa hay không. Theo tôi hiểu, chế độ chính trị của VN sẽ dần dà thay đổi theo thời gian.

Hỏi: Việt Nam sẽ đi dây giữa Trung Cộng và Mỹ bao lâu? Chiến tranh Việt Trung có thể xảy ra trong vòng 10 năm nữa hay không và có thể tránh được không? Nếu xảy ra thì VN có thể thắng cuộc chiến đó không? (Dzung Vu)

GS Nguyễn Mạnh Hùng trả lời:
Càng lâu càng tốt. Theo tôi nghĩ, cuộc chiến tranh giữa VN với TQ khó thể xảy ra. Nhưng một cuộc đụng độ nhỏ thì có thể. Việt Nam không thể một mình chống đỡ thành công trong một cuộc chiến với TQ.

GS Carl Thayer trả lời:
Ngày nào Hoa Kỳ và TQ còn là quốc gia hùng mạnh nhất vùng Châu Á Thái Bình Dương, nếu không muốn nói là toàn cầu, và ngày nào họ còn là đối thủ của nhau, ngày đó VN còn tiếp tục “đi dây” giữa đôi bên. Việt Nam đang ở trong quan hệ hết sức thiếu đối xứng với TQ và không thể nào thay đổi được sự kiện địa dư. Đồng thời Mỹ là thị trường lớn nhất của VN. Mỹ là một trong những nhà đầu tư chính vào VN và vừa là nhà cung cấp kỹ thuật. Việt Nam không nghĩ đến chuyện liên kết với bên này để chống lại bên kia.

Một cuộc chiến tranh giữa VN và TQ trong 10 năm tới khó thể xảy ra. Xung đột quân sự nhỏ, đặc biệt ở Biển Đông, có thể xảy ra. Lấy cớ gì để tạo nên chiến tranh? Năm 1979 TQ đủ khôn để cho VN một “bài học” giới hạn chỉ trong một tháng. Nếu TQ tấn công và xâm lăng VN, họ sẽ đối đầu với một cuộc chiến tranh du kích mà họ khó lòng thắng được. Cái giá mà TQ phải trả là làm trì trệ đi sự phát triển kinh tế của mình. Việt Nam sẽ “thắng” cuộc xung đột ấy ở mức độ họ không bị đánh bại. Cái giá của cuộc chiến tranh VN thật kinh hoàng.

Xung đột có thể tránh được bằng đường lối ngoại giao và xây dựng sự tin cậy lẫn nhau. Hiện đang có một quan hệ vững chắc giữa hai nước. Một sự gia tăng hiện đại hóa quân đội của VN là một răn đe đối với TQ.

Hỏi: Nếu Việt Cộng chịu bảo vệ quyền lợi của Việt Nam chống Trung Quốc cũng như VNCH làm năm 1973, Hoa Kỳ có im lặng đứng xem như lần trước? Hay có phản ứng gì khác từ phía Hoa Kỳ? Tại sao khác phản ứng lần trước (1973)? (Nguyễn Nội)

GS Carl Thayer trả lời:
Trong thời gian hiện tại, cơ hội Hoa Kỳ can thiệp quân sự vào xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc rất thấp. Hoa Kỳ sẽ huy động cộng đồng quốc tế để tạo áp lực lên những bên tham chiến để chấm dứt chiến tranh. Nhưng điều đó phụ thuộc vào nguyên nhân của cuộc xung đột và ai là người gây chiến. Nếu Trung Quốc là kẻ gây hấn, Hoa Kỳ có thể cung cấp cho Việt Nam tình báo cần thiết, và Hải quân Mỹ có thể ngăn chặn các tàu Trung Quốc đi vào khu vực xung đột.

Hỏi: Khả năng thật của vũ khí hạt nhân Trung Quốc là gì? Thí dụ, có thể nào phá hủy hết các thành phố lớn của Nhật trong 24 giờ, …, vũ khí này có thể phá hủy tới bao nhiêu và bao xa? (Nguyễn Nội)

GS Carl Thayer trả lời:
Hiện Trung Quốc có khoảng 20 đầu đạn hạt nhân, hay nhiều hơn. Không có quốc gia nào trên thế giới hiện đại có thể tồn tại nếu hai mươi thành phố lớn nhất của nó bị vũ khí hạt nhân phá hủy. Nếu Trung Quốc sử dụng vũ khí hạt nhân để đánh Nhật Bản, nó có thể sẽ bị Hoa Kỳ trả đũa. Kịch bản này đặt trên giả sử là Trung Quốc ra tay đột ngột và không cảnh báo. Trên thực tế, sự suy thoái dần dà của quan hệ song phương sẽ là một cảnh báo cho Nhật Bản. Nhật Bản có khả năng phát triển vũ khí hạt nhân chỉ trong vòng vài tháng. Trong một cuộc chiến tranh hạt nhân, không có người chiến thắng.

Hỏi: Giả sử Nam Hàn có thể và đồng ý hợp nhất với Bắc Hàn về kinh tế, nếu Trung Quốc bán đứng Bắc Hàn (như Mỹ đã làm với Nam Việt Nam) và bảo đảm quyền tự do đi lại ở biển Nam Trung Hoa cho Hoa Kỳ, Nhật và Hàn Quốc, và đổi lại Hoa Kỳ sẽ để cho Trung Quốc toàn quyền điều khiển tài nguyên ở biển Nam Trung Hoa và Việt Nam, thì Hoa Kỳ có đồng ý đề nghị này không? (Nguyễn Nội)

GS Carl Thayer trả lời:
Trung Quốc sẽ ở vào một vị trí suy yếu đi nhiều nếu Hàn Quốc đã được thống nhất như một quốc gia đồng minh thân Mỹ. Trung Quốc không thể cấp quyền đi lại qua Biển Đông một cách miễn phí, vì nó không thể kiểm soát sự chuyển động của tầu hải quân Mỹ và hải quân của đồng minh. Tất cả các nguồn tài nguyên tại Biển Đông cũng không đáng đánh đổi cho một Hàn Quốc thống nhất thân Mỹ. Hoa Kỳ sẽ tiếp tục nhấn mạnh rằng vùng biển quốc tế là tài sản chung của toàn cầu mà mọi quốc gia phải được hưởng.

GS Nguyễn Mạnh Hùng trả lời:
Đây là câu hỏi có tính cách giả thuyết. Tôi không tin tương lai sẽ diễn tiến theo một cách đơn giản như vậy.

Hỏi:
1. Có tin đồn từ Wikileaks là Việt Nam xin Trung Quốc cho là một nước tự trị dưới sự chỉ đạo của Trung Quốc. Có thật không?
2. Nếu Trung Quốc tấn công Việt Nam, Mỹ có giúp?
3. ASEAN dường như không xứng nổi với Trung Quốc về quân sự, vậy ASEAN phải làm gì để đối phó với Trung Quốc trong trường hợp một nước ASEAN bị Trung Quốc tấn công? (Jon Lương)

GS Carl Thayer trả lời:
Tôi chưa được nghe tin đồn này. Tôi sẽ cần phải xem chi tiết và thời điểm mà tin đồn này nói tới. Tổng thống Roosevelt đã đề nghị với ông Tưởng Giới Thạch là cho ông quyền kiểm soát đối với Việt Nam, và ông ta đã từ chối một cách khôn ngoan.

Đối với phần 2 của câu hỏi, câu trả lời còn tùy vào nguyên nhân gây ra chiến sự và ai là người đã có lỗi. Nếu Trung Quốc là kẻ xâm lược Mỹ sẽ huy động cộng đồng quốc tế để áp dụng hình thức xử phạt thích hợp và làm áp lực chấm dứt chiến sự cũng như tìm cách đưa đến một thỏa thuận. Mỹ có thể cung cấp thông tin tình báo kịp thời hoặc thậm chí thiết bị quân sự cho Việt Nam. Mỹ có thể cũng huy động tàu của mình để ngăn chặn các tàu Trung Quốc đi vào khu vực chiến tranh. Mỹ sẽ kỳ vọng Việt Nam phải tự vệ trước.

Việt Nam không phải một đồng minh có hiệp ước của Mỹ và do đó không có quyền kêu gọi hỗ trợ của quân đội Mỹ.

Đối với phần 3: ASEAN yếu về mặt quân sự bởi vì nó không có một lãnh đạo chung. Nếu các thành viên chủ chốt, đang là đồng minh Hoa Kỳ hay đối tác chiến lược của ASEAN bị Trung Quốc tấn công, Hoa Kỳ sẽ can thiệp quân sự với liên minh của các khu vực quy định. Nếu ASEAN bị tấn công gần như cả thế giới sẽ áp dụng các biện pháp phong tỏa để trừng phạt Trung Quốc. Giao thương sẽ bị phá vỡ. Trung Quốc sẽ phải trả giá khủng khiếp và mất đi nhiều thành quả phát triển của nhiều thập niên. Hành động như thế sẽ mang được lợi gì cho Trung Quốc? Hiện giờ nhiều nướcc ASEAN đã đang thân với Trung Quốc.

GS Nguyễn Mạnh Hùng trả lời:
1.Tôi không thấy có bằng chứng nào chứng tỏ lời đồn đại đó là sự thật.
2. Xin xem câu trả lời của tôi cho câu hỏi của ông Nguyễn Giao
3. Trong trường hợp hiện nay thì ASEAN không làm được gì nhiều.

Hỏi: Biết rằng cũng 4 khuôn mặt cũ sẽ đến từ Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam sắp chấm dứt, có hy vọng nào cho tương lai? Tôi không có hy vọng nào cả và sẽ phải quên đi lời phân tích và tiên đoán năm 2005 của Goldman Sach là Việt Nam sẽ là một trong số 11 kế tiếp. (Larry Dinh)

GS Carl Thayer trả lời:
Thật ra Việt Nam đã thực hiện một quá trình thay đổi theo từng thế hệ kể từ đại hội đảng thứ Năm vào tháng Ba năm 1982. Giờ thì việc một phần ba hay nhiều hơn thành viên của các Ủy ban Trung Ương về nghỉ hưu, và số người về hưu của Bộ Chính Trị còn nhiều hơn đã trở thành thông lệ. Các nhà lãnh đạo chỉ được tại chức tối đa hai nhiệm kỳ và phải - với một ngoại lệ nhỏ - nghỉ hưu ở tuổi 65. Tôi năm nay đã 65 tuổi, nhưng vẫn thấy mình còn nhiều sức để phụng sự. Những 'gương mặt cũ', gọi theo cách của bạn, đã mở cửa đưa Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu, và tạo một tỷ lệ tăng trưởng sản xuất trung bình khoảng 7% một năm trong thập niên qua. Trong khi 5 người đương nhiệm trong Bộ Chính trị sẽ đảm nhiệm những chức vụ cao nhất của nhà nước và đảng, 5 hoặc 6 người mới sẽ gia nhập Bộ Chính trị. Việt Nam có tiềm năng để trở thành một quyền lực quan trọng bậc vừa. Trong cuộc hội thảo mỗi 4 năm, bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đã đưa ra tín hiệu là Việt Nam, Indonesia và Malaysia là những đối tác chiến lược có tiềm năng.

Hỏi: Tại sao CSVN không nhân cơ hội Mỹ đã có ý định trở lại Asia, để cân bằng ảnh hưởng đối với TQ? Ngược lại CSVN vẫn bám víu TQ, cho dù có nguy cơ mất biển đảo? (Triet Pham)

GS Nguyễn Mạnh Hùng trả lời:
Việt Nam đã làm như vậy rồi.

GS Carl Thayer trả lời:
Việt Nam, là chủ tịch ASEAN trong năm 2010, đã làm hết sức mình để khuyến khích Mỹ can dự lại vào Đông Nam Á. Qua đàm phán song phương, Việt Nam cũng tìm cách khuyến khích Hoa Kỳ đóng một vai trò quyết đoán hơn. Vì vậy, tôi không đồng ý với tiền đề câu hỏi của bạn.

Việt Nam phải tiếp tục để tương tác với Trung Quốc vì họ là láng giềng. Họ giao thương với nhau. Điều này không chỉ là vấn đề song phương mà còn là vấn đề đa phương, vì Việt Nam là một thành viên của ASEAN và ASEAN có một thỏa thuận thương mại tự do với Trung Quốc. Miền Nam Trung Quốc và lục địa Đông Nam Á đang được tích hợp thông qua những phát triển hạ tầng cơ sở, trong một tiểu dự án của chương trình vùng Mê Kông. Mối quan hệ song phương bình thường của Việt Nam với Trung Quốc không nên bị nhầm lẫn với việc 'nghiêng về phía Trung Quốc.' Cảm tính của quần chúng Việt Nam tại thời điểm này là rất chống Trung Quốc vì những tranh chấp Biển Đông. Việc Trung Quốc tham gia vào việc khai thác bauxite gây nhiều tranh cãi. Nhưng Việt Nam phải đối mặt với tình trạng tiến thối lưỡng nan, làm thế nào cần khắc phục thâm hụt thương mại lên tới 11 tỷ đô la với Trung Quốc? Việt Nam nên khuyến khích đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam. Những thực tại về kinh tế này không khiến Việt Nam nghiêng về Trung Quốc nhiều hơn Hoa Kỳ, một quốc gia cũng thiếu nợ nặng củaTrung Quốc.

Tôi đoán là bằng từ “lãnh hải” bạn muốn nói đến vùng Biển Đông chứ không phải ý nghĩa luật pháp của vùng lãnh hải. Về mặt pháp lý “lãnh hải” liên quan đến một đoạn 12 hải lý kéo từ đường cơ sở thẳng (mực nước thấp) của bờ biển của một quốc gia. Tất cả các quốc gia vùng duyên hải có chủ quyền trên vùng lãnh hải.

Việt Nam chiếm đựơc nhiều mỏm đá (features) trong vùng biển Đông hơn Trung Quốc. Trừ khi Trung Quốc dùng biện pháp quân sự, Việt Nam sẽ tiếp tục chiếm giữ các mỏm đá này. Điều đáng kể là vùng Biển Đông về phía bắc của mười hai vĩ độ Bắc. Đường kẻ này chạy trên các quần đảo Trường Sa và vượt vào miền Trung Việt Nam trên vịnh Cam Ranh. Mỗi năm, từ tháng Năm đến tháng Tám, Trung Quốc áp đặt một lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương. Ngư dân Việt Nam bị đuổi bắt, một số thuyền của ngư dân Việt bị đâm thủng, nhiều ngư nhân bị cướp mất cá, dụng cụ, và còn bị giam giữ. Vì Trung Quốc đang có mặt tại quần đảo Hoàng Sa, nó có dựa vào luật pháp quốc tế và có điều kiện để kiểm sóat vùng này của biển Đông. Hiện giờ Trung Quốc ở thế mạnh hơn và có thể áp đặt ý của mình.

Cách tiếp cận của Việt Nam được nằm gọn trong hai biểu thức được Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua vào năm 2003: “Đối Tác và Đối Tượng”. Điều này có nghĩa là Việt Nam vừa phải hợp tác vừa phải đấu tranh với Trung Quốc cùng một lúc.

Hỏi: Sự lớn mạnh và tham vọng của TQ đã rất rõ ràng. Nó đặt Việt Nam vào một vị thế vừa quan trọng vừa nguy hiểm. Như vậy thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ có thật sự quan tâm đến biển Đông và khu vực Đông Nam Á hay không, trong khi các nước lớn luôn tìm cách có những thỏa hiệp riêng. (Tan Nguyen)

GS Carl Thayer trả lời:
Ngoại trưởng Clinton đã khẳng định rõ ràng rằng Biển Đông là một lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ. Đó là một đường thủy quan trọng đối với thương mại toàn cầu. Nhiều quốc gia chủ chốt - Nhật Bản, Hàn Quốc và chính Trung Quốc tùy thuộc vào Biển Đông cho thương mại, và cả các nguồn năng lượng từ vùng Vịnh Ba Tư. Đông Nam Á, được đại diện bởi ASEAN, là đối tác thương mại lớn thứ năm của Mỹ. Eo biển Malacca là rất quan trọng với Mỹ trong việc huy động hải quân từ Thái Bình Dương đến Ấn Độ Dương và Vịnh Ba Tư. Câu trả lời là 'Có', Mỹ rất quan tâm và đã xác định rõ là không một quốc gia nào được phép chiếm lĩnh biển Đông và từ chối không cho các nước khác sử dụng đường biển này.

Hỏi: Hai ông có nghĩ rằng sẽ có những 'đi đêm, mà cả' về những đặc quyền, đặc lợi của 2 nước lớn (HK và TQ) về vấn đề Biển Đông mà họ sẽ tương nhượng nhau để cùng hưởng trong khi những nước nhỏ như VN... sẽ chỉ là những con chốt thí? ( Daniel Ng)

GS Nguyễn Mạnh Hùng trả lời:
Mật đàm là một phần của bang giao quốc tế. Nước nhỏ hay hay nước đang phát triển có thể bị sử dụng như một con cờ trong cuộc nói chuyện giữa các siêu cường. Tuy vậy nước nhỏ không phải vì thế mà lâm vào tình cảnh tuyệt vọng. Đài Loan và Nam Hàn là hai ví dụ cụ thể.

GS Carl Thayer trả lời:
Tính đến ít nhất trong năm 2010, đã có nhiều cuộc mật đàm giữa TQ với VN. Họ chưa giải quyết được những vấn đề trọng đại. Mỹ đứng ngoài cuộc tranh chấp lãnh hải ở Biển Đông, không ủng hộ một ai, VN hoặc TQ. Hoa Kỳ bác bỏ lời tuyên bố chủ quyền của TQ là không phù hợp với quốc tế công pháp. Quan tâm cốt lõi của Hoa Kỳ là giữ cho hải đạo qua Biển Đông được thông thương và an toàn cho hàng hải quốc tế. TQ và Hoa Kỳ khác biệt quan điểm về hoạt động nào có thể thực hiện được trên Vùng Kinh Tế Đặc Biệt. Hoa Kỳ cũng chống lại việc dùng vũ lực để giải quyết tranh chấp lãnh thổ. Hoa Kỳ cũng không muốn nhìn thấy TQ xâm chiếm tất cả các đảo trên Biển Đông, để rồi tuyên bố quyền tài phán của mình trên toàn khu vực. Nhưng Hoa Kỳ có thể ngầm để cho TQ dần dà hất cẳng VN ra khỏi từng hòn đảo mà VN đang chiếm giữ. Đây là tiến trình về lâu về dài chứ không xảy ra trong một sớm một chiều.

Hỏi: Thưa GS Nguyễn Mạnh Hùng, Ông có nghĩ rằng Mỹ sẽ đánh đổi sự hỗ trợ Chính phủ CS Việt nam như họ đã và đang hứa công khai hoặc bí mật về vấn đề Biển Đông một khi mà Mỹ nhận được những cam kết và hứa hẹn về những đặc quyền, đặc lợi mà Trung Quốc sẽ dành cho Mỹ liên quan đến vấn đề Biển Đông? (Daniel Nguyen)

GS Nguyễn Mạnh Hùng trả lời:
Cái đó còn tùy TQ và VN mang lại cho Mỹ được những gì. Điều chắc chắn là Hoa Kỳ không muốn nhìn thấy Biển Đông trở thành một cái ao của TQ.

Kỳ I   II

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét